18 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH VIỆN TRIẾT HỌC TIÊU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VẤN ĐỀ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY Họ và tên học viên Mã số học viên MP Lớp cao học ngành Khoa học K27 (2020 – 2022) Địa điểm học Học viện Chính trị Khu vực II HÀ NỘI 2022 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 2 1 1 Khái lược vấn đề con người trong lịch sử triết học trước Mác 2 1 2 Vấn đề con người trong t.
Trang 1TIÊU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN
QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
VỀ CON NGƯỜI VẤN ĐỀ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI VIỆT NAM
Trang 2MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI 2
1.1 Khái lược vấn đề con người trong lịch sử triết học trước Mác 2
1.2 Vấn đề con người trong triết học Mác………… 51.3 Ý nghĩa lịch sử của vấn đề con người trong triết họcMác………… 13
CHƯƠNG 2: VẤN ĐỀ KHƠI DẬY KHÁT VỌNG CON NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY …152.1 Quan điểm của Đảng về phát huy nhân tố con người trong phát triểnđất
nước……….152.2 Khơi dậy khát vọng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay theotinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII …17
KẾT LUẬN …20
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …21
Trang 3MỞ ĐẦU
Vấn đề con người là một trong những vấn đề trung tâm của triết học
Nó được tất cả các trường phải, trào lưu và các nhà triết học quan tâm và luậngiải ở nhiều góc độ khác nhau trong lịch sử phát triển của triết học, nhưngkhông phải nhà triết học nào cũng giải quyết đúng đắn, toàn diện vấn đề này.Thực tế, họ bị chi phối bởi lập trường thế giới quan, địa vị xã hội và lợi íchgiai cấp khác nhau nên góc độ tiếp cận và cách giải quyết vấn đề theo ýmuốn chủ quan và mục đích của họ
Cho đến những năm 40 của thế kỷ XIX cùng với việc thực hiện bướcngoặt cách mạng trong triết học, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt nền móng choviệc giải quyết khoa học và triệt để vấn đề con người và giải phóng conngười Cũng từ đó, vấn đề này được những người Mác xít hậu thế đã bảo vệ,hoàn thiện và phát triển trong thực tiễn đấu tranh cách mạng và đấu tranh củakhoa học hiện đại
Những quan điểm về con người của C.Mác ngày càng khẳng định tínhđúng đắn của mình cùng với sự phát triển của thực tiễn và khoa học Đây là
cở sở khoa học để chúng ta hiểu toàn diện, đầy đủ và đúng đắn về con người,
về bản thân và vai trò, vị trí của con người trong thế giới đặc biệt là nhân tốcon người trong sự phát triển của mỗi quốc gia Đại hội lần thứ XIII của ĐảngCộng sản Việt Nam xác định: "Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồnvinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnhcon người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [13, tr.54]
Với ý nghĩa đó, việc quan tâm, tìm hiểu nghiên cứu làm rõ hơn những nộidung, ý nghĩa lịch sử của những quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin khi luậngiải những vấn đề nguồn gốc, bản chất con người, phương thức giải phóng conngười và xã hội loài người cũng như phát huy nhân tố con người, khơi dậy khátvọng con người Việt Nam hiện nay là một nhu cầu đáng được quan tâm Tiểu luậnnày được thực hiện cũng không ngoài mục đích đó
Trang 4Chương 1 QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI
1.1 Khái lược vấn đề con người trong lịch sử triết học trước Mác
Ngay từ khi triết học ra đời cho đến nay, con người luôn được coi làmột trong những vấn đề trung tâm của triết học Tuy nhiên, tư những góc độtiếp cận và lập trường khác nhau nên cách giải quyết vấn đề con người trongnhững học thuyết triết học khác nhau có điểm khác nhau thậm trí đối lậpnhau
Trong triết học Phương Đông: Vấn đề quan trọng hàng đầu trong các
quan niệm của triết học phương Đông về con người là vấn đề nguồn gốc, bảnchất con người và con đường giải pháp giải phóng con người
Trong triết học Ấn Độ, ngay từ thời cổ đại vấn đề con người đã đượccác nhà triết học bàn đến một cách sôi nổi, rộng rãi Kinh Upanishad chorằng: cả thể xác và linh hồn của con người đều là hiện thân của đấm tối caoBrahman Còn Phật giáo lại cho rằng: Bản chất của thế giới là “chân không”,
từ đầy sinh ra vạn vật và con người Thế giới là “Vô thường”, con người là
“vô ngã”, và cuộc đời là “bể khổ”, muốn giải thoát khỏi “bể khổ” trần gianphải tu theo “bát chính đạo” mới có thể nhập Niết bàn sống cuộc sống vĩnhhằng sau khi chết
Trong triết học Trung Quốc, giải quyết vấn đề con người tồn tại nhiềuquan điểm khác nhau, thậm chí ngay trong cùng một trường phái triết học.Trong quan điểm của Nho Giáo, Khổng tử (551- 479 Tcn) và Mạnh tử ( 372– 289 Tcn) cho rằng bản tính tiên thiên vốn có của con người là Thiện, nhưng
do hoàn cảnh tác động nên con người thay đổi, trở lên ác Vì vậy, muốn lấylại bản tính ban đầu con người phải được giáo hoá Thông qua giáo dục Nhân,
Lễ, Nghĩa, thực hiện Chính danh, định phận con người có thể lấy lại đượcbản tính thiện của mình Ngược lại, Tuân tử (315 - 230 Tcn) là nhà nho cóquan điểm duy vật, vô thần lại cho rằng bản chất con người là ác Nhưng theo
Trang 5ông, số mệnh và bản tính của con người, không ai quyết định được mà họ tựquyết định, tự ý thức được Do vậy, con người có thể trở thành thiện, tốt đượcbằng con đường giáo dục
Như vậy, ngay từ thời cổ đại, triết học phương Đông đã quan tâmnghiên cứu vấn đề nguồn gốc, bản chất con người Nhưng con người hiệndiện chủ yếu dưới góc độ: con người đạo đức, con người chính trị; còn nhữngphẩm chất khác của con người như tri thức khoa học còn ít đựơc đề cập đến
Trong triết học phương Tây:Vấn đề nguồn gốc, bản chất con người
được các triết gia phương Tây coi là một trong những vấn đề trung tâm củatriết học Họ quan tâm và giải quyết những khía cạnh khác nhau liên quan đếncon người và xã hội loài người
Ở triết học Hy Lạp cổ đại đã bộc lộ rõ cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩaduy vật vô thần và chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo khi giải quyết những vấn đềliên quan đến con người Trên lập trường duy tâm nhà triết học Platôn chorằng, tất cả đều bắt đầu từ “thế giới ý niệm”, từ những vật thể cảm tính kể cảcon người đều là cái bóng của “thế giới ý niệm” Sau khi thể xác chết đi, linhhồn bẩt trở về “thế giới ý niệm” Trong khi đó các nhà triết học duy vật cốgắng giải thích nguồn gốc con người từ giới tự nhiên cho rằng, con người vàvạn vật đều bắt nguồn từ bản nguyên vật chất như Nước (Talet), Lửa(Hêraclit), Nguyên tử (Đêmôcrit) Arixtốt đưa ra ba loại linh hồn: linh hồnthực vật, linh hồn cảm tính ở động vật và linh hồn lý trí ở con người
Trong suốt thời Trung cổ (thế kỷ X đến XV) dưới sự thống trị của thầnhọc và nhà thờ thì nhà triết học giải quyết vần đề con người trên lập trườngduy tâm, tôn giáo Họ cho rằng: Chúa trời là lực lượng siêu nhiên, có quyềnlực thần thánh tối cao, sáng tạo ra thế giới tự nhiên và con người, đồng thờiquyết định số phận của con người và con người suy cho cùng chỉ là hình ảnhcủa chúa và linh hồn bất tử là bản chất của nó; vị trí, vai trò, số phận và đẳngcấp xã hội đều do chúa trời định đoạt
Trang 6Thời phục hưng ở Tây Âu (thế kỷ XVII – XVIII) khoa học và triết học
có sự phục hồi với những bước phát triển mới, làm cho quan niệm về conngười có tiến bộ Franxi Bacon (1561 – 1626) cho rằng, giới tự nhiên lànguồn gốc thể xác con người, còn linh hồn của con người là cái thực thể củathể xác, đó là một dạng vật chất tồn tại trong óc người, vận động theo mạchmáu và các dây thần kinh Thomas Hobbs (1588 – 1679) cho rằng con người
là vấn đề trung tâm của triết học, con người ra đời từ tự nhiên, là một thực thểthống nhất tính tự nhiên và tính xã hội
Trong triết học cổ điển Đức đề cao vai trò tích cực trong hoạt động củacon người Con người hiện diện như một chủ thể, đồng thời như sản phẩm củaquá trình hoạt động của chính mình Nhưng sai lầm lớn nhất của các nhà triếthọc thời kỳ này là thần thánh hoá sức mạnh tư duy, trí tuệ của con người, biến
nó thành lực lượng siêu nhiên Imanuen Cantơ (1724 – 1804) là người sánglập ra triết học cổ điển Đức Ông cho rằng nhiệm vụ của triết học là đi tìm bảnchất của con người Theo ông, con người là chủ thể của nhận thức và hànhđộng; trong đó quyền tư hữu gắn liền với bản chất con người – nó có nguồngốc tiên thiên, phổ biến, vĩnh viễn, thiêng liêng, mang tính tự nhiên và bất khảxâm phạm Còn theo Hêghen (1770 – 1831), con người là sản phẩm ở trình độphát triển cao của nhất của “ý niệm tuyệt đối”, còn hoạt động của nó là công
cụ và phương tiện để “tinh thần tuyệt đối” nhận thức và trở về với chính bảnthân mình Đến Phoiơbách (1804 – 1872), ông khẳng định rằng, chính thể xáccon người với tất cả những phẩm chất của nó là chủ thể, là bản chất của conngười Vì vậy, triết học phải mang lại cho con người một quan niệm mới vềbản thân mình, tạo ra những điều kiện để con người được hưởng hạnh phúc.Tuy nhiên, do còn quan niệm duy tâm về đời sống xã hội nên ông đã quy
“tình yêu thương” vào bản chất con người và cho rằng tình yêu nam nữ làkiểu mẫu cho bản chất con người Như vậy xét đến cùng quan niệm về conngười của Phoiơbách vẫn mạng tính chất duy tâm, thần bí
Trang 7Tóm lại, những quan niệm, cách tiếp cận và giải quyết vấn đề nguồngốc, bản chất con người trong lịch sử phát triển khác nhau của triết học ởphương Đông và phương Tây là cơ sở dữ liệu quan trọng cho C.Mác tiếp cận,
kế thừa có phê phán những tư tưởng đó, trong khi nghiên cứu và xây dựngnhững quan điểm về con người và giai phóng con người trong học thuyết triếthọc của mình
1.2 Vấn đề con người trong triết học Mác
Kế thừa có phê phán những tư tưởng về vấn đề con người trong lịch sử,khắc phục quan niệm duy tâm, tôn giáo và truyền thống duy vật chật hẹp vềcon người, triết học Mác đã đưa ra một cách tiếp cận khoa học và toàn diện từvấn đề nguồn gốc, bản chất con người, đến vấn đề giải phóng con người và xãhội loài người
1.2.1 Con người, một thực thể “sinh vật – xã hội – tinh thần”
Sự phát triển của khoa học và thực tiễn đã minh chứng rõ ràng, tiền đềđầu tiên của sự tồn tại của con người là sự sống của thể xác Thể xác của conngười trước hết là vật thể của giới tự nhiên Như Ăngghen nhận xét: “bản thânchúng ta, với tất cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta là thuộc về giới tựnhiên” Chính vì vậy, phần thể xác của con người luôn có những nhu cầumang tính bản năng tự nhiên như: ăn, uống, ngủ, duy trì nòi giống, thiếunhững yếu tố này con người không thể tồn tại được Ngoài ra, còn có nhữngtác động những quy luật vật lý, quy luật hoá học, quy luật sinh học giốngnhư mọi cơ thể sống khác Tuy nhiên, với tính cách là thực thể tự nhiên, thểxác con người khác hẳn về chất so với các vật thể tự nhiên khác kể cả các loàiđộng vật bậc cao Cơ thể người là một cấu trúc sinh học ở trình độ cao với bộnão và hệ thần kinh hoàn thiện, cùng với hệ thống các mối liên hệ và quan hệcủa những bộ phận đó Cơ thể con người không tồn tại độc lập, tách biệt mà
nó tồn tại cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội Nói cách khác, conngười là sản phẩm của quá trình lao động và xã hội sản sinh ra con người “với
Trang 8tính cách con người như thể nào thì con người cũng sản xuất ra xã hội nhưthế” Vì vậy, trong cơ thể sống của con người không chỉ có những nhu cầu,quy luật sinh học, mà còn có những nhu cầu và quy luật sinh lý, tâm lý, tìnhcảm xã hội Hơn nữa, ngay những nhu cầu tự nhiên vốn có của con ngườicũng không còn thuần tuý tự nhiên nữa, mà nó mang tính xã hội cao và ngàycàng được xã hội hoá sâu sắc.
Chính nhờ cấu trúc “sinh vật – xã hội – tinh thần” và nhờ vào quá trìnhlao động và ngôn ngữ con người đã phán ánh một cách tích cực, chủ động,sáng tạo hiện thực khách quan vào bộ não của mình trên cơ sở đó hình thành
ý thức Đây chính là đặc trưng quan trọng nhất phân biệt với tất cả các sự vậthữu sinh khác Ý thức không phải là hiện thực vật chất, mà là hiện thực tinhthần luôn gắn liền với quá trình ra đời, tồn tại, vận động phát triển và mất đicủa thể xác con người Đồng thời, nó được vật chất hoá dưới dạng ngôn ngữ,biểu tượng, khái niệm, phạm trù và được thể hiện qua lời nói, hành động,thái độ Vì vậy, trong cơ thể con người ngoài những nhu cầu và những quyluật mang tính chất bản năng, sinh học còn có những nhu cầu và quy luật tinhthần
Như vậy, con người là một thực thể thống nhất biện chứng giữa các yếu
tố sinh vật, tinh thần, xã hội, trong đó có sự tác động đan xen giữa những hệthống nhu cầu: nhu cầu sinh học, nhu cầu xã hội, nhu cầu tinh thần và ba hệthống quy luật: quy luật sinh học, quy luật xã hội, quy luật tinh thần Mỗi hệthống nhu cầu, quy luật có vai trò và tác dụng nhất định tọng sự tồn tại vàphát triển của con người, đồng thời chúng tham gia vào việc quy định bảnchất của con người Trong đó, nhu cầu xã hội và quy luật xã hội luôn giữ vị rítrung tâm và đóng vai trò quyết định
1.2.2 Bản chất con người là tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội
Trang 9Xã hội là một bộ phận đặc biệt của thế giới vật chất và con người lànhững tế bào cấu thành của bộ phận đặc biệt ấy Nói cách khác, nói đến conngười là con người xã hội, còn nói đến xã hội là xã hội của chính con người.
Trong thực tế, con người tách khỏi thế giới loài vật và trở thành conngười là nhờ có lao động Như Ph Ăngghen khẳng định, trước hết là laođộng, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ đó là hai sức kíchthích chủ yếu để loài vượn thành con người thực sự Nhưng giới tự nhiênkhông phải khi nào cũng thoả mãn nhu cầu của con người, nên con ngườimuốn tồn tại và phát triển được phải lao động sản xuất Chính trong quá trìnhlao động sản xuất con người phải thực hiện hai quan hệ cơ bản là quan hệ với
tự nhiên biểu hiện ở lực lượng sản xuất và quan hệ giữa con người với conngười được biểu hiện qua quan hệ sản xuất Đây là hai quan hệ nền tảng quyđịnh các quan hệ xã hội khác C Mác viết: “Trong sản xuất con người khôngchỉ quan hệ với tự nhiên Người ta không thể sản xuất nếu không kết hợp vớinhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động vớinhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệnhất định với nhau; và quan hệ của họ với tự nhiên, tức là việc sản xuất, chidiễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó”
Thực tế, mỗi con người, mỗi thế hệ người khi ra đời không thể tự chọncho mình những quan hệ theo sở thích, mà phải ra nhập ngay vào những quan
hệ đã có và dù muốn, dù không muốn cũng phải và tất yếu phải trở thành “cáimang những mối quan hệ xã hội ấy” ( C Mác) Vì vậy, trong đời sống thựctiễn con người không chỉ bộc lộ như là thực thể sinh học mà là thực thể xãhội Với tất cả ý nghĩa này, C.Mác nhấn mạnh trong Luận cương vềPhoiơbách: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một
cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổnghoà những quan hệ xã hội”[3, tr.11]
Trang 10Luận điểm trên của C.Mác đã phản ánh đúng bản chất của con người là
“tổng hoà của tất cả các quan hệ xã hội” chứ không phải là riêng của một loạiquan hệ xã hội nào hay tổng cộng tất cả các quan hệ xã hội Nếu cụ thể hoánhững quan hệ đó ra là: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ kinh
tế, quan hệ chính trị, quan hệ tôn giáo, quan hệ đạo đức con người có baonhiêu quan hệ thì bấy nhiêu quan hệ góp phần hình thành nên bản chất conngười Trong đó, suy đến cùng các quan hệ vật chất, kinh tế hiện tại, trực tiếp
ổn định giữ vai trò quyết định các quan hệ còn lại Khi các quan hệ xã hộithay đổi thì sớm muộn bản chất của con người cũng thay đổi Vì vậy, nó tiêuchuẩn để phân biệt con người với tất cả các sự vật khác trong thế giới Nếucon người tách khỏi các quan hệ xã hội thì đó không là con người nữa Nhưvậy, bản chất của con người không phải là cái tinh thần chung chung trừutượng, cũng không phải là cái tự nhiên, tự phát, mà là hiện thực lịch sử cụ thể;không phải là cái vốn có, tiên thiên trong mỗi cá nhân mà nó được hình thànhtrong quá trình sống, lao động và tham gia các quan hệ xã hội của con người.Nếu không hiểu đúng đắn luận điểm này, người ta dễ hiểu lầm chủ nghĩa Mácquá nhấn mạnh quan hệ sở hữu và quan hệ giai cấp của con người mà coinhẹ hay quên đi mặt tự nhiên, tinh thần của nó
Thực tế, hơn ai hết các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác hiểu rất rõ vấn đề,như Ăngghen khẳng định: “bản thân chúng ta với tất cả xương thịt, máu mủ
và đầu óc chúng ta là thuộc về giới tự nhiên” và giới tự nhiên được phản ánhvào đầu óc người và cải biến đi ở trong đó và trở thành ý thức Ý thức của conngười không chỉ phản ảnh thế giới mà còn sáng tạo ra nó thông qua hoạt độngthực tiễn của con người Như vậy, bản chất của con người không phải đượcsinh ra mà được hình thành và thay đổi phụ thuộc vào các quan hệ xã hội màcon người đang sống, trong đó trước hết và quan trọng nhất là quan hệ kinhtế
1.2.3 Con người là chủ thể sáng tạo ra lịch sử
Trang 11Con người không chỉ là sản phẩm của lịch sử với tư cách là sản phẩmcủa quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên, mà con người còn là chủ thêcủa lịch sử Lịch sử hiểu theo nghĩa rộng, là quá trình đan xen, nối tiếp nhauvới tất cả những bảo tồn và biến đổi diễn ra trong quá trình ấy Như vậy, conngười có lịch sử và các loài vật khác cũng có lịch sử Song lịch sử của conngười và lịch sử của các loài vật là hoàn toàn khác nhau Lịch sử của các loàivật “chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và sự phát triển dần dần của chúngcho đến trạng thái hiện nay của chúng Lịch sử ấy không phải do chúng làm ra
và trong chừng mực chúng có tham dự vào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đódiễn ra mà chúng không hề biết và không phải do ý muốn của chúng Ngượclại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo nghĩa hẹp của này bao nhiêu thìcon người lại càng tự mình làm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấynhiêu ”[4, tr.476] Lịch sử chẳng qua chỉ là một chuỗi những hoạt động có ýthức của chính bản thân con người
Hoạt động của con người làm ra ra lịch sử nhưng để có lịch sử trướchết phải có con người Tiền đề đầu tiên của lịch sử là sự tồn tại của cá nhânnhững con người sống Vì vậy, hành động lịch sử đầu tiên của con người làhoạt động lao động sản xuất để tách khỏi đời sống động vật Con người táchkhỏi đời sống động vật như thế nào thì họ bước vào lịch sử như thế
Con người làm ra lịch sử, song không phải theo ý muốn tuỳ tiện củamình, trong những điều kiện mình có quyền lựa chọn mà là những điều kiện
có sẵn do lịch sử để lại Với những điều kiện ấy, mỗi người, mỗi thế hệ mộtmặt tiếp tục các hoạt động cũ của thế hệ trước trong những hoàn cảnh mới,một mặt tiếp tục các hoạt động của mình để cải biến những hoàn cảnh cũ.Cũng từ đây, con người tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần mới cho xã hộimới trên cơ sở kế thừa những yếu tố của xã hội trước để lại Những gì mớiđược tạo ra làm phong phú thêm cho cuộc sống hiện tại của con người và đưa
xã hội dần dần phát triển lên những nấc thang ở trình độ cao hơn Xét mối