BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN o0o MÔN Pháp luật Cộng đồng ASEAN Họ tên Lương Nguyễn Tường Vy Mssv 451111 Lớp N01 TL1 Hà Nội, 2021 BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn Pháp luật Cộng đồng ASEAN Đề bài Câu 1 Anhchị hãy phân tích hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực thương mại tự do và các biện pháp khắc phục hiện tượng này Liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN Câu 2 AnhChị hãy giải quyết tình huống sau đây C.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
KẾT THÚC HỌC PHẦN
_o0o _
MÔN Pháp luật Cộng đồng ASEAN
Hà Nội, 2021
Trang 2BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Môn: Pháp luật Cộng đồng ASEAN
Đề bài:
Câu 1: Anh/chị hãy phân tích hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực
thương mại tự do và các biện pháp khắc phục hiện tượng này Liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN
Câu 2: Anh/Chị hãy giải quyết tình huống sau đây: Các doanh nghiệp sản xuất xe đạp
của Trung Quốc (một nước không phải thành viên của ASEAN), dự định xuất khẩu xe đạp vào Việt Nam Đối với mặt hàng xe đạp này, mức thuế nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam là 35%, mức thuế nhập khẩu từ Trung Quốc vào Campuchia là 5% Việt Nam
và Campuchia đều là thành viên của Khu vực thương mại tự do ASEAN Do đó, doanh nghiệp xuất khẩu xe đạp của Trung Quốc đã xuất khẩu xe đạp vào Campuchia, sau đó lắp thêm 1 số bộ phận vào xe (đèn trang trí, bọc bảo vệ tay lái, gác baga xe (ghế ngồi sau) và đăng ký được sản xuất tại Campuchia và xuất khẩu sang Việt Nam Họ tính toán rằng nếu làm như vậy thì sẽ được hưởng mức thuế suất 0% đang được áp dụng trong Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA)
Câu hỏi/Yêu cầu:
1 Mặt hàng xe đạp trên có được cơ quan hải quan của Việt Nam coi là hàng hoá của Campuchia khi nhập khẩu vào Việt Nam hay không?
Trang 32 Theo ATIGA, làm cách nào để xác định hàng hoá có nguồn gốc xuất xứ từ một nước thành viên của ASEAN?
Trang 4MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 1 Câu 1: Hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực thương mại
tự do, các biện pháp khắc phục và liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN 1
1.1 Khái quát về khu vực thương mại tự do và hiện tượng chệch hướng thương mại 1 1.2 Biện pháp hạn chế hiện tượng “chệch hướng thương mại” trong khu vực thương mại tự do FTA 2 1.3 Liên hệ với ASEAN 3
Câu 2: 3
Campuchia khi nhập khẩu vào Việt Nam 3 2.2 Cách để xác định hàng hoá có nguồn gốc xuất xứ từ một nước thành viên của ASEAN theo ATIGA 4
2.2.1 Về mặt nội dung 4 2.2.2 Về mặt hình thức 4
Trang 5KẾT LUẬN 5 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, thế giới được chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các hiệp định thương mại tự do (FTAs) Các hiệp định được kí kết tại hầu hết các khu vực trên thế giới và chiếm lĩnh vị trí thống trị trong hệ thống thương mại quốc tế Các FTA góp phần rất lớn trong việc thúc đẩy thương mại giữa các quốc gia nhưng đồng thời làm “chệch hướng thương mại” Khu vực thương mại tự do ASEAN cũng không nằm ngoài xu thế hội nhập này, và tất nhiên, cũng cần phải có các biện pháp phòng tránh hiện tượng chệch hướng thương mại Bài tiểu luận sau đây với đề tài “chệch hướng thương mại” sẽ làm rõ hơn hiện tượng này, cũng như thực trạng và cách khắc phục hiệu quả
NỘI DUNG
Câu 1: Hiện tượng thương mại chệch hướng trong các khu vực thương mại tự do, các biện pháp khắc phục và liên hệ với khu vực thương mại tự do ASEAN
1.1 Khái quát về khu vực thương mại tự do và hiện tượng chệch hướng thương mại
Các khu vực thương mại tự do (Free Trade Area - FTA) là hình thức liên kết quốc tế, trong đó các quốc gia thành viên cùng nhau thỏa thuận giảm dần hoặc xóa bỏ thuế quan và các hạn chế phi thuế quan đối với phần lớn hàng hóa và dịch vụ khi buôn bán với nhau (nhưng vẫn giữ nguyên thuế quan đối với các nước ngoài khu vực), để tiến tới thành lập một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ Nói cách khác, các nước thành viên FTA có thể duy trì thuế quan của riêng mình và các rào cản thương mại khác với các nước ngoài khu vực Các FTA được thành lập một mặt mở rộng thị trường xuất khẩu, nâng cao hiệu quả nhờ sản xuất quy mô lớn, củng cố các quan hệ chính trị, thúc đẩy phát triển thương mại giữa các quốc gia mặt khác lại làm phát sinh số lượng lớn hành vi gian lận thương mại: hàng hóa nhật khẩu từ ngoại khối có thể xâm nhập vào nước có thuể quan cao thông qua nước có thuế quan thấp trong một khu vực thương mại tự do Các nhà phân tích gọi hiện tượng này là chệch hướng thương mại (Trade deflection)
Bản chất của hiện tượng chệch hướng thương mại là một hiện tượng có tính chất tiêu cực, là một hình thức trốn thuế của các nhà sản xuất ngoài khu vực thương mại tự
Trang 7do né tránh thuế quan để xâm nhập vào thị trường của các nước có thuế quan cao mà không phải chịu mức thuế đối của các quốc gia đặt với khu vực ngoài khối Khi hiện tượng này xảy ra, quốc gia trong khối sẽ bị tổn thương và bị thất thu đối với hàng hóa
mà mình nhập khẩu do các nhà sản suất nước ngoài trốn thuế Ví dụ: 3 quốc gia Lào, Campuchia và Việt Nam đều là các nước nhập khẩu ôtô, trong khi đó Lào đánh thuế với mặt hàng ôtô nhập khẩu từ bên ngoài vào nước mình là 20%, Campuchia đánh thuế với mặt hàng ôtô là 25% và Việt Nam đánh thuế với mặt hàng ôtô là 40% Khi 3 nước này thiết lập khu vực thương mại tự do thì thuế quan đối với mặt hàng ôtô qua lại giữa 3 nước này được xóa bỏ Tuy nhiên, mức thuế quan nay vẫn được đặt ra với các
1
Trang 8nước khác không nằm trong khu vực thương mại tự do Hoa Kì muốn xuất khẩu ôt ô sang Việt Nam nhưng lại phải chịu mức thuế cao là 40% do đó thay vì xuất khẩu trực tiếp hàng hóa sang Việt Nam thì Hoa Kì xuất khẩu hàng hóa vào thị trường của Lào rồi
từ Lào sẽ xuất khẩu sang Việt Nam để hưởng mức thuế 0% Như vậy, ô tô của Hoa Kì
đã có mặt trên thị trường Việt Nam nhưng không phải chịu mức thuế là 40% do Việt Nam đặt ra mà chỉ phải chịu mức thuế 20%
Việc chệch hướng này gây nên sự bất công trong hoạt động thương mại, ảnh
hưởng tới các quốc gia thành viên Thứ nhất, các nước có thuế quan cao mất đi một phần thu nhập ngân sách quốc gia từ thuế nhập khẩu hàng hóa ngoại khối Đây là điều bất lợi nếu nguồn thu từ thuế nhập khẩu chiếm phần lớn nguồn thu ngân sách quốc gia
đó Thứ hai, đối với các quốc gia có thuế quan thấp trong khu vực, họ không được
hưởng nhiều lợi thế như cơ chế tạm nhập sản xuất,1 mà chỉ thu được lợi nhuận nhập khẩu Thêm vào đó, các ngành sản xuất xuất nhập khẩu của các quốc gia thành viên cũng bị tác động tiêu cực: việc xuất khẩu mặt hàng cùng loại (do quốc gia ấy tự sản xuất) sang nước có thuế quan cao hơn phải chia sẻ hạn ngạch với mặt hàng có nguồn gốc xuất xứ từ nước thứ ba bên ngoài khu vực, nếu nước thành viên là nước kém phát triển hơn nước ngoại khối, có thể doanh nghiệp trong nước sẽ bị phá sản
1.2.Biện pháp hạn chế hiện tượng “chệch hướng thương mại” trong khu vực thương mại tự do FTA
Các nhà sản xuất từ ngoài khu vực né tránh thuế quan cao bằng nhiều cách như xây dựng nhà máy thực hiện công đoạn cuối cùng ở nước thành viên có thuế quan thấp, sau đó xuất sang các nước thành viên khác có thuế quan cao hơn v.v Để giải quyết vấn đề này, các quốc gia thành viên phải có khả năng phân biệt giữa hàng hóa sản xuất trong khu vực thương mại tự do và hàng hóa sản xuất tại các nước khác (bằng cách kiểm tra kỹ chứng từ chứng minh xuất xứ của nước nhập khẩu và những biện pháp về quản lý) Tuy nhiên, do việc thực hiện phân biệt khá khó khăn, các nước thành viên cần tìm ra các giải pháp khôn ngoan để quản lý hàng hóa từ bên ngoài, chẳng hạn như cần có các quy định về xuất xứ hàng hóa Quy tắc xuất xứ được hiểu là một tập hợp những quy định pháp luật để xác định quốc gia xuất xứ của hàng hóa Một bộ quy tắc xuất xứ thích hợp sẽ giúp việc quản lý xuất xứ hàng hóa trong FTA, góp phần phòng chống gian lận thương mại Bên cạnh đó, nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng
Trang 9hóa, doanh nghiệp sẽ tích cực tìm kiếm và sản xuất nguyên phụ liệu, hàng hóa trong phạm vi FTA, kích thích đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các lãnh thổ thành viên FTA
Ngoài ra, biện pháp cao hơn để giải quyết dứt điểm hiện tượng chệch hướng thương mại là cần nâng cấp khu vực thương mại tự do dưới hình thức hiệp hội doanh nghiệp của liên minh thuế quan (CU): Nếu hai hoặc nhiều quốc gia bãi bỏ tất cả các loại thuế nhập khẩu đối với tất cả hàng hóa buôn bán với nhau và đồng ý về các quy tắc chung về đánh thuế đối với hàng nhập khẩu nước ngoài, thì họ sẽ hình thành một
1 Nước tạm nhập hàng hóa không những thu được một phần lợi nhuận từ thuế nhập khẩu, mà còn thu được lợi nhuận khi bán hàng sang nước nhập khẩu
2
Trang 10liên minh thuế quan Bằng cách thống nhất các mức thuế quan chung bên ngoài, sẽ không có sự lệch mức thuế quan như các khu vực thương mại tự do, và việc thành lập các khu vực thương mại tự do có nghĩa là không chỉ hàng hóa mà còn các yếu tố khác
sẽ được tạo ra Các yếu tố sản xuất (vốn, lao động, v.v.) cũng vận động linh hoạt giữa các nước trong khu vực Về mặt lý thuyết, điều này góp phần nâng cao chuyên môn trong khu vực, với việc các nước tập trung sản xuất các sản phẩm có lợi thế so sánh với chi phí thấp nhất Thương mại nội khối được thúc đẩy và tăng cường thịnh vượng của các nước trong khu vực
1.3 Liên hệ với ASEAN
Khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) là một hiệp định thương mại tự do
đa phương (FTA) hình thành giữa các nước ASEAN, mà tại đó các rào cản thương mại được dỡ bỏ, đồng thời các hoạt động thuận lợi hóa thương mại được xúc tiến đối với hàng hoá qua lại giữa các quốc gia thành viên Kết quả hướng đến là thực hiện giảm dần thuế quan xuống còn 5%, dỡ bỏ dần hàng rào phi thuế quan đối với hầu hết các nhóm hàng hóa, hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước Nhiều nghiên cứu về nền kinh tế đã được thực hiện trên AFTA chứng minh rằng nó là một sự thay thế thương mại
Trung bình các nước ASEAN tham gia 45 hiệp định thương mại tự do (đa phương và song phương) không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho các nước này, mà còn làm tăng nguy cơ phá hủy cấu trúc của khối và có thể gia tăng sự phụ thuộc của mình vào thế giới bên ngoài Do đó, khi đàm phán ký kết hiệp định thương mại tự do, các nước trong khu vực cần nghiên cứu kỹ đặc điểm của các bên ký kết và nội dung của hiệp định thương mại tự do nhằm tạo thuận lợi hơn cho quá trình tạo ra thương mại
Về quy tắc xuất xứ hàng hóa, theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), hàng hóa dược cho là có nguồn gốc ASEAN là hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ (Điều 27), hoặc hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ (Điều 28).2 Xuất xứ giống như “quốc tịch” của hàng hóa, quy tắc xuất xứ giúp cơ quan hải quan xác định được hàng hóa đến từ đâu và có được hưởng ưu đãi thuế quan theo AFTA hay không Ngày nay, nhiều nguyên liệu được sản xuất trong các công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn được thực hiện ở các quốc gia khác nhau Vì vậy, với mục đích xác định hàng hóa tại điều 28 có đủ điều kiện trở
Trang 11thành hàng hóa có nguồn gốc ASEAN hay không, ATIGA còn đưa ra quy tắc cụ thể giúp các quốc gia dễ dàng xác định hàm lượng giá trị ASEAN như Điều 29, Điều 30
Câu 2:
2.1.Mặt hàng xe đạp trên không được coi là hàng hoá của Campuchia khi nhập khẩu vào Việt Nam
Mặt hàng xe đạp trên không được cơ quan hải quan của Việt Nam coi là hàng hoá của Campuchia khi nhập khẩu vào Việt Nam Vì cả ATIGA và Nghị định
2 Xem: Điều 27, Điều 28, Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA).
3
Trang 1231/20183 đều quy định rằng hàng hóa được coi là có nguồn gốc từ nước xuất khẩu nếu hàng hóa đó: (1) được thu hoạch hoặc sản xuất toàn bộ tại chính quốc gia đó; (2) không được thu hoạch hoặc sản xuất toàn bộ ở quốc gia đó, nhưng sản phẩm cuối cùng
có hàm lượng giá trị nội địa/ khu vực nhất định,4 hoặc nếu tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ sử dụng để sản xuất ra hàng hóa đó đã trải qua quá trình chuyển đổi
mã số hàng hóa của Hệ thống hài hòa (Mã số Hệ thống hài hòa (Mã HS) của các nguyên vật liệu đó khác với Mã HS của sản phẩm cuối cùng).5 Theo đề ra ta có thể thấy được rằng: hải quan Việt Nam không thể coi đó là hàng hóa Campuchia
2.2.Cách để xác định hàng hoá có nguồn gốc xuất xứ từ một nước thành viên của ASEAN theo ATIGA
Theo ATIGA, hàng hoá xuất xứ từ một quốc gia Thành viên là hàng hoá có đủ tiêu chuẩn theo các quy định của Chương 3 (Quy tắc Xuất xứ)
2.2.1 Về mặt nội dung
Atiga quy định một hàng hóa có xuất xứ từ một quốc gia thành viên nếu hàng hóa
đó thỏa mãn Điều 27 (hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ); hoặc phù hợp với Điều 28 (Hàng hoá có xuất xứ không thuần tuý hoặc không được sản xuất toàn bộ) và các điều khoản liên quan như Điều 29 (Công thức tính Hàm lượng giá trị khu vực), Điều 30 (xuất xứ cộng gộp) của Hiệp định
2.2.2 Về mặt hình thức
Theo Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), có hai cách thức để chứng nhận nguồn gốc xuất xứ từ một nước thành viên ASEAN
a Cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa tại cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên ASEAN
Theo quy định tại Điều 38 ATIGA và ba phụ lục từ Phụ lục 7 đến Phụ lục 9 của Hiệp định, việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa sẽ được thực hiện theo trình tự sau: Doanh nghiệp xuất khẩu hoặc đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp sẽ nộp đơn xin cấp Chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo mẫu D (C/O) cùng các tài liệu bổ sung
Trang 13cần thiết đến cơ quan có thẩm quyền của nước mình Sau khi xác minh, kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền sẽ cấp C/O mẫu D cho nhà xuất khẩu/ nhà sản xuất Hoặc, doanh nghiệp xuất khẩu cũng có thể nộp đơn xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa đến
cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thứ ba Quốc gia này có thể cấp giấy chứng nhận trên cơ sở giấy chứng nhận gốc đã được quốc gia xuất khẩu đầu tiên cấp với điều kiện Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa gốc (C/O mẫu D) còn hiệu lực
Bản gốc sẽ được doanh nghiệp xuất khẩu chuyển cho doanh nghiệp nhập khẩu để nộp cho cơ quan hải quan khi làm các thủ tục nhập khẩu Hai bản sao còn lại sẽ được
3 Xem: Nghị định 31/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết luật quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa.
4 Cụ thể theo ATIGA là không dưới 40% (điểm a(i) khoản 1 Điều 28).
5 Nội dung trùng với mục 2.2.1 của bài.
4
Trang 14lưu tại cơ quan cấp C/O và doanh nghiệp xuất khẩu Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa có hiệu lực trong 12 tháng kể từ ngày cấp và phải được nộp cho cơ quan hải quan của nước nhập khẩu trong thời gian này
b Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa tại doanh nghiệp
Trước những khó khăn mà việc thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa theo ATIGA gây ra cho các doanh nghiệp, tại Hội nghị khu vực thương mại
tự do ASEAN (AFTA) lần thứ 23 đã thông qua “Kế hoạch hành động thực hiện Chương trình tự chứng nhận xuất xứ”, triển khai Chương trình tự chứng nhận xuất xứ ASEAN (ASEAN Self Certification Scheme) tại tất cả các quốc gia thành viên trước năm 2015
Theo hướng dẫn của Tổ chức Hải quan thế giới về chứng nhận xuất xứ hàng hóa, hiện nay có 4 hình thức tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa được sử dụng, bao gồm: (1) hình thức nhà xuất khẩu được cấp phép; (2) hình thức nhà xuất khẩu đăng ký; (3) hình thức nhà xuất khẩu tự chứng nhận; (4) hình thức doanh nghiệp tự do chứng nhận.6
KẾT LUẬN
Với lợi thế duy trì được tính độc lập tương đối của các thành viên, FTA là mô hình liên kết kinh tế được nhiều khu vực lựa chọn Tuy nhiên nó cũng không thể tránh khỏi được một số hệ lụy không mong muốn như hiện tượng chệch hướng thương mại Đối với ASEAN, hiện tượng chệch hướng thương mại cũng là một thử thách để cộng đồng và cả các quốc gia thành viên đối mặt; hiện tượng chệch hướng thương mại tạo sức ép để các nước tăng cường hiệu quả sản xuất, năng lực cạnh tranh, cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp lý và hệ thống quản lý cho phù hợp Vì vậy các quốc gia thành viên cần quan tâm hạn chế hiện tượng này nhằm tạo một khu vực thương mại tự do lành mạnh, thúc đẩy kinh tế phát triển
Trên đây là những ý kiến, quan điểm của em về đề tài Trong quá trình làm bài không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý của thầy cô
để tình huống có thể được giải quyết một cách chính xác nhất và hoàn thiện kiến thức của bản thân.