TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN Chủ đề VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM – GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC Họ tên học viên Lớp , Năm 2021 MỞ ĐẦU Phật giáo có mặt ở Việt Nam gần 2000 năm, trải qua nhiều thời kỳ biến động lúc thịnh, suy khác nhau, nhưng đã tự khẳng định như một thành tố không thể tách rời của nền văn hóa dân tộc và trở thành một trong những tôn giáo có sức sống lâu dài tồn tại mãi cho tới ngày nay, đồng thời ảnh hưởng khá sâu rộng t.
Trang 1KHOA …
TIỂU LUẬN Chủ đề: VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM – GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC
Họ tên học viên:……….
Lớp:……….,
Năm 2021
Trang 2
MỞ ĐẦU
Phật giáo có mặt ở Việt Nam gần 2000 năm, trải qua nhiều thời kỳ biến động lúc thịnh, suy khác nhau, nhưng đã tự khẳng định như một thành tố không thể tách rời của nền văn hóa dân tộc và trở thành một trong những tôn giáo có sức sống lâu dài tồn tại mãi cho tới ngày nay, đồng thời ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống của nhân dân ta
Kể từ khi đất nước giành được độc lập (1945) cho đến thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, tạo điều kiện để các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, hành đạo theo pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa…; góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cùng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử tín ngưỡng, tôn giáo, luôn là một vấn
đề nhạy cảm Trong tình hình hiện nay, đây là lĩnh vực thường xuyên bị kẻ xấu và các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; chống phá, xuyên tạc đường lối chủ trương của Đảng
về tự do tín ngưỡng, tôn giáo; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, cổ súy những hoạt động núp bóng tín ngưỡng, tôn giáo trái pháp luật
Để đấu tranh có hiệu quả với mọi hoạt động núp bóng và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo trái với pháp luật, bên cạnh việc nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền liên quan đến chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng, rất cần tiếp tục nghiên cứu làm
rõ những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp cũng như vai trò, đóng góp của các tôn giáo chính thống – nhân bản, trong đó có Phật giáo vào quá trình phát triển của đất nước
NỘI DUNG
I KHÁI LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM
1.1 Sự hình thành và nội dung cơ bản của Phật giáo
Đạo Phật hay còn gọi là Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng giữa thiên niên kỷ I – TCN Ấn Độ là một nước lớn, đất rộng, người đông ở khu vực Miền Nam châu Á, là nước có lịch sử lâu đời – và là một trong những nơi có nền văn mình sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới Niên đại của nền văn mình Ấn Độ so với Ai Cập và Lưỡng Hà cổ đại có muộn hơn một chút, tức là vào khoảng thiên niên kỷ III đến thiên niên kỳ I –TCN
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra rằng: ý thức xã hội luôn ra đời trên cơ sở của tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội Phật giáo là sản
Trang 3phảm thuộc ý thức xã hội cho nên sự ra đời của Phật giáo nó gắn liền với những điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của Ấn Độ lúc bấy giờ
Lúc này Ấn Độ đang trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ Sự phân chia đẳng cấp một cách nghiệt ngã với bốn đẳng cấp cách biệt nhau đó là: đẳng cấp Bà-la-môn (giữ địa vị cao nhất gồm giới tăng lữ của đạo Bà-la-Bà-la-môn, gồm những người hotaj động tổn giáo chuyên nghiệp); đẳng cấp Sát-đế-lỵ (gồm vua quan cai trị và tầng lớp võ sĩ); đẳng cấp Vệ- xá (gồm dân tự do, những người làm nông nghiệp hay những người giàu có, buôn bán, thợ thủ công), đẳng cấp Thủ-đà-la (gồm chiến binh bại trận, những người tầng lớp trên bị phá sản, nô lệ) Ngoài ra còn
có một tầng lớp người thuộc hàng cùng khổ dưới đáy xã hội, bị mọi người khinh
rẻ thời kỳ này, đạo Bà-la-môn thống trị xã hội Ấn Độ, với vị trí độc tôn nó dùng
để bênh vực và bảo vệ cho chế độ đẳng cấp nhất đẳng cấp Bà-la-môn
Tình hình nói trên đã làm cho tầng lớp tầng lớp đa số trong xã hội những người Thủ-đà-la càng oán ghét chế độ bóc lột, chế độ phân chia đẳng cấp.Phản ánh tâm trạng của những người nô lệ lúc đó, ở Ấn Độ đã xuất hiện nhiều trào lưu, tư tưởng thuộc các xu hướng khác nhau Các trào lưu đó gặp nhau ở diderm chung đó là hoặc trực tisp, hoặc là gián tiếp chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn Học thuyết Phật giáo là một trong những trào lưu đó Như vậy có thể nói Phật giáo ra đời trong xã hội Ấn Độ thời cổ đại bắt nguồn từ những nguyên nhân chính trị, xã hội mà sâu xa là trào lưu chống lại chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn Bên cạnh đó, Phật giáo còn là sự kế thừa tiếp nối các học thuyết tư tưởng triết học đường thời như (trường phái Samkhuya, Yoga, Vaisesika, Vedanta, Miamansa)
Sự ra đời của Đạo Phật còn gắn liền với tên tuổi của người sáng lập ra nó chính là thái tử Sidharta (Tất-đạt-đa), họ là Gotama (Cổ-đàm) con của vua Shuddhodana (Tịnh Phạm) Ông sinh năm 624 trCN, vào lúc ở Ấn Độ đạo Bàlamôn (Brahmanism) đang thống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc trong
xã hội Nỗi bất bình của thái tử với nỗi khổ của muôn dân là những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một tôn giáo mới Sidharta rời nhà năm 29 tuổi, được gọi
là Sakia Muni (Thích Ca Mầu hiển nhân dòng họ Thích Ca) Sakia Muni tìm gặp những người tu hành lâu năm để học hỏi, nhưng những điều thu được không làm ông thỏa mãn Ông rủ 5 người bạn đến vùng Uruvela (gần thị trấn Gaya – sau này các sách thường ghi là ông đến núi Tuyết Sơn), tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng
mà chẳng ích lợi gì Thấy mình đã tu sai đường, ngài liền ăn uống cho lại sức rồi tìm đến một gốc cây pipal lớn, lấy cỏ làm nệm ngồi tập trung suy nghĩ Sau một thời gian (tương truyền là 49 ngày đêm), tư tưởng ngài liền trở nên sáng rõ, ngài
đã hiểu ra quy luật của cuộc đời, nỗi khổ của chúng sinh, thấy được điều mà bấy lâu nay tìm kiếm Ngài liền đi tìm 5 người bạn đã cùng tu khổ hạnh trước đây để
Trang 4giác ngộ cho họ, rồi cùng với họ trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi khắp vùng lưu vực sông Hằng để truyền bá những tư tưởng của mình Từ đó, người đời gọi Ngài là Buddha (Bậc Giác Ngộ, phiên âm tiếng Việt là Bụt, Phật) Cây pipal, nơi Ngài đã ngồi tu luyện, được gọi là cây bodhi (bố đề) và trở thành biểu tượng cho sự giác ngộ) Đức Phật qua đời năm 544 trCN thọ 80 tuổi
Giống như các tôn giáo khác, Phật giáo cũng bao gồm giáo lý và sinh hoạt tín ngưỡng Giáo lý là một hệ thống các quan điểm về thế giới và con người, về cách thức tu luyện, sinh hoạt tín ngưỡng là những hành vi, những nghi lễ cần phải thực hiện để đạt tới ước nguyện Tất cả đều có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của các tín đồ Giáo lý Phật giáo là một hệ thống đồ sộ, tập trung trong tam tạng kinh điển (Kinh tạng, Luận tạng, Luật tạng) với nhiều nội dung
đa dạng, sâu sắc về thế giới, về xã hội, về con người, về những giới luật cần phải theo, và những giải nghĩa, những luận bàn cần phải biết
Thế giới quan Phật giáo là một hệ thống gồm các lý thuyết về nhân duyên, nhân quả, về vô thường, vô ngã, về nghiệp báo luân hồi v.v Mỗi thuyết đó đều chứa đựng một nội dung biện chứng về thế giới
Nhân sinh quan Phật giáo là một hệ thống gồm các quan điểm về con người, đời người Đó là một trong những nội dung rất cơ bản của giáo lý Phật giáo khi lý giải về con người, là học thuyết về "khổ" và con đường "cứu khổ", thể hiện trong 4 nguyên lý thần diệu cơ bản gọi là Tứ diệu đế (Bốn chân lí kì diệu) hay Tứ thánh đế (Bốn chân lí thánh), đó là:
Khổ đế là chân lí về bản chất của nỗi khổ Khổ là gì? Đó là trạng thái
buồn phiền phổ biến ở con người do sinh, lão, bệnh, tử, do mọi nguyện vọng không được thỏa mãn
Tập đế là chân lí về nguyên nhân của nỗi khổ Đó là do ái dục (ham
muốn) và vô minh (kém sáng suất) Dục vọng thể hiện thành hành động gọi là Nghiệp (karma); hành động xấu khiến con người phải nhận hậu quả của nó (nghiệp báo), thành ra cứ luẩn quẩn trong vòng luân hồi không thoát ra được
Diệt đế là chân lí về cảnh giới diệt khổ Nỗi khổ sẽ được tiêu diệt khi
nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ Sự tiêu diệt khổ đau gọi là niết bàn (nirvana, nghĩa đen là “không ham muốn, dập tắt”) Đó là thế giới của sự giác ngộ và giải thoát
Đạo đế là chân lí chỉ ra con đường diệt khổ Con đường diệt khổ, giải
thoát và giác ngộ đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), tư tưởng (định) và khai sáng trí tuệ (tuệ) Ba môn học này được cụ thể hóa trong khái niệm bát chính đạo (tám nẻo đường chân chính) Đó là: chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng (thuộc lĩnh vực rèn luyện đạo đức – GIỚI); chánh niệm, chánh đinh (thuộc lĩnh
Trang 5vực rèn luyện tư tưởng – ĐỊNH): chính kiến chánh tư duy, chính tinh tấn (thuộc
về lĩnh vực khai sáng trí tuệ – TUỆ)
Như vậy, “Tứ diệu đế” là bốn chân lý thiêng liêng cho thấy đời người là khổ và khổ đó là do các quá trình diễn ra trong bản thân con người sinh, lão, bệnh, tử, do ham sướng (dục vọng), do không sáng suốt (vô minh) đến nỗi rơi vào vòng luân hồi Người theo đạo Phật muốn khỏi khổ, hết khổ, thì phải diệt dục, từ bỏ ham muốn, từ bỏ mọi sự quyến rũ của cuộc sống để sống yên tĩnh, đi vào cõi hư vô tịch diệt (niết bàn)
Toàn bộ giáo lí của Phật giáo được xếp thành ba tạng (tạng tức là chứa đựng): Kinh tạng chứa các bài thuyết pháp của Phật và một số đệ tử; Luật tạng chứa các lời Phật dạy về giới luật và nghi thức sinh hoạt của chúng tăng; Luân tạng chứa những lời bàn luận
Tóm lại, Phật giáo ra đời tuy không tuyên bố tiêu diệt chế độ đẳng cấp và đạo Bà-la-môn nhưng trên thực tế là phủ nhận chế độ đó Hơn nữa giáo lý của Phật giáo sâu sắc, hấp dẫn, nêu lên khả năng chế ngự dục vọng, vai trò tự giải thoát của con người, sự bình đẳng giữa con người nhau(ít nhất là ở phương diện tôn giáo), lễ nghi đơn giản, không rườm rà tốn kém như đạo Bà-la-môn nên được đông đảo quần chúng, nhất là những người có địa vị thấp kém trong xã hội tin theo
1.2 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam
Phật giáo được truyền vào nước ta từ rất sớm, theo hiểu biết hiện nay của giới nghiên cứu lịch sử thì Phật giáo vào Việt Nam từ những năm đâu công nguyên Thời kỳ đầu Phật giáo Việt Nam chủ yếu trực tiếp từ Ấn Độ sang bằng đường biển cùng với các thương nhân Trong khoảng từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ X thì Phật giáo được truyền vào nước ta từ Trung Hoa bằng đường bộ
Cũng do Phật giáo đã được truyền trực tiếp từ ấn Độ vào Việt Nam ngay
từ đầu công nguyên nên từ Buddha tiếng Phạn đã được phiên âm trực tiếp sang tiếng Việt thành Bụt: Phật giáo Giao châu lúc này mang màu sắc Tiểu thừa Nam tông và trong con mắt của người Việt Nam nông nghiệp, Bụt như một vị thần luôn có mặt ở khắp nơi, sẵn sàng xuất hiện cứa giúp người tốt và trừng trị kẻ xấu sau này, sang thế kỉ IV-V, lại có thêm luồng Phật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào Chẳng mấy chốc, nó đã lấn át và thay thế luồng Nam tông
có từ trước đó Từ “Buddha” vào tiếng Hán được phiên âm thành Phật-đồ, vào tiếng Việt rút gọn lại còn Phật; từ đây từ Phật dần dần thay thế cho từ Bụt: Bụt chỉ còn trong các quán ngữ với nghĩa ban đầu (ví dụ như cách gọi ông tiên, ông Bụt trong các truyện dân gian)
Sự phát triển của phật giáo tại Việt Nam trải qua các giai đoạn cơ bản sau:
Trang 6Giai đoạn I: Từ giữa thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Có thể nói ở giai đoạn này sự du nhập của Phật giáo như một tôn giáo, mở ra hai con đường là Thiền tông và Tịnh độ tông
Giai đoạn II : Từ thế kỷ thế VI đến thế kỷ thứ X Đây là thời kỳ Phật giáo đặt nền móng xây dựng và phát triển Với hai thiền phái chính là Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đã khẳng định sự hiện hữu của Phật giáo như là một tôn giáo không thể thiếu trong lòng dân tộc Phật giáo đưa con người hướng đến một đời sống tâm linh thánh thiền, biết phân biệt thiện, ác
Giai đoạn III : Từ cuối thế kỷ thứ X đến cuối thế kỷ XIV (Hay còn gọi là Phật giáo thời Đinh-Lê-Lý-Trần) Đây là thời kỳ Phật giáo phát triển cực thịnh Trong giai đoạn này có thể xem Phật giáo như là một quốc giáo của dân tộc Việt nam Điểm đặc biệt của giai đoạn này là sự thống nhất của các thiền phái và lập nên các phái Thiền ở Trúc Lâm và Yên Tử
Giai đoạn IV: Phật giáo thời Lê sơ đến nhà Nguyễn (tức từ TK XV đêncuối thế kỷ XIX) bấy giờ Nho giáo được coi là Quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái
Giai đoạn V: Từ đầu thế kỷ XX đến nay là giai đoạn phục hưng
Đạo Phật kể từ khi truyền vào Việt Nam đến nay trải hơn 2000 năm đã dần dần đi vào tâm thức, ảnh hưởng nhiều đến cách nghĩ, cách sống của phần đông người Việt Tuy có nhiều thịnh suy do những nguyên nhân bên trong cũng như bên ngoài nhưng đạo Phật từ lâu đã có vai trò quan trọng trong đời sống người Việt, góp phần không nhỏ trong di sản lịch sử và văn hóa của đất nước và con người Việt Nam
Chương 2 VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Với lịch sử hơn 2000 năm du nhập, tồn tại và phát triển, Phật giáo từ một tôn giáo ngoại nhập đã được bản địa hóa và thấm sâu vào trong đời sống văn hoá của cộng đồng dân tộc Việt Nam, trở thành một thành tố không thế thiếu của nền văn hóa Việt Nam, tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đầy tính nhân bản và đậm đà bản sắc Những đóng góp đó là:
2.1 Phật giáo đem đến một loại văn tự mới góp phần bảo tồn ngôn ngữ Việt, Chăm, Khmer
Khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam được các nhà sư Ấn Độ và Trung Quốc đến Việt Nam và dịch kinh sách bằng văn tự Hán và ngôn ngữ, văn tự đó được dùng để truyền bá Phật giáo.cho nên có thể nói đóng góp về mặt văn tự của Phật giáo thể hiện ở hai góc độ
Thứ nhất là, các thương nhân và nhà truyền giáo Ấn Độ ở nam Đại Việt
và đóng góp cho sự ra đời của chữ Chăm, chữ Khmer
Trang 7Trên thực tế, khi những nhà truyền giáo Ấn Độ truyền đạo đã dùng văn tự Sanskrit, do người truyền giáo ấn Độ không gặp ở nam Đại Việt lúc bấy giờ một văn tự nào sẵn có để họ sử dụng, vì vậy họ sử dụng văn tự Sanskrit để truyền giáo Còn ngôn ngữ thì đã có sẵn cho nên chẳng bao lâu sau thì đã xuất hiện chữ Chăm, chữ Khmer trên cơ sở chữ Sanskrit.Nói một cách cụ thể hơn, nam Đại Việt đã thừa hưởng của Bàlamôn giáo loại văn tự mà họ chưa có, nghĩa là Bà-la-môn giáo, Phật giáo đem đến cho cư dân ở đó một văn tự Đó là một cống hiến của Bàlamôn giáo và Phật giáo đối với miền nam nước ta
Thứ hai là , các nhà truyền giáo ở phía bắc Đại việt đã đóng góp cho sự ra đời chữ Phạn – Hán mà sau này đưa đến sự hình thành chữ Nôm
Ở bắc Đại Việt thì người truyền giáo Ấn Độ đã gặp ở đây một văn tự ngoại quốc nhưng quan phương, cho nên họ dùng văn tự đó - văn tự Hán Có hai cống hiến, sự truyền bá Phật giáo trong cư dân vốn không phổ biến chữ Hán đã đưa đến sự hình thành chữ Nôm Chữ Nôm đã hình thành trước thế kỉ V - VI Bằng chứng là sự tồn tại hai nhóm thuật ngữ Phật giáo đồng nghĩa: Bụt Chùa -Thầy và Phật - Tự - Sư Nhóm thứ nhất là chữ Nôm Nhóm thứ hai là chữ Hán đọc theo âm Việt, hiện nay quen gọi là âm Hán - Việt chứ không phải là âm Hán của chữ Việt Chữ Nôm xuất hiện trong bộ thuật ngữ Phật giáo này sẽ không bao giờ sản sinh và tồn tại được nếu như bộ thuật ngữ Việt - Hán đã được dùng từ đầu, nghĩa là từ khi bắt đầu truyền bá Phật giáo Nhưng bởi vì, trước thế kỉ V –
VI, Phật giáo Trung Quốc chưa hình thành Công việc Phật giáo ở Trung Quốc chủ yếu vẫn do các nhà sư Tây Vực đảm nhiệm Trong khi đó, ở Dâu đã hình thành một trung tâm Phật giáo độc lập đối với Phật giáo Trung Quốc lúc bấy giờ còn loanh quanh ở phương bắc xung quanh triều đình chưa lan xuống vùng Giang Đông, tức miền nam Sau này, Phật giáo Trung Quốc vẫn hình thành Bắc tông và Nam tông là có lí do lịch sử của nó Chỉ đến khoảng thế kỉ V – VI, một mặt Phật giáo Trung Quốc đã hình thành những tông phái Trung Quốc như Thiên Thai, Pháp Tướng, v.v Một mặt, con đường thỉnh kinh cũng chuyển sang phương nam Các nhà sư Trung Quốc xuống Giao Châu đi đường thuỷ qua
ấn Độ Nhà sư hành hương nổi tiếng - Nghĩa Tịnh đã đi theo con đường này Tất
cả những điều đó chứng tỏ có một cơ tầng Phật giáo Việt - Ấn tồn tại trước Sau
đó mới đến thượng tầng Việt – Trung, bắt đầu từ khoảng thế kỉ V - VI về sau và
rõ nét với Vô Ngôn Thông (đến Kiến Sơ làng Phù Đổng năm 820) thì Phật giáo Trung Quốc mới chiếm thượng phong Cho nên, trong thời kì trước mới hình thành và tồn tại các thuật ngữ Phật giáo ấn Độ Bụt - Chùa - Thầy được hình thành như vậy Thời kì sau, bộ thuật ngữ Phật giáo Trung Quốc đọc theo âm Việt - Hán là Phật - Sư - Tự mới phổ biến Nhưng đến nay, dân gian vẫn quen gọi thầy chùa hơn là sư ông
Trang 8Tóm lại, chính Phật giáo đã mở đầu cho sự hình thành chữ Nôm ở bắc Đại Việt, chữ Chăm, chữ Khmer ở nam Đại Việt Ba loại văn tự này giúp bảo tồn ngôn ngữ Việt, Chăm, Khmer
2.2 Phật giáo đưa đến một nền kiến trúc chùa, tháp phong phú và hệ thống các tượng phật đa dạng
Bên cạnh đóng góp về văn tự, Phật giáo còn đưa đến một nền kiến trức và
hệ thống tượng phật đa dạng và phong phú
Về kiến trúc Để chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và nguy hiểm của cuộc sống, con người phải làm nhà để ở Người Việt ban đầu làm nhà sàn bằng
gỗ rồi làm nhà đất bằng tre và sau này thì có những ngôi nhà bằng gạch kiểu nhà ngói ba gian Nhưng khi Phật giáo du nhập vào thì hai loại hình kiến trúc mới đã xuất hiện: chùa và tháp
Ngôi chùa của Phật giáo sau khi ra đời đã dần chiếm lấy địa vị trung tâm của làng và trở thành nơi quần tụ văn hóa, những ngôi chùa như: chùa Dâu (Bắc Ninh) chùa Thầy (Hà Nội) là những nơi như thế Nền chùa thường cao thành ba bậc tượng trưng Tam giới Phật điện nhiều bậc bệ cao dần lên tượng trưng núi
Tu Di mà người nông dân Việt Nam không biết Những chư vị Phật ngồi trên những tầng bậc từ thấp đến cao là một cách bài trí hoàn toàn khác bàn thờ ttrong nhà của người dân
Chùa Việt không hoàn toàn giống như chùa Trung Quốc.Chùa Trung Quốc là kiến trúc viện lạc gồm nhiều kiến trúc song song với những chiếc sân ngăn cách Ngôi chùa Việt điển hình do hai nhà sư Trung Quốc là Chuyết Chuyết và Minh Hành xây dựng là chùa Bút Tháp, ở đó mang dấu ấn viện lạc trong bình đồ khá đậm Buổi đầu, chùa Việt mô phỏng chùa hang Ấn Độ cho nên hình thành cấu trúc chuôi vồ rất phổ biến trong các chùa làng Một số ngôi chùa tiêu biểu ở Hà Nội hiện nay thuộc mô hình này như chùa Hồng Phúc (chùa Hòe Nhai), chùa Liên Phái, chùa Linh Quang (chùa Bà Đá)
Phật điện phát triển để chùa có một kiến trúc mới: chùa chữ “Công” Có thể thấy chùa Diên Ứng (Bắc Ninh) là một tiêu biểu Dạng kiến trúc này thường thấy có tường bao quanh và trở thành kiểu Nội công ngoại quốc như chùa Chiêu Thiền (chùa Láng) ở Hà Nội Thông thường, loại hình kiến trúc này của chùa thuộc loại hình chùa quy mô lớn
Chùa chữ “Tam” là một loại kiến trúc khác của chùa Việt có ảnh hưởng của chế độ viện lạc Trung Quốc, như chùa chùa Thầy, chùa chùa Tây Phương, chùa Một Cột ở Hà Nội Trong những ngôi chùa nêu trên, thì chùa Một Cột (chùa Diên Hựu) được xây dựng năm 1049, là một sản phẩm tiêu biểu không thể không đề cập Đó là sáng tạo của các nhà kiến trúc giữa thế kỉ XI, theo ý tưởng giấc mơ của vua Lý Thái Tông về một bông sen Chùa Một Cột được coi là biểu
Trang 9tượng của Thủ đô nghìn năm văn hiến, là một danh thắng nổi tiếng mà ai đã từng đến Hà Nội không thể không ghé qua Từ góc độ khoa học, đã có ý kiến cho rằng, chùa Một Cột chính là một loại hình điện thờ tư nhân sớm nhất được xây dựng phục vụ cho một cá nhân cụ thể - vua Lý Thái Tông
Ngày nay, do mô hình kiến trúc đã hiện đại hóa xuất hiện chùa dạng nhà lầu với phác đồ theo chiều thẳng đứng: Tầng dưới là nơi thuyết pháp cho tín đồ mang tính chất Tiền đường, tầng trên là Phật điện mang tính chất Thiêu hương, Thượng điện Chùa thuộc loại này có thể kể tới những ngôi chùa nổi tiếng ở Thành phố Hồ Chí Minh như chùa Xá Lợi, chùa Vĩnh Nghiêm
Chùa ở Nam Bộ lại có kiến trúc kiểu nhà tứ trụ Đó là kiểu kiến trúc nhà rường Bốn cột cách đều nhau ở bốn góc một diện tích hình vuông, từ bốn cột cái, các kèo đấm và kèo quyết đa đều ra bốn hướng Hình vuông được giải thích
đó là một kiểu thức của một ngôi tháp hoặc bắt chước dịch lí gọi là kiểu nhà tứ tượng: Thái Âm - Thiếu Dương - Thái Dương - Thiếu Âm, pha màu sắc phong thuỷ, ảnh hưởng của Đạo giáo và Nho giáo Chùa ở Nam Bộ, từ đầu thế kỉ XX đến nay, đã có nhiều canh tân, do vậy chưa định hình được một mẫu mực nhất định Chùa Khmer lại thuộc một mô hình khác Mô hình chùa loại này thông thường là một tứ giác có nhiều tầng bậc chỉ thờ một tượng Thích Ca Trên các thềm bậc có những tháp vây quanh và một cửa cổng rất đặc sắc với hai Ápxara hai bên góc như chùa Svay Ton (chùa Xà Tón) ở An Giang, gợi cho người ta liên tưởng tới cổng tháp Sanchi nổi tiếng của Ấn Độ
Chùa ở vùng Huế bắt đầu được xây dựng từ thời chúa Nguyễn Hoàng và phát triển mạnh ở thời các vua Nguyễn Chùa ở đây chủ yếu được xây dựng, tu
bổ, tôn tạo dưới sự bảo trợ của triều đình và hoàng gia Về cơ bản, những ngôi chùa ở đây có pha nét kiến trúc cung đình Có thể kể tới những ngôi chùa nổi tiếng của vùng đất này như chùa Thiên Mụ, chùa Quốc Ân, chùa Báo Quốc, chùa Từ Hiếu, chùa Từ Đàm
Kiến trúc chùa Phật ở Việt Nam còn là kiến trúc sinh thái, hòa hợp cùng thiên nhiên Những ngôi chùa trở thành danh lam thắng cảnh nổi tiếng được xây dựng trên những núi non, sông nước kì vĩ Hệ thống quần thể chùa Hương Tích (Hà Tây), quần thể Yên Tử (Quảng Ninh), chùa Tây Phương, chùa Thầy, chùa Trấn Quốc (Hà Nội), chùa Non Nước, chùa Bái Đính (Ninh Bình), chùa Tam Chúc (Hà Nam) chùa Tây An cổ tự (An Giang), chùa Thiên Mụ (Huế) là những ngôi chùa được ẩn hiện trong môi trường thiên nhiên với những cây đại thụ, những hương hoa cùng chim chóc càng làm tăng thêm sự linh thiêng của không gian nơi đất Phật
Bên cạnh dấu ấn kiến trúc chùa, tháp với những tên tuổi nổi tiếng thì không thể không đề cập tới một hệ thống tượng Phật vô cùng phong phú trong
Trang 10đóng góp về vật chất của Phật giáo ở Việt Nam Đó là những pho tượng Thích
Ca, Phổ Hiền, Văn Thù; những pho tượng Di Lặc, Đại Diệu Tường, Pháp Hoa Lâm; A Di Đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí; Tuyết Sơn ; những bộ tượng Cửu Long, tượng Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn; tượng thập bát La hán; tượng thập điện Diêm vương; tượng Hộ pháp Ngoài những tượng Phật còn có các tượng Tổ hay tượng Hậu Phật điện trong mỗi vùng, mỗi ngôi chùa cụ thể khác nhau hoàn toàn Phật giáo đã để lại những pho tượng đẹp nổi tiếng như tượng Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn (Khoái Châu, Hưng Yên) Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh) đã được đánh giá là “pho tượng đẹp nhất trên Phật điện”, tượng A Di Đà chùa Phật Tích, tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương, tượng
La hán chùa Tây Phương đã đi vào thơ ca, văn học, v.v Bên cạnh đó, chùa Việt còn để lại những pho tượng đồng nổi tiếng như hai pho tượng đồng ở Đồng Dương (Quảng Nam), đã trở thành kiệt tác trong làng tượng Phật Việt Nam Một vài thập niên trở lại đây, du khách cũng như Phật tử khi đến miền Nam còn nhìn thấy những pho tượng Phật và tượng Quán Thế Âm kích thước đồ sộ bằng thạch cao hay xi măng cốt thép được đặt trên những cao điểm, từ xa đã có thể trông thấy
Trên đây là những đóng góp về văn hóa vật thể của Phật giáo, chính điều
đó nó làm cho hệ thống văn hóa vật thể của Việt Nam trở nên đa dạng và phong phú hơn
2.3 Phật giáo và đóng góp về phần lễ nghi trong sinh hoạt của người Việt
Nghi lễ Phật giáo là những hình thức và nội dung được thể hiện trong toàn
bộ hoạt động của Phật giáo từ nếp sống sinh hoạt của Tăng già, sự bố trí của tổ chức giáo hội, sự sắp xếp của một ngôi chùa, cách giao tiếp ứng xử giữa những người tương quan với nhau trong Phật giáo Có thể thấy rằng các nghi lễ nhằm mục đích chuyển tải giáo lý giải thoát vào cuộc sống, mang ý nghĩa tâm linh của các đệ tử Phật và chúng sanh nó cũng có ý nghĩa như là sự trú ẩn về tinh thần trước những phong ba của cuộc đời
Nói đến nghi lễ là nói đến một hình thái văn hóa, nét văn hóa đó thể hiển trong nếp sống từ gia đình cho đến xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là nghi lễ cúng bái trong các tự viện Khi Phật còn tại thế, ngài đã khéo léo dùng vô số
phương tiện để hóa độ chúng sanh trên tinh thần “tùy duyên bất biến” Chư tổ
đã tiếp nối không ngừng tùy thuận với tín ngưỡng tâm linh của quần chúng nhân gian để ứng dụng vào việc tùy duyên giáo hóa
Khi Phật giáo đã trở thành Phật giáo Việt Nam thì Nghi lễ Phật giáo nước
ta là Nghi lễ có sự hòa nhập của nghi lễ dân gian, nghi lễ cung đình (nhất là phần âm nhạc) mang sắc thái của ba miền Bắc, Trung, Nam Tất cả hòa nhập