MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thần thánh của dân tộc ta là nguồn cảm hứng lớn thu hút mọi tâm hồn nghệ thuật đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc Đứng chung trong đội ngũ những nhà thơ chiến sĩ, Quang Dũng hiện lên như một gương mặt riêng, một điểm nhấn của thơ chống Pháp Có thể nói Quang Dũng là một trong số những cây bút tiêu biểu có vị trí quan trọng trong nền thơ hiện đại những năm chống Pháp Việc tìm hiểu, nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Qua.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thần thánh của dân tộc ta là nguồn cảm hứng lớn thu hút mọi tâm hồn nghệ thuật đi theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc Đứng chung trong đội ngũ những nhà thơ - chiến sĩ, Quang Dũng hiện lên như một gương mặt riêng, một điểm nhấn của thơ chống Pháp Có thể nói Quang Dũng là một trong số những cây bút tiêu biểu có vị trí quan trọng trong nền thơ hiện đại những năm chống Pháp Việc tìm hiểu, nghiên cứu thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng là một việc làm cần thiết
Trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại Quang Dũng là một hiện tượng đặc biệt Ông nổi tiếng từ rất sớm với những thi phẩm tuyệt tác: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Đôi bờ Riêng đối với Tây Tiến, tác phẩm đã thành khúc tráng ca của những người lính hào hoa, lãng mạn, sẵn lòng hiến cuộc đời cho tổ quốc Thế nhưng số phận của những bài thơ ấy cũng thăng trầm như chính cuộc đời của nhà thơ Một thời gian dài sau đó, do hạn chế của cái nhìn thời đại, các sáng tác của Quang Dũng
đã phải nhận những ý kiến áp đặt Nhiều người ngại khi nói về Quang Dũng Bản thân nhà thơ cũng đã nhiều lần từ chối những lời mời đến nhà trường đọc thơ và nói chuyện về Tây Tiến Sáng tác của Quang Dũng bị lãng quên trên sách báo nhưng không lúc nào rời khỏi bộ nhớ của biết bao thế hệ người đọc
Cho đến thời gian gần đây, vấn đề thơ Quang Dũng đang được nhìn nhận lại Nhiều người không ngần ngại tôn vinh Quang Dũng lên vị trí hàng đầu của nền thơ kháng chiến nói riêng và nền thơ thế kỷ XX nói chung Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm sao có những đánh giá xác đáng những đóng góp của Quang Dũng trong lĩnh vực thơ ca cũng như trả lại cho nhà thơ vị trí xứng đáng trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại
Trong thế giới nghệ thuật phong phú của nhà thơ, cái tôi trữ tình của Quang Dũng, tuy đa dạng nhưng nghiêng hẳn về cái tôi trữ tình đời thường mang ý nghĩa nhân văn, như một lối rẽ riêng độc đáo trong hình tượng thơ Quang Dũng
Hiện nay bài thơ Tây Tiến đã được đưa vào giảng dạy trong sách giáo khoa lớp 12 phổ thông như một phần khẳng định tài năng và đóng góp của Quang Dũng Cũng chính tác phẩm này được khắc ghi trên đài tưởng niệm các liệt sĩ Tây Tiến ở Châu Trang (Hòa Bình) Dù vậy, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nào chuyên sâu
về thơ Quang Dũng mà chỉ có những nhận xét đánh giá về thơ Quang Dũng rải rác xuất hiện ở các bài báo, tạp chí phê bình Cho nên, đối với một nhà thơ tài năng,
Trang 2tâm huyết như Quang Dũng, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện,
có hệ thống, dựa trên những cơ sở lí luận chặt chẽ
Vì thế việc lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng với mong muốn góp phần làm rõ những đặc sắc của thơ Quang Dũng trên cơ sở lý luận về thơ trữ tình, khẳng định lại vị trí của Quang Dũng trên tiến trình thơ Việt Nam hiện đại, góp phần cảm thụ và giảng dạy tốt hơn thơ Quang Dũng trong nhà trường phổ thông
2 Mục đích nghiên cứu
Khám phá thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng qua các mặt: cái tôi trữ tình (cái tôi lãng mạn cách mạng, cái tôi bình dị và hào hoa, cái tôi lãng du, yêu tự do và tuổi trẻ), hình tượng đất nước và con người, giọng điệu, ngôn ngữ và thể loại, lấy đó làm cơ sở để đánh giá những cách tân về mặt nghệ thuật trong thơ Quang Dũng Qua việc khám phá thế giới nghệ thuật thơ Quang Dũng cũng góp phần khẳng định
vị trí của Quang Dũng trong thơ ca kháng chiến chống Pháp cũng như trong toàn
bộ thơ ca Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là tất cả các bài thơ của Quang Dũng từ khi ông bắt đầu sáng tác với tác phẩm đầu tay Chiêu Quân (1937) cho đến khi ông mất
4 Lịch sử vấn đề
Quang Dũng có những sáng tác từ trước năm 1945, nhưng chỉ đến năm 1948 ông mới “thành công đến kỳ quái” (Trần Mạnh Hảo) ở bài thơ Tây Tiến Đó cũng là lúc ông thực sự được giới nghiên cứu phê bình văn nghệ chú ý tới Từ đó đến nay, đã
có hàng chục bài viết về hiện tượng thơ Quang Dũng, trong đó có nhiều cây bút tên tuổi, có uy tín như Xuân Diệu, Hoài Thanh, Vân Long, Trần Lê Văn, Mai Hương, Lưu Khánh Thơ, Hoài Việt Ngoài ra không thể không kể đến những bài viết của các cây bút trong văn nghệ miền Nam trước năm 1975 như Viên Linh, Viễn Di, Lê Hoàn Tân, Vũ Bằng, Xuân Vũ, Trần Hoài Thư Những đánh giá về thơ Quang Dũng cũng phong phú, phức tạp và trải qua nhiều bước thăng trầm như chính cuộc đời nhà thơ vậy
- Phương pháp miêu tả, so sánh, đối chiếu
Trang 3- Phương pháp phân tích tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn
Quang Dũng là một cây bút có vị trí quan trọng trong thơ ca kháng chiến chống Pháp Sau ngày đất nước thống nhất ông lại tiếp tục có những bài thơ gây được sự chú ý của người đọc Qua luận văn này, chúng tôi đã cố gắng đánh giá thơ Quang Dũng trên các mặt cái tôi trữ tình, hình tượng trữ tình, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu thơ Quang Dũng từ đó khẳng định vị trí của thơ ông trong nền thơ kháng chiến giai đoạn đầu tiên Đồng thời luận văn hướng tới một công việc thiết thực là góp phần giúp cho việc giảng dạy thơ Quang Dũng trong nhà trường được tốt hơn Ngoài ra, luận văn cũng tìm được một số tác phẩm thơ Quang Dũng ít được người đọc biết đến Thiết nghĩ đó cũng là nguồn tư liệu để các nhà nghiên cứu, bạn đọc
Ngoài các phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:
Chương 2: Hình tượng đất nước và con người Chương 3: Thể thơ, ngôn từ và giọng điệu
CHƯƠNG 1: CÁI TÔI TRỮ TÌNH
1.1 Cái tôi lãng mạn
Trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ, cái tôi trữ tình có vai trò vô cùng quan trọng Thơ ca bao giờ cũng là tiếng nói chủ quan, nội cảm, tiếng nói “độc bạch” của cá nhân nhà thơ trước cuộc đời Cái tôi trữ tình là trung tâm cảm nhận và phản ánh thế giới của chủ thể trữ tình cho nên nó cũng là cốt lõi, hạt nhân của thế giới nghệ thuật nhà thơ Mỗi bài thơ ra đời chất chứa biết bao tâm tư, tình cảm, khát vọng, trăn trở, thậm chí đớn đau của nhà thơ với những vấn đề của cuộc sống Sức hấp dẫn của thơ khởi nguồn từ tiếng thơ riêng biệt, độc đáo của cái tôi trữ tình nhà thơ thể hiện trong thơ Với Quang Dũng, cái tôi trữ tình chính là đóng góp nổi bật nhất mà ông để lại cho cuộc đời, cho thơ ca
Quang Dũng tên thật là Bùi Đình Diệm (Dậu), sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây, trong một gia đình nho giáo làm nghề buôn bán nhỏ Bút danh Quang Dũng chính là tên con trai đầu của nhà thơ - Bùi Quang Dũng Ngoài ra có lúc ông còn dùng bút danh Trần Quang Dũng như một sự tri ân dành cho người bạn thơ Trần Lê Văn
Trang 4Lớn lên, Quang Dũng được gia đình cho ra Hà Nội học Ngoài học văn ông còn học vẽ, học võ Ra đời có lúc ông còn làm cả nghề giáo học Sau đó, ông vượt biên giới đi tìm chân lý và sau ngày Cách mạng thành công, ông gia nhập đoàn quân Tây Tiến Dù chỉ ở Trung đoàn Tây Tiến có một năm nhưng ấn tượng về những ngày tháng gian khổ mà hào hùng ở Tây Tiến đã đi suốt đời ông, đi suốt thơ ông Tháng 08.1951, Quang Dũng xuất ngũ nhưng ông vẫn tiếp tục hoạt động văn nghệ
ở Liên khu III cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp
Hòa bình lập lại, Quang Dũng làm biên tập viên báo Văn nghệ, rồi làm biên tập viên nhà xuất bản Văn học Ông nghỉ hưu năm 1978 Từ năm 1983, nhà thơ bị tai biến mạch máu não Sau một thời gian dài lâm bệnh, Quang Dũng đã từ trần vào ngày 13.10.1988 tại Hà Nội
Quang Dũng là một nghệ sĩ nhiều tài năng: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, sáng tác nhạc Trong lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp nhưng thành công nhất vẫn
là thơ
Quang Dũng có những sáng tác đầu tay từ năm 16 tuổi Hai bài thơ Chiêu Quân (1937) và Cố Quận (1940) là những tác phẩm đặc sắc, mang dáng dấp Thơ mới rõ rệt Nhưng Quang Dũng chỉ thực sự được bạn đọc biết tới với bài thơ Tây Tiến (1948) - khúc tráng ca của những người chiến sĩ trẻ tuổi lên đường vì non sông đất nước - khi nhà thơ đã 27 tuổi Sau Tây Tiến, Quang Dũng sáng tác nhiều hơn và cũng có nhiều tác phẩm nổi tiếng: Mắt người Sơn Tây (1949), Lính râu ria (1949), Đôi bờ (1948), Quán nước (1948) Song phần lớn các tác phẩm của ông được lưu truyền bằng con đường viết tay hay truyền miệng Mãi đến năm 1956, ông mới xuất bản tập thơ đầu tiên - Bài thơ sông Hồng (Nxb Văn nghệ, 1956) Năm sau, ông tiếp tục có tập thơ Rừng biển quê hương (in chung với Trần Lê Văn - Nxb Hội nhà văn, 1957) Đến cuối đời, nhà thơ dồn hết tâm huyết cho ra đời tập thơ Mây đầu ô (Nxb Tác phẩm mới, 1986) Tập thơ có tính chất tổng kết cả đời thơ Quang Dũng từ những ngày Tây Tiến cho đến khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Ở Quang Dũng, từ con người, cuộc đời đến thơ ca đều toát lên một chất lãng mạn thật độc đáo, hấp dẫn Đỗ Lai Thúy cho rằng “Quang Dũng là một kẻ lãng mạn, lãng mạn đến chót mùa” [111, tr 1] Điều ây được hình thành từ hai nguồn ảnh hưởng rất lớn: quê hương xứ Đoài và sự tác động của trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 Quê ông là làng Phượng Trì “khố nối ăn chơi đủ vành” (ca dao), nói rộng ra là cả một vùng Sơn Tây đất đá ong khô “nơi người Việt cổ làm nương rẫy và đặt bàn chân đầu tiên khi bước xuống đồng bằng Từ châu thổ họ đi
Trang 5tứ xứ, nhưng luôn nhớ về mảnh đất gốc, luôn thả hồn theo những đám mây trắng trôi về đậu đỉnh Ba Vì” [111, tr l], Đây chính là vùng đất đã sản sinh ra những người con tài tử như Tản Đà - nhà thơ “Tài cao phận thấp chí khí uất/ Giang hồ mê chơi quên quê hương”, cũng là vùng đất đã truyền lại cho Quang Dũng dòng máu giang hồ và sự hoài niệm quê hương
Khi còn trẻ, Quang Dũng “rất mê Đường thi tam bách thủ nhưng cũng “say Thơ mới như bất cứ một học sinh nào thời đó” [71, tr 97] Ông đọc nhiều Thạch Lam, thích nhân vật Dũng của Nhất Linh nhưng có lẽ kẻ giang hồ “Rũ áo phong sương trên gác trọ” trong thơ Thế Lữ là có sức quyến rũ nhất Quang Dũng tâm sự: “Tôi thích thơ Thế Lữ hơn cả, đặc biệt là bài Nhớ rừng, bởi chất tâm trạng sơn dã của nó” [71, tr 97] Bài thơ Tây Tiến và cả những tác phẩm sau này của Quang Dũng chịu ảnh hưởng không nhỏ của văn học lãng mạn, đặc biệt là thơ Thế Lữ
Nhưng con người Quang Dũng, hồn thơ Quang Dũng vẫn có sự khác biệt về căn bản so với Thơ mới, bởi vì phẩm chất lãng mạn trong cá tính Quang Dũng đã được gặp gỡ Cách mạng, được chân trời Cách mạng nuôi dưỡng “Hào khí của thời đại
đã chấn động trong tâm hồn anh, và tiếng thơ riêng biệt của anh có phần âm vang của hào khí ấy” [96, tr 8]
Những nẻo đường Tây Tiến: Sông Mã, Mai Châu, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông, Sài Khao đã kích thích trí tưởng tượng của nhà thơ, đẩy cảm xúc của nhà thơ lên đến cao độ Gian khó đến tột bậc mà hào hùng thì cũng vô cùng Đường hành quân vất vả, thiếu trang bị, thiếu thuốc men, sốt rét rừng làm cho đoàn quân
“không mọc tóc”, “xanh màu lá”, nhưng người lính vẫn lạc quan yêu đời Sau này, hồi tưởng về những ngày tháng Tây Tiến, Quang Dũng vẫn còn lâng lâng cảm xúc:
“Họ đã đem đến những nơi sâu thẳm nhất của bản đồ đất nước những âm điệu hùng hồn, những lời ca tin tưởng của cả một dân tộc đang chiến đấu Họ đem đến nguồn vui mới lạ cho tâm hồn của đồng bào miền núi khi được trông thấy ánh lửa trại lấp lánh trên những chiếc kèn đồng” [99, tr 31]
Vì thế, chất lãng mạn, niềm lạc quan, yêu đời đã ngấm vào hồn thơ Quang Dũng từ hiện thực hào hùng của cuộc chiến, tạo cho tiếng thơ Quang Dũng một âm hưởng rất lạ: âm hưởng lãng mạn Cách mạng Cái tôi ấy có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực cách mạng và tiếng thơ trữ tình tha thiết “Yếu tố hiện thực đã tràn vào tâm hồn lãng mạn của nhà thơ, làm biến đổi chất lãng mạn đó Đồng thời tâm hồn lãng mạn ấy lại phả lên hiện thực cái màn sương khói lung linh, làm cho sự gian lao nhòe đi, có lúc thăng hoa thành những hình tượng kỳ vĩ, độc đáo” [56, tr 49] Cái tôi thơ Quang Dũng là cái tôi yêu đất nước, yêu dân tộc, yêu nhân dân, sẩn sàng xả thân hy sinh vì tổ quốc đồng thời lại mang tâm hồn bay bổng, diệu kỳ Trong lao khổ ông mong tới ngày mai tươi sáng, lúc khó khăn, khi đối diện với cái
Trang 6chết, thơ ca vẫn tin tưởng vào tương lai tốt đẹp Trong thơ Quang Dũng, sự sống dù được trải trên nền bom đạn vẫn xanh non, tươi mát, biểu hiện sự bất diệt của đất nước, của nhân dân:
Không một quán lều chưa phá
Na pan, bom bướm, bom dây
Nhưng bên những hố bom
Chuối, đu đủ lại trồng quanh
Quán lều thay lá mới
Mùi lạt thơm xanh
(Đường Mười hai)
Nhà thơ tuy đứng trong cái thực tại của ngày hôm nay còn nhiều thiếu thốn, nhưng
tâm hồn luôn hướng vào ngày mai chiến thắng: Những mái nhà tươi cờ chiến thắng
Phố phường thu đến nắng xôn xang…
Đường qua gian khổ bao ngày tháng
Từng nghe thu lại ấm hương đời
(Một mùa thu)
Có thể nói, cái tôi lãng mạn Cách mạng thơ Quang Dũng là biểu hiện tập trung của chủ nghĩa Cách mạng anh hùng Tuy nhiên hòa nhập vào số đông mà không đánh mất đi bản sắc, gắn với cái ta mà vẫn nguyên vẹn cái tôi, đó mới chính là bản lĩnh của hồn thơ Quang Dũng Sức hấp dẫn của cái tôi Quang Dũng là ở một cái tôi mang nét tráng sĩ cổ điển, được thể hiện trong bối cảnh thời đại mới Trong cuộc đời, người ta chú ý nhiều đến “vóc dáng trượng phu lừng lững” của nhà thơ Trong thơ ca, âm hưởng lãng mạn thơ Quang Dũng được thể hiện ở sự cảm thụ cuộc sống một cách cá nhân, riêng tư, mang hơi hướng phiêu lưu, tài tử Nhiều người đọc ở Tây Tiến và nhiều bài thơ khác “chất phiêu lưu”, “ưa thám hiểm”, chất “đường rừng” trong thơ Người lính đến với Tây Tiến như đến với một cuộc thám hiểm để khám phá thiên nhiên mà cũng là khám phá chính tâm hồn mình Tâm hồn họ hít thở không khí của Tây Tiến, cảm nhận Tây Tiến và hòa nhập vào Tây Tiến Những bức tranh thiên nhiên hoành tráng, thăm thẳm, ngút ngàn đã hút lấy tâm hồn họ:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
(Tây Tiến)
Cuộc chiến những như thế, rõ ràng không chỉ là ta và địch, mất và còn, mà còn là cuộc khám phá Thế nên mới có những sửng sốt “Kìa em xiêm áo tự bao giờ”, những bâng khuâng “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”, những “mộng” và “mơ” - mộng “qua biên giới” và mơ về “dáng kiều thơm” Người lính Tây Tiến cũng
Trang 7không lẫn vào số đông những người lính khác trong thời đại mà cái “chung”, cái
“đại chúng” được đặt lên làm tiêu chí hàng đầu Họ là những con người anh hùng, hiên ngang nhưng vẫn mang sắc thái riêng của mình: từ dáng hình (“không mọc tóc”, “dữ oai hùm”, “xanh màu lá”) đến tâm trạng (“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”) Cho đến cái chết cũng rất tài tử: “Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Chính điều đó tạo nên cho thơ Quang Dũng một dấu ấn riêng, một sắc thái riêng
“hào hoa và tráng lệ” [87, tr 32] Nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ gọi đó là “khẩu khí anh hùng” và “nó như là một âm điệu, là sản phẩm của một thời, nếu thiếu nó gần những như là thiếu đi nét đặc trưng của giai đoạn” [87, tr 32]
Quang Dũng yêu những hình ảnh kỳ vĩ, lớn lao, có hứng thú với những bức tranh
“xanh thắm, bi tráng, ngút ngàn” Thơ ông là thơ của những núi cao, rừng thẳm, vực sâu, mưa nguồn, thác dữ, cọp trêu người:
Một rừng già trong bão táp
Hiên ngang che chở nắng mưa dân tộc
Ngàn vạn dòng khe tung nước trắng
Ngàn bản hùng ca reo chiến thắng
(Rừng)
Tình cảm trong thơ ông cũng phải là những cảm xúc mãnh liệt, khi đau đớn đến tột cùng, lúc lại sôi nổi, tự hào:
Thôi nhé Miền xuôi! Thôi tạm biệt
Cống Chéo - Đồng Xuân thề một chết
Hàng gai - tay bỏng trục ba càng
Đất cũ Thăng Long người lẫm liệt
(Những làng đi qua)
Để thể hiện điều đó, Quang Dũng đã sử dụng rất thành công bút pháp đối lập trong miêu tả cảnh vật và thể hiện cảm xúc Nhiều câu thơ trong Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Những làng đi qua đã đạt đến độ cổ điển bằng cách miêu tả như thế Viết
về cái gian khó buổi đầu Cách mạng, có gì gợi hơn bằng những câu thơ thế này:
Nhớ buổi Trung Đoàn ta ra đi
Tháng Chạp màn sương trùm đất nước
Gió mùa chết héo mạ non xanh
Sương muối thấm vào bao đạn ướt
(Những làng đi qua)
Nhưng chính sự gian khó ấy mới là cái nền cảm xúc để tô đậm cái hào hùng thiêng liêng của dân tộc:
Ta đi!
Tháp đứng nghiêm hồ lạnh
Trang 8Hoàn Kiếm đêm đêm giặc rụng rời
Màu đỏ sao bay về đỉnh tháp
Chiến hào xuân đến tiếng ca vui
(Những làng đi qua)
Cái tôi lãng mạn Cách mạng thơ Quang Dũng là một cái tôi trữ tình giàu mơ mộng, thích tưởng nhớ Có thể nói, thơ ông là cả một miền thương nhớ
Nỗi nhớ, niềm thương cứ bàng bạc tỏa ra trong khắp các bài thơ, các câu thơ của ông tạo thành một thứ không gian riêng, rất đặc biệt: không gian của tình thương nhớ Chỉ 47 bài thơ, cũng đã 47 lần nhà thơ dùng chữ “nhớ”, 12 lần dùng từ
“thương” “Thương” và “Nhớ” đi về trong thơ Quang Dũng như một nỗi ám ảnh, với rất nhiều cung bậc khác nhau Từ những nỗi nhớ cụ thể: “Nhớ buổi Trung Đoàn ta ra đi”, “Nhớ ơi Tây Tiến cơm lên khói”, “Bên này đất nước nhớ thương nhau”, “Em đã bao ngày em nhớ thương”, “nhớ mẹ ngày xưa”, “nhớ mái rừng xanh”, “nhớ sông quê”, “nhớ mây làng về trưa”, “nhớ bạn”, “nhớ quê nhà”, “nhớ
về đất nhỏ Sơn Tây” đến những nỗi nhớ mông lung trừu tượng: “Chiều ấy em về thương nhớ ai?”, “Bên này em có nhớ bên kia?”, “Buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu”, “Tôi gửi niềm thương nhớ”, “ Tối gặp nàng như gặp nhớ thương”, “Có một hương gì gây nhớ thương”
Cùng với nỗi nhớ là những định ngữ miêu tả nỗi nhớ: “nhớ thầm”, “nhớ chơi vơi”,
“thương nhớ ơ hờ”, “buồn nhớ thương ai lòng hiu hiu” Riêng với Tây Tiến, nỗi
“nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” - cái nỗi nhớ miên man, bồng bềnh, mông lung mà lại da diết, sâu thẳm đến tận tâm can đã trở thành nỗi ám ảnh, day dứt bao nhiêu thế hệ bạn đọc bởi tính độc đáo và cực kì chân xác của nó
Trong thơ Quang Dũng, từ ghép đẳng lập “nhớ thương” xuất hiện với tầng số khá cao (12 lần/ 47 bài) Với nhiều người, “nhớ” và “thương” bao giờ cũng có nét nghĩa khác nhau, nhưng với Quang Dũng, nhớ và thương dường như chỉ là một, hòa quyện, trộn lẫn vào nhau trong một nguồn cảm xúc, trong nhớ có thương, trong thương có nhớ Vì thế, có khi ông dùng hai chữ “thương nhớ”, có lúc lại dùng “nhớ thương”, không phân biệt: “Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai”, “Bên này đất nước nhớ thương nhau”, “Chiều ấy em về thương nhớ ai”-, “Tôi gửi niềm thương
nhớ”
Cùng với nỗi nhớ, niềm thương là một hệ thống thời gian nghệ thuật thích hợp để biểu hiện cái tôi trữ tình mơ mộng và giàu cảm xúc Thơ Quang Dũng thường có hai kiểu thời gian: thời gian nghệ thuật chiều tối và thời gian nghệ thuật kỉ niệm, hồi tưởng
Nếu cái tôi trữ tình Quang Dũng thích mơ mộng, hay tưởng nhớ thì thời gian nghệ thuật trong thơ ông cũng là thời gian của cái gợi về, nhớ về Trong cuộc đời, con người thường sống với thời gian hiện tại, nhưng tâm hồn ít khi chịu đứng yên trong cái hiện tại Khi vui buồn, lúc cần một điểm tựa họ thường hướng tới tương lai hay
Trang 9chìm đắm vào quá khứ Thơ kháng chiến là thơ của thời gian ngày mai tươi sáng, rực rỡ, tốt đẹp Nhưng với riêng Quang Dũng, người chịu ảnh hưởng khá sâu của Thơ mới, thời gian nghệ thuật lại là thời gian hồi tưởng, thời gian kỉ niệm Kiểu thời gian này xuất hiện trong 24/ 47 bài thơ Quang Dũng (tỉ lệ 51%) Thế giới thơ ông nhiều khi là thế giới của quá khứ, của “nhớ về” và “trở về”: “Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi” (Tây tiến), “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn”(Mắt người Sơn Tây),
“Ngày ấy ra đi người hẹn núi/ Bây giờ đất nước đã hồi xuân “(Nhớ một bóng núi),
“Hai mươi năm về xưa/ Cùng nhau từng kết bạn”(Trông bạn), “Ngồi đây vời tưởng đường quê hương/Lúa đã xanh xanh mấy nẻo làng”(Thu)
Đây là thời gian rất hợp cho việc thể hiện cái tôi lãng mạn Quang Dũng Bởi vì cuộc sống được miêu tả qua lăng kính của nỗi nhớ và thời gian kỷ niệm bao giờ cũng đẹp hơn, cảm xúc hơn Con người trong quá khứ là những con người đẹp:
Các cô hàng xén ngày xưa
Gương tròn bỏ túi
Tay giắt hoa nhài
Hay ngậm ngùi xem Nhị Độ Mai
Gấp trang sách thương đời Cúc Hoa
(Những cô hàng xén)
Tình yêu trong quá khứ càng lung linh kỷ niệm:
Em mãi là hai mươi tuổi
Ta mãi là mùa xanh xưa
(Không đề)
Tuy nhiên, kiểu thời gian quá khứ, thời gian kỷ niệm trong thơ Quang Dũng không hoàn toàn giống với kiểu thời gian quá khứ trong Thơ mới Bởi vì nếu các nhà Thơ mới tìm đến quá khứ như một sự chạy trốn, dễ rơi vào bế tắc thì Quang Dũng lại tìm được một điểm tựa thời đại vững chắc để bộc lộ tâm hồn khoáng đạt của mình Thời gian chiều tối cũng góp phần đáng kể vào việc xây dựng cái tôi lãng mạn Quang Dũng Trong thơ ông, buổi chiều xuất hiện ở 14/47 bài, buổi tối xuất hiện ở 16/47 bài Buổi chiều là khoảng thời gian con người có dịp để suy ngẫm về cuộc đời và bâng khuâng, tưởng nhớ Ca dao xưa có những câu rất hay về buổi chiều:
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Quang Dũng cũng góp cho những câu thơ về buổi chiều một nỗi nhớ sâu lắng:
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì
(Mắt người Sơn Tây)
hay một cảm giác miên man:
Nhặt gốc tre khô
Ta nhom ấm nước
Chiều từ đâu
Trang 10Mà lạnh đến từ đâu?
(Thu quê ai)
Quang Dũng có hứng thú với thời gian “đêm”, đặc biệt là những đêm trăng Có khi
đó là những đêm vui, đêm ấm tình đồng đội: “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” (Tây tiến), “Lều trại bay tro, đêm lửa trại” (Những làng đi qua), “Lửa bếp hồng thêm, người đến thêm/ Chuyện vui chiến dịch kể thâu đêm” (Ngựa) Nhưng cũng
có khi là những đêm buồn, đêm của nỗi nhớ thương, lưu luyến:
Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa
Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ
(Đôi bờ)
Có thể nói, về cơ bản, cái tôi Quang Dũng tiêu biểu cho kiểu cái tôi lãng mạn Cách mạng thời kháng chiến Nhưng cái tôi ấy cũng có những nét độc đáo, khác biệt so với các nhà thơ cùng thời: cái tôi Quang Dũng mang chất tráng sĩ cổ điển trong cách cảm nhận cuộc sống, miêu tả những hình ảnh kỳ vĩ, lớn lao đồng thời là một cái tôi giàu mơ mộng, thích tưởng nhớ, thể hiện ở việc tập trung miêu tả nỗi nhớ cũng như cách xây dựng không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật riêng Chính điều đó làm nên dấu ấn của cái tôi Quang Dũng trong thơ kháng chiến
1.2 Cái tôi bình dị và hào hoa
Quang Dũng là người rất bình dị trong cuộc đời Nhiều người bạn nhận xét về ông:
“Dũng mà rất hiền, rất lành ( ), chữ lành để nói về ông mới thật sự đủ nghĩa và thỏa lòng” [48, tr 323] Lối sống của ông thật giản dị Ông biết tìm thấy niềm vui
và sự thỏa mãn tột cùng trong những cái bình dị, đơn giản nhất “Đặc sản” khoái khẩu nhất của Quang Dũng, như nhà văn Thanh Châu nhớ lại là “khoai lang hàng
bà cụ phố Tuệ Tĩnh, kẹo vừng ông lão ngồi cửa chợ Hôm, quán cơm đầu ghế bất kể chợ nào, quán nước chè tươi ” [100, tr 70] Quang Dũng có ngoại hình cao lớn
“vai năm tấc rộng, thân mười thước cao” nhưng đi đâu ông cũng như muốn thu mình lại Là người thuở nhỏ quen khá giả nhưng ông lại học được tác phong sống rất bình dân, cực kỳ dễ hòa đồng ở mọi nơi, mọi lúc Ông không bao giờ muốn trông khác những người xung quanh “Sự nổi danh, sự lưu danh có phần xa lạ với Quang Dũng lúc sinh thời ( ) Ông sống, theo đúng cả nghĩa đen của nó không phải với cao lương mĩ vị mà với mắm muối, tương cà, lều tranh quán lá, kể cả sự chịu đựng cái đói mà không phải nhiều người trong chúng ta đã trải” [48, tr 323] Ông sống gần gũi, hòa lẫn vào nhân dân lam lũ, trong bình dị đời thường Thậm chí ông có thể hòa đồng, chia sẻ cả với những người ăn mày chùa Bà Đá (Hà
Nội)
Quang Dũng sống bình dị nhưng trong cái bình dị ấy đã ẩn chứa chất hào hoa phong nhã của một tâm hồn nghệ sĩ Tên tuổi Quang Dũng gắn với những thi phẩm Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Những làng đi qua, Đường trăng, nhưng ông cũng là tác giả bài hát “Bà Vì mờ cao” với những nốt nhạc sâu lắng, tác giả của những tập truyện kí với phong thái riêng khó lẫn, đồng thời lại hóa thân thành một họa sĩ