TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON --- NGUYỄN THU HUYỀN THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÕ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT T
Trang 1KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-
NGUYỄN THU HUYỀN
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÕ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Giáo dục Tiểu học
Phú Thọ, 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON
-
NGUYỄN THU HUYỀN
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÕ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành Giáo dục Tiểu học
Người hướng dẫn: Ths Đinh Thị Nguyệt Linh
Phú Thọ, 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu đề tài “Thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong dạy học phân môn tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực”, đến nay đề tài đã hoàn thành Với tình cảm trân thành, em xin cảm
ơn Ban lãnh đạo, các thầy cô giáo, cán bộ trường Đại học Hùng Vương; Ban giám hiệu, cán bộ giáo viên trường tiểu học Tân Dân – thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ đã tư vấn, tạo điều kiện tốt nhất cho chúng tôi trong quá trình thực hiện
đề tài
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô trong khoa GDTH&MN, các thầy cô giáo tại trường tiểu học Tân Dân – thành phố Việt Trì
– tỉnh Phú Thọ, Th.S Đinh Thị Nguyệt Linh – giảng viên trực tiếp hướng dẫn
và chỉ bảo, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
NGƯỜI THỰC HIỆN KHÓA LUẬN
Nguyễn Thu Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là kết quả nghiên cứu cá nhân và không sao chép tại các nghiên cứu trước đó Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong đề tài này là trung thực Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc và cho phép công bố
Em xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Phú Thọ, ngày 09 tháng 05 năm 2021
NGƯỜI THỰC HIỆN KHÓA LUẬN
Nguyễn Thu Huyền
Trang 5PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 2
3.1 Trên thế giới 2
3.2 Trong nước 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 5
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.2.1 Phương pháp điều tra, quan sát 5
7.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục (Anket) 5
7.2.3 Phương pháp đàm thoại 5
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 5
7.2.5 Phương pháp thống kê toán học 5
8 Cấu trúc khóa luận 5
PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÕ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TẬP 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.1.2 Trong nước 8
1.1.2 Khái quát về trò chơi và trò chơi học tập 9
1.1.2.1 Trò chơi 9
1.1.2.2 Trò chơi học tập 12
1.1.3 Một số vấn đề về năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực 18
1.1.3.1 Một số vấn đề lý luận về dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực người học 18
1.1.3.2 Năng lực và dạy học theo hướng tiếp cận năng lực 19
1.1.4 Một số vấn đề lý luận về phân môn tập đọc lớp 3 28
1.1.4.1 Mục tiêu của dạy học tập đọc 28
Trang 61.1.4.2 Chương trình tập đọc lớp 3 31
1.1.5 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3 35
1.2 Cơ sở thực tiễn 36
1.2.1 Tầm quan trọng của việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong dạy học phân môn tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực 36
1.2.2 Thực trạng việc tổ chức trò chơi học tập trong dạy học tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực hiện nay 36
1.2.2.1 Mục đích điều tra 37
1.2.2.2 Đối tượng điều tra 37
1.2.2.3 Nội dung điều tra 37
1.2.2.4 Phương pháp điều tra 38
1.2.2.5 Thời gian điều tra 38
1.2.2.6 Phân tích kết quả điều tra thực trạng 38
TIỂU KẾT CHƯƠNG I 42
CHƯƠNG II: TỔ CHỨC MỘT SỐ TRÕ CHƠI HỌC TẬP
TRONG DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 3 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 2.1 Mục tiêu thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong dạy học tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực 43
2.2 Một số nguyên tắc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong dạy học tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực 43
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng trò chơi học tập 43
2.2.2 Nguyên tắc tổ chức trò chơi học tập 44
2.3 Yêu cầu về thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong dạy học tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực 45
2.3.1 Yêu cầu khi thiết kế trò chơi học tập 45
2.3.2 Yêu cầu khi tổ chức trò chơi học tập 47
2.4 Hướng dẫn thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy học tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực 49
2.4.1 Các trò chơi học tập về phát triển năng lực chung 50
2.4.1.1 Các trò chơi học tập về phát triển năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề 50
2.4.1.2 Các trò chơi học tập về phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác 59
2.4.1.3 Các trò chơi học tập về phát triển năng lực tự chủ và tự học 66
2.4.2 Các trò chơi học tập về phát triển năng lực đặc thù 101
2.4.2.1 Các trò chơi học tập về phát triển năng lực văn học 101
2.4.2.2 Các trò chơi học tập về phát triển năng lực ngôn ngữ 103
TIỂU KẾT CHƯƠNG II 106
Trang 7CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích thực nghiệm 107
3.2 Nội dung thực nghiệm 107
3.3 Đối tượng, phạm vi và thời gian thực nghiệm 108
3.3.1 Đối tượng thực nghiệm 108
3.3.2 Phạm vi thực nghiệm 109
3.3.3 Thời gian thực nghiệm 109
3.4 Tiến hành thực nghiệm 109
3.5 Kết quả thực nghiệm 110
3.5.1 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 110
3.5.2 Các bình diện được đánh giá 110
3.5.2.1 Phân tích định tính kết quả thực nghiệm 110
5.2.2.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm 112
3.5.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 114
TIỂU KẾT CHƯƠNG III 115
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116
1 Kết luận 116
2 Kiến nghị sư phạm 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
1 Tài liệu trực tuyến: 119
2 Tài liệu sách: 119
PHỤ LỤC 122
PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA DÀNH CHO GIÁO VIÊN 122
PHỤ LỤC 2: PHIẾU ĐIỀU TRA DÀNH CHO HỌC SINH 126
PHỤ LỤC 3: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 127
PHỤ LỤC 4: BÀI KIỂM TRA KHẢO SÁT HỌC SINH 133 PHỤ LỤC 5: MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG TIẾT DẠY THỰC NGHIỆM 135
Trang 9DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU
Trang
1 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.3: So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp
Bảng 1.5: Ý kiến của GVTH về tầm quan trọng của việc tổ chức trò chơi
Bảng 1.6: Mức độ thường xuyên giáo viên tổ chức trò chơi học tập trong
Bảng 1.8: Thực trạng xây dựng, đào tạo năng lực thiết kế và tổ chức trò
chơi học tập trong dạy học tập đọc của giáo viên trường tiểu học Tân Dân 40
Bảng 1.9: Những khó khăn khi tổ chức trò chơi học tập trong dạy học tập
đọc lớp 3 trường tiểu học Tân Dân
40
Bảng 3.1: Bảng thống kê kết quả đầu vào của lớp thực nghiệm và đối
Trang 102005, chương II, mục 2, điều 28.1) Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học và dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này
Thực tế cho thấy, việc tạo cho học sinh hứng thú nhận thức trong học tập là một trong những yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực, độc lập, sáng tạo Đối với học sinh tiểu học, do đặc điểm về tâm lý lứa tuổi, các em phải được “Học mọi nơi, mọi lúc, từ mọi người, bằng mọi cách, thông qua mọi nội dung” Việc khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh luôn là một yêu cầu trong dạy học và đòi hỏi
ở giáo viên sự linh hoạt, sáng tạo trong phương pháp, cách thức tổ chức cho học sinh tiếp cận kiến thức
Với học sinh lớp 3, do đặc thù tâm sinh lý lứa tuổi, các em vẫn còn ham chơi, chưa thực sự chú tâm tiếp thu kiến thức Vì vậy, việc dạy học nhất là phân môn tập đọc đòi hỏi phải khơi gợi được hứng thú tìm tòi, khả năng tiếp nhận của học sinh Đặc biệt, yêu cầu dạy học môn tiếng Việt lớp 3 theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 đòi hỏi sự tích hợp kiến thức của nhiều bộ môn khác nhau và gắn kiến thức với thực tiễn cuộc sống Điều này đặt ra nhu cầu rất
tự nhiên cho việc thiết kế và tổ chức hệ thống trò chơi học tập theo định hướng phát triển năng lực trong quá trình dạy và học phân môn tập đọc lớp 3 Thiết kế
Trang 11trò chơi học tập theo định hướng phát triển năng lực ở mỗi tiết học tập đọc lớp 3
sẽ khơi gợi được ở học sinh những năng lực tiềm ẩn bên trong, cả về mặt tiếp nhận kiến thức và kĩ năng xã hội, giúp các em nhanh nhạy hơn, hoạt bát hơn, luôn trong tâm thế vui vẻ, tràn đầy sức sống, giảm đi những áp lực học tập mà môn học đem lại, từ đấy các em sẽ nhìn nhận môn học theo chiều hướng tích cực hơn, góp phần nâng cao hiệu quả học tập phân môn tâp đọc lớp 3 trong nhà
trường tiểu học
Qua khảo sát bằng phương pháp hỏi đáp, trao đổi, học tập kinh nghiệm và sử dụng phiếu điều tra Anket trong dạy học môn tiếng Việt tại một số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tôi nhận thấy: Giáo viên đã nhận thức đúng đắn
về tầm quan trọng của việc đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học nhằm gây hứng thú, khơi gợi khả năng khám phá kiến thức cho học sinh trong giờ học Cụ thể, giáo viên đã biết cách áp dụng các trò chơi học tập vào quá trình giảng dạy môn tiếng Việt của mình.Tuy nhiên, những trò chơi học tập ấy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu tối đa trong việc tạo hứng thú cũng như phát triển năng lực cụ thể cho học sinh Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là giáo viên chưa áp dụng một cách hợp lý, linh hoạt trò chơi học tập vào trong quá trình giảng dạy Đa phần, giáo viên chỉ áp dụng một vài trò chơi học tập vào một số hoạt động nhất định
Xuất phát từ những gì nêu trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong dạy học phân môn tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực” để nghiên cứu cho khóa luận của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Thiết kế, tổ chức một số trò chơi học tập trong dạy học phân môn tập đọc 3 Từ
đó góp phần nâng cao hiệu quả, đổi mới phương pháp dạy học phân môn tập đọc
ở tiểu học theo hướng phát triển năng lực người học
- Giúp giáo viên nâng cao chất lượng dạy học trong phân môn tập đọc nói chung
người đẩy đến hành động là do kích thích cảm xúc,
Trang 12Trong số đó không thể không nhắc đến A.L.Xôrôkina đã đưa ra một luận điểm vô cùng quan trọng về đặc thù dạy học kết hợp với trò chơi: "Trò chơi học tập là một quá trình phức tạp, nó là hình thức dạy học và đồng thời nó vẫn là trò chơi Khi các mối quan hệ chơi bị xóa bỏ, ngay lập tức trò chơi biến mất và khi
ấy, trò chơi biến thành tiết học, đôi khi biến thành sự luyện tập" Qua đó cho thấy vai trò của trò chơi hết sức quan trọng, một chút sự thay đổi trong cách giảng dạy tưởng như nhỏ này lại có vai trò vô cùng to lớn đối với tư duy, khả năng ghi nhớ và hứng thú học tập của các em lứa tuổi Tiểu học
Theo N.X.leytex :"Tuổi tiểu học là thời kì của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kì mà sự lĩnh hội chiếm ưu thế" chúng hay tò mò, thích khám điều mới lạ, giàu trí tưởng tượng, Học sinh tiểu học thiếu kiên trì, bền bỉ, dễ hưng phấn nhưng cũng nhanh chán nên chúng không tập trung cao độ Vì vậy, người
GV cần tạo ra hứng thú trong học tập một cách thường xuyên và không thể không nói đến đó chính là tổ chức các trò chơi học tập mới lạ hứng thú, hấp dẫn các em
Đại diện cho khung hướng sử dụng trò chơi học tập làm phương tiện phát triển toàn diện phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng I.A.Komenxiki Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi học tập là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ được phát triển Với quan điểm trò chơi là niềm vui sướng của tuổi thơ, là phương tiện phát triển toàn diện của trẻ, I.A.Komenxki đã khuyên người lớn phải chú ý đến trò chơi dạy học cho trẻ và phải hướng dẫn, chỉ đạo cho trẻ
I.B.Bazedow cho rằng: “Trò chơi là phương tiện dạy học” Ông cho rằng nếu trên triết học, GV sử dụng các phương pháp chơi hoặc tiến hành triết học dưới hình thức chơi sẽ đáp ứng được nhu cầu của người học và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kĩ năng, trò chơi đoán từ trái nghĩa, trò chơi điền các từ còn thiếu, Theo ông những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ
3.2 Trong nước
Nghiên cứu cách tổ chức các trò chơi học tập trong phân môn tập đọc thì nhiều nhà nghiên cứu trong nước đã có những công trình nghiên cứu và những ý kiến xung quanh trò chơi học tập và sử dụng trò chơi học tập đối với phân môn
Theo Nguyễn Trí, dạy học ở bậc Tiểu học nhất là ở các lớp 1, 2, 3 nếu biết
sử dụng đúng lúc đúng chỗ các trò chơi học tập thì sẽ có tác dụng rất tích cực, kích thích hứng thú học tập và tạo chất lượng cao cho bài học tiếng Việt
Công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Khắc Tuân (Tác giả cuộc thi viết sách bài tập và sách tham khảo) của nhà xuất bản giáo dục đã nêu ra những vấn
đề cơ bản sau:
Trang 13+ Đưa trò chơi vào lớp học nhằm mục đích gì?
+ Trò chơi nào có thể đưa vào lớp học?
+ Trò chơi được sử dụng vào lúc nào?
+ Tổ chức trò chơi trong giờ học như thế nào?
Các tác giả Trần Mạnh Hưởng (chủ biên), Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga khi biên soạn tài liệu “Sử dụng trò chơi học tập trong phân môn Tiếng Việt 3” đã chú ý tới trò chơi cụ thể phù hợp với từng phân môn, tuy nhiên các tác giả không đi sâu vào từng địa bàn, từng đối tượng HS để có gợi ý sử dụng trò chơi hợp lí
Tuy nhiên, điểm qua một số công trình nghiên cứu về trò chơi học tập nói chung và trong phân môn tập đọc nói riêng, có thể nhận thấy, các công trình chủ yếu đi vào nghiên cứu phương pháp, việc đi vào tổ chức các trò chơi học tập cụ thể trong quá trình giảng dạy phân môn tập đọc cho đối tượng HS xác định thì chưa có nhiều và cần có thêm những nghiên cứu tiếp theo
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu việc thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong dạy học phân môn tập đọc lớp 3 theo hướng phát triển năng lực
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong dạy học phân môn tập đọc theo định hướng phát triển năng lực tại lớp 3 trường tiểu học Tân Dân – thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ
5 Giả thuyết khoa học
Luận văn nghiên cứu thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong dạy học phân môn tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực Kết quả của nghiên cứu góp phần làm đa dạng hóa các phương pháp dạy học, thúc đẩy đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực, tạo động lực, khơi gợi khả năng hứng thú cho học sinh để từ đó nâng cao chất lượng dạy và học trong chương trình giáo dục tiểu học
6 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu hệ thống lý luận về phân môn tập đọc, phương pháp dạy học tập đọc, hệ thống trò chơi học tập gây hứng thú cho học sinh trong dạy học tiếng Việt nói chung và trong phân môn Tập đọc nói riêng
- Nghiên cứu thực tiễn về thực trạng thiết kế và tổ chức trò chơi học tập nhằm gây hứng thú cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học Tân Dân
- Xây dựng hệ thống trò chơi học tập và cách thức tổ chức các trò chơi trong dạy học phân môn tập đọc lớp 3
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm
Trang 147 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu, các văn kiện của Đảng, các chỉ thị của Nhà nước, Bộ, ban ngành có liên quan đến công tác đổi mới Giáo dục và Đào tạo, vấn đề phát triển năng lực của học sinh trong giai đoạn hiện nay
- Nghiên cứu công trình của các tác giả trong và ngoài nước liên quan tới vấn đề nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu các tài liệu, sách báo, tạp chí về Tâm lý học, Giáo dục học, Lý luận dạy học có liên quan tới nội dung của đề tài
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa môn tiếng Việt và các môn học khác
ở tiểu học theo định hướng đổi mới
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra, quan sát
Dự giờ, điều tra, phỏng vấn, trao đổi với các giáo viên giỏi, có kinh nghiệm dạy học phân môn tập đọc ở trường tiểu học về vấn đề thiết kế và tổ
chức trò chơi khởi động trong dạy học
7.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục (Anket)
Dùng phiếu Anket để khảo sát về nhận thức, thái độ và những việc làm cụ thể của giáo viên khi tổ chức trò chơi học tập trong quá trình giảng dạy phân môn tập đọc lớp 3 Kết quả điều tra chính là cơ sở quan trọng để xác định nguyên nhân, thực trạng, mức độ về năng lực của học sinh lớp 3
7.2.3 Phương pháp đàm thoại
Trò chuyện, trao đổi với giáo viên tham gia giảng dạy bằng nhiều hình thức gặp gỡ trực tiếp, trên điện thoại hoặc trực tuyến trên mạng để có thể có thêm thông tin về thực trạng và nguyên nhân của thực trạng về năng lực của học sinh lớp 3 Những thông tin này là cơ sở phân tích, đánh giá khách quan về thực trạng và nguyên nhân của thực trạng năng lực các em học sinh
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến của giảng viên hướng dẫn, một số giảng viên dạy môn tiếng Việt của trường Đại học Hùng Vương và một số giáo viên ở trường tiểu học Tân Dân về nội dung nghiên cứu để hoàn thiện đề tài
7.2.5 Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các số liệu thu được từ nghiên cứu thực trạng và quá trình thực nghiệm sư phạm của đề tài qua phần mềm microsoft excel
8 Cấu trúc khóa luận
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của của việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong dạy học tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực
Trang 15Chương II: Cách thiết kế và tổ chức một số trò chơi học tập trong dạy học tập đọc lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực
Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CỦA VIỆC THIẾT KẾ
VÀ TỔ CHỨC TRÕ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC TẬP ĐỌC
LỚP 3 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.1 Trên thế giới
Dạy học phát triển năng lực cho học sinh là một xu thế giáo dục tiên tiến đã được thế giới công nhận Theo cách mô tả và lí giải của một số nước, chương trình năng lực thực chất vẫn là chương trình dựa trên “kết quả đầu ra” Đầu ra của cách tiếp cận mới này là tập trung vào hệ thống năng lực cần có ở mỗi người học; xuất phát từ những năng lực cần có thiết yếu này mà đề xuất và lựa chọn các nội dung dạy học Chương trình dạy học chủ trương giúp các em không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm; phải thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống do cuộc sống đặt ra Nói cách khác là phải gắn với thực tiễn đời sống
Giải thích vì sao phải chuyển sang chương trình năng lực, văn bản chương
trình giáo dục New Zealand đã viết: “ Dân số của chúng ta ngày càng trở nên
đa dạng, khoa học công nghệ ngày càng tinh vi, đòi hỏi của thị trường lao động ngày càng phức tạp Hệ thống giáo dục của chúng ta cần phải đáp ứng được những đòi hỏi này và những thách thức khác của thế kỉ XXI Đó chính là lí do của việc xem xét và thiết kế chương trình năng lực được tiến hành vào các năm
2000 – 2002”
Đã có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng để có thể dạy học theo hướng phát triển năng lực người học thì việc áp dụng hệ thống trò chơi học tập vào quá trình giảng dạy là phù hợp và rất cần thiết
Nhà nghiên cứu I.B.Bazedov cho rằng: “Trò chơi là phương tiện dạy học phù hợp với trẻ thơ” Theo ông, nếu trong tiết học giáo viên sử dụng các phương pháp, biện pháp hoặc tiến hành tiết học dưới hình thức tổ chức trò chơi thì sẽ đáp ứng được yêu cầu và phù hợp với đặc điểm của trẻ và tất nhiên hiệu quả học tập đem lại sẽ cao hơn Ông đã đưa ra hệ thống trò chơi học tập dùng lời, dùng ngôn ngữ như: trò chơi gọi tên, trò chơi phát triển kĩ năng khái quát tên gọi của
cả cơ thể, trò chơi đoán từ trái nghĩa, điền những từ còn thiếu Theo ông, những trò chơi này mang lại cho người học niềm vui và phát triển năng lực trí tuệ của chúng
Đại diện cho khuynh hướng sử dụng trò chơi dạy học là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ phải kể đến nhà sư phạm nổi tiếng người Tiệp Khắc I.A
Trang 17Komenxki (1592 – 1670) Ông coi trò chơi là hình thức hoạt động cần thiết, phù hợp với bản chất và khuynh hướng của trẻ Trò chơi trong quá trình dạy học là một dạng hoạt động trí tuệ nghiêm túc, là nơi mọi khả năng của trẻ em được phát triển, mở rộng phong phú thêm vốn hiểu biết Với quan niệm trò chơi là niềm vui sướng của trẻ thơ, là phương tiện phát triển toàn diện cho trẻ I.A.Komexki đã khuyên rằng phải chú ý thật nhiều tới trò chơi dạy học
1.1.1.2 Trong nước
Tại Việt Nam, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học được coi là một yêu cầu mang tính đột phá của công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện chương trình đào tạo Giáo dục phổ thông Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào
tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học và dạy học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích
tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực” Để thực hiện tốt mục tiêu về Đổi mới căn bản, toàn diện
GD&ĐT, theo Nghị quyết số 29 - NQ/TW, người giáo viên dạy học cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này Chương trình dạy học theo hướng phát triển năng lực chủ trương giúp các
em không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm, phải thông qua các hoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống
do cuộc sống đặt ra Nói cách khác, chương trinh dạy học là phải gắn với thực tiễn đời sống
Việc áp dụng trò chơi vào quá trình giảng dạy đã được các nhà nghiên cứu chú ý tới Tuy nhiên, đa số những nghiên cứu chỉ dừng lại ở các phần thực hành tìm hiểu, tiếp cận bài trong quá trình học mà chưa đề cập tới phần mở đầu Trong khi phần mở đầu của mỗi tiết học quyết định khả năng tiếp thu, hứng thú học tập với bài mới của học sinh Vì vậy, việc áp dụng các trò chơi vào quá trình dạy học nhằm khơi gợi óc tư duy, tìm tòi, năng lực sáng tạo của học sinh là vô cùng quan trọng
Trong tác phẩm “Trò chơi trẻ em”, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã đề cập tới việc xây dựng và tổ chức trò chơi nhằm mục đích phát triển trí tuệ Ở tác phẩm này, tác giả đã giới thiệu một số trò chơi trí tuệ dành cho trẻ em
“Trò chơi học tập tiếng Việt 2”, “Trò chơi học tập tiếng Việt 3” của tác giả Trần Mạnh Hưởng (Chủ biên), cũng đã khẳng định thông qua trò chơi học tập, học sinh được phát triển cả về trí tuệ, thể lực, nhân cách, giúp cho việc học Tiếng Việt thêm nhẹ nhàng và hiệu quả
Trang 18Các cuốn “Trò chơi học tập môn Tự nhiên và xã hội lớp 1, 2, 3” của Bùi Phương Nga, “Học mà vui, vui mà học” của Vũ Xuân Đĩnh, “Sử dụng trò chơi trong dạy học lịch sử của trường tiểu học” của Nguyễn Thị Hồng đã giới thiệu một số trò chơi và cách sử dụng trò chơi trong dạy học
Nghiên cứu vận dụng trò chơi vào công tác giáo dục học sinh trong nhà trường Tiểu học được ác nhà khoa học trong nước tập trung nghiên cứu với tư cách là phương pháp và hình thức dạy học môn Đạo đức trong nhà trường tiểu học thể hiện trong cuốn “Đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức”
Cuốn “112 trò chơi Toán lớp 1 và 2” của Nguyễn Đình Thực đã đưa ra nội dung và cách thức giúp trẻ học môn Toán thông qua các trò chơi
Các cuốn “Trò chơi học tập môn đạo đức ở tiểu học” của Lưu Thu Thủy,
“100 trò chơi vận động cho trẻ” của Trần Đồng Lâm, “Tổ chức hoạt động vui chơi cho học sinh tiểu học của Hà Nhật Thăng, “Tổ chức cho học sinh vui chơi giữa buổi học” của Trần Đồng Lâm (Chủ biên) đã trình bày một số vấn đề chung về giáo dục đạo đức và dạy học môn Đạo đức cho học sinh tiểu học thông qua trò chơi
Một số luận văn, luận án của các nhà nghiên cứu gần đây cũng đề cập đến việc thiết kế và sử dụng trò chơi dạy học nhằm phát triển năng lực của người học Tuy nhiên, mỗi một tác giả lại xem xét trò chơi dạy học ở một khía cạnh riêng Trong khi việc áp dụng trò chơi học tập vào từng giai đoạn của mỗi tiết học nhằm phát triển năng lực người học theo định hướng giáo dục phổ thông mới lại chưa thực sự được đi sâu
Trong đề tài nghiên cứu này, một mặt phương pháp nghiên cứu được sử dụng sẽ tiếp tục kế thừa từ những công trình nghiên cứu đã có, mặt khác, dựa trên cơ sở đó phát huy thêm việc dạy học theo hướng đổi mới, đề ra một số biện pháp cụ thể nhằm thiết kế và tổ chức trò chơi học tập trong dạy học cho học sinh
tiểu học, cụ thể là phân môn tập đọc lớp 3
1.1.2 Khái quát về trò chơi và trò chơi học tập
1.1.2.1 Trò chơi
* Nguồn gốc và bản chất:
Trên quan điểm Mác Xít, các nhà khoa học Xô Viết đã khẳng định rằng:
“Trò chơi có nguồn gốc từ lao động và mang bản chất của xã hội Trò chơi được truyền thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác chủ yếu thông qua con đường lao động”
Trò chơi có nguồn gốc từ lao động và chuẩn bị cho thế hệ trẻ đến với lao động Nội dung của trò chơi phản ánh hiện thực cuộc sống xung quanh Trò chơi không nảy sinh một cách tự phát mà nó ảnh hưởng có ý thức hoặc không có ý thức từ người lớn, bạn bè, những người xung quanh Giao tiếp trong xã hội cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển trò chơi
Trang 19* Khái niệm trò chơi:
Trong từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992 đã nêu rõ, chữ “trò” được hiểu đơn giản là hình thức mua vui bày ra trước mặt mọi người Chữ “chơi” là một từ mang ý chỉ chung những hoạt động trong khoảng thời gian nhàn rỗi, ngoài giờ làm việc nhằm mục đích hướng tới giải trí là chính Qua đó có thể hiểu
“trò chơi” là những hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người, trước hết là vui chơi, giải trí Sau đó là những giá trị như phát triển khả năng
* Đặc điểm của trò chơi trong quá trình giáo dục
Xét theo mặt cấu trúc thì hoạt động vui chơi được phân biệt với các hoạt động khác nhau của trẻ A.N Leeonchep cho rằng: “Sự thỏa mãn những nhu cầu cho sự sống của cơ thể thực chất vẫn còn tách rời các kết quả của hoạt động của trẻ - hoạt động của trẻ không quy định và thực sự không thể quy định được việc thỏa mãn những nhu cầu ăn mặc…” Ông cũng cho rằng: “Trò chơi có đặc điểm
là động cơ của hoạt động trò chơi, không nằm trong quá trình thực hiện hành động”
Nhằm phân biệt hoạt động vui chơi với các hoạt động khác không được coi là chơi P.G.Xamarucova – một chuyên gia Xô Viết đã đưa ra những luận điểm sau:
- Trò chơi có tính biểu trưng độc đáo: Sự hiện diện của khởi đầu sáng tạo Một trò chơi thực sự bao giờ cũng có liên quan tới sáng kiến, sáng tạo Trong trò chơi, tư duy sáng tạo và óc tưởng tượng của trẻ em luôn hoạt động rất tích cực
- Trò chơi trẻ em mang tính tự do: Tính tự do được thể hiện ở việc trẻ em có thể
tự do lựa chọn trò chơi và nội dung chơi, có thể tự chọn lựa những thành viên trong nhóm chơi của mình, tự đề nghị tham gia trò chơi và tự rút khỏi trò chơi… Hoạt động chơi của trẻ em hoàn toàn xuất phát từ những nhu cầu cá nhân, hứng thú cá nhân nhằm thỏa mãn những nguyện vọng của bản thân mình Đây là một trong những đặc điểm cơ bản nhằm phân biệt trò chơi với hoạt động học tập và lao động
- Trò chơi trẻ em mang tính tự lập và tự điều khiển
- Trò chơi mang màu sắc của cảm xúc chân thực, mạnh mẽ và đa dạng Mặc dù trong quá trình chơi có thể xuất hiện những cảm xúc tiêu cực nhưng trò chơi bao giờ cũng mang đến cho trẻ niềm vui sướng, thỏa mãn, bằng lòng Bởi lẽ, trò chơi
mà không mang lại niềm vui thì đã không còn là trò chơi
Trong luận văn tiến sĩ “The Element of play”, Eva’ Neuman đã đưa ra ba đặc điểm của trò chơi như sau:
- Hành động chơi chịu sự điều khiển từ bên trong còn các hành động chịu sự điều khiển từ bên ngoài
- Trò chơi không diễn ra từ bản thân người chơi, hành động nảy sinh từ áp lực bên ngoài thì không phải là trò chơi
Trang 20- Khi chơi, trẻ không chịu phụ thuộc vào hiện thực, nó có khả năng chế ngự sự ảnh hưởng từ hiện thực, có khả năng giả bộ…
Trong cuốn “Play” đã nêu ra năm đặc điểm của hành động chơi:
- Trò chơi kéo theo sự tham gia tích cực từ phía người chơi
- Chơi là hành động tự do, tự nguyện
- Hành động chơi gần gũi với hoạt động khác thường gặp trong cuộc sống
- Hành động chơi luôn là sự thú vị đối với trẻ
- Việc tham gia vào trò chơi là sự hào hứng nội tại chứ không phải mục đích bên ngoài
* Phân loại trò chơi
Vì trò chơi rất phong phú nên có rất nhiều cách phân loại Các cách phân loại này chỉ mang tính chất tương đối, trên thực tế có những trò chơi hỗn hợp, tổng hợp của những trò chơi được chia ra như sau:
- Phân loại trò chơi theo mức độ:
+ Trò chơi nhỏ: Là trò chơi được tổ chức trong phòng hay trên sân trong khoảng thời gian khoảng 5 đến 10 phút, đan xen vào các buổi sinh hoạt để thêm phần linh động, tươi vui, giải trí lành mạnh
+ Trò chơi lớn: Đây được xem là sự kết hợp của nhiều trò chơi nhỏ dưới một đề mục, được dàn dựng công phu ở địa bàn rộng, từ vài giờ cho đến vài ngày (có những khi vài tháng tùy vào nội dung trò chơi), muốn tham gia được những hoạt động chơi này yêu cầu người chơi phải đảm bảo có một sức khỏe tốt
- Phân loại trò chơi theo tính năng động:
+ Trò chơi tĩnh: Vận dụng trí óc và các giác quan, người chơi ít khi di chuyển cũng như ít khi bận dụng cơ bắp, sức lực
+ Trò chơi động: Trò chơi yêu cầu người chơi có nhiều sự chuyển động, đôi khi phải vận dụng cả cư bắp
- Phân loại trò chơi theo không gian:
+ Trò chơi trong nhà (phòng): Loại hình trò chơi này thông thường được áp dụng đan xen vào các hoạt động giải lao, sinh hoạt lớp hay trong các tiết học… khi không thể tổ chức chơi ngoài trò vì nhiều lý do khác nhau Trò chơi trong nhà thường là những trò chơi ít di chuyển vì không gian chơi khá hẹp
+ Trò chơi ngoài trời: Hầu hết các trò chơi đều có thể tổ chức chơi ngoài trời, tuy nhiên cần phải lưu ý về sân chơi và nơi tổ chức phải phù hợp với nội dung hoạt động của trò chơi
Ngoài ra người ta có thể phân chia trò chơi theo những tiêu chí khác nhau: Dựa vào tính chất, nội dung của trò chơi (Đồi kháng, phản xạ,…) hay dựa vào đối tượng tham gia trò chơi (đoàn thể, nhóm,…)…
* Ý nghĩa của trò chơi:
Trang 21Trò chơi mang lại những hiệu quả như thỏa mãn tâm sinh lý của trẻ, vừa giúp trẻ phát triển các chức năng tâm lý vừa hình thành nên nhân cách của trẻ Trong khâu tổ chức trò chơi nếu được chú ý cẩn thận và hợp lý với nội dung của mỗi trò chơi thì góp phần kích thích sự phát triển toàn diện cho trẻ Trong quá trình tham gia hoạt động chơi, trẻ em sẽ phát triển các tri giác một cách nhanh nhạy, phát triển các thao tác về tư duy sáng tạo, rèn trí nhớ cho trẻ, đồng thời phát triển cả trí tưởng tượng và trau dồi vốn ngôn ngữ cho các em Mỗi hoạt động vui chơi một mặt nảy sinh những yếu tố tâm sinh lý của hoạt động học tập như: Sự chú ý, sự nỗ lực, nhu cầu, động cơ nhận thức Mặt khác, thông qua trò chơi, vốn hiểu biết và kinh nghiệm của trẻ được mở rộng và phát triển Các trò chơi giúp các em nhận thức sâu sắc hơn tưởng tượng và cảm giác của mình, cảm xúc hơn, suy nghĩ rõ hơn,…
Xét về tính chủ định của quá trình tâm lý, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định được hình thành và phát triển xuyên suốt hoạt động chơi, bởi chính nội dung chơi, luật chơi đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý và ghi nhớ có chủ định Nếu như trẻ không chú ý và không ghi nhớ được luật chơi, trẻ khó mà ghi nhớ được hoạt động chơi – tức là khả năng trẻ phạm luật khi chơi sẽ cao hơn Trong quá trình thực hiện hoạt động vui chơi, nhu cầu nhận thức của trẻ được nảy sinh, trong đầu các em sẽ luôn đặt ra câu hỏi: “Đó là cái gì?, Phải làm như thế nào?,
Vì sao phải làm như thế? ” Qua đó trẻ được khơi gợi mong muốn khám phá sự thật được đưa ra trong trò chơi
Trong suốt quá trình tham gia hoạt động chơi, các em sẽ được điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với luật chơi và nội dung của trò chơi, từ đó tính mục đích, tính kỷ luật dần dần được hình thành ở mỗi học sinh Không chỉ vậy, các em còn tích lũy được những biểu tượng làm tư liệu cho hoạt động tư duy của mình, góp phần hình thành và phát triển hoạt động ngôn ngữ ở mỗi cá nhân Không dừng lại ở đó, trò chơi còn kích thích tính tò mò, óc quan sát, khả năng phán đoán, trí tưởng tượng cùng với tính sáng tạo của trẻ,… Hoạt động chơi là một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của mỗi cá nhân Ở lứa tuổi này ngoài hoạt động học tập, các em rất cần được vui chơi giải trí nhằm phát triển toàn vẹn về năng lực và thể chất, bởi vậy mà đòi hỏi các nhà giáo dục trong quá trình giảng dạy cần quan tâm tới việc tạo ra các sân chơi thật bổ ích, năng động cho học sinh của mình và cần khuyến khích các em tham gia nhiều hơn, tích cực hơn các hoạt động trong và ngoài nhà trường
1.1.2.2 Trò chơi học tập
* Khái niệm trò chơi học tập:
Trò chơi học tập là trò chơi có luật và nội dung cho trước, là trò chơi của
sự nhận thức, hướng tới mở rộng, chính xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã
Trang 22có, nhằm mục đích phát triển các năng lực trí tuệ, giáo dục lòng ham hiểu biết cho trẻ - trong đó nội dung học tập được kết hợp với hình thức chơi
*Đặc điểm:
Trò chơi học tập thuộc nhóm trò chơi có luật thường là do người lớn nghĩ
ra cho trẻ em và dùng nó vào mục đích giáo dục và dạy học hướng tới việc phát triển trí tuệ cho trẻ
Trò chơi học tập khác với các loại hình trò chơi khác, ta có thể hiểu như sau:
Bảng 1.1: So sánh trò chơi học tập với các loại hình trò chơi khác
Địa điểm Sân trường, trong lớp học Không cố định, có thể tổ
chức ở nhiều nơi tùy vào đặc điểm và nội dung trò chơi
Người tổ chức Đội ngũ các nhà giáo dục có
chuyên môn nghiệp vụ hướng dẫn và tổ chức trò chơi
Đoàn thể, ban ngành, công
ty hoặc người chơi có thể tự
Đối tượng bao gồm các thành phần tự do trong xã hội, không quy định cụ thể
về tầng lớp, lứa tuổi
Luật chơi Rõ ràng, có sẵn để tránh các
trường hợp không đạt được mục tiêu giáo dục thông qua trò chơi
Có những trò chơi có thể có luật ẩn, không có luật sẵn (trò chơi dân gian, )
Nội dung và nhiệm
vụ chơi
Được tổ chức có hệ thống, bắt buộc phải gắn bó với chương trình, nội dung học tập của người học
Tùy vào mỗi môn học và khối lớp sẽ có nội dung và nhiệm vụ chơi cụ thể
Bao gồm nhiều lĩnh vực trong cuộc sống, nhiều chuyên ngành khác nhau
Thực tế hiện nay vẫn còn những giáo viên chưa nắm rõ bản chất, đặc trưng của trò chơi học tập và thường nhầm lẫn với bài tập Họ cho rằng khi lấy
Trang 23một bài tập nào đó rồi tổ chức cho học sinh thi đua giữa các cá nhân để tìm ra lời giải cho bài tập đó xem ai nhanh và đúng nhất thì đó là trò chơi Đây là một quan điểm chưa chính xác Để làm rõ vấn đề này, nghiên cứu khái quát điểm khác biệt giữa trò chơi học tập và bài tập thông qua bảng sau:
Bảng 1.2: So sánh điểm khác biệt giữa trò chơi học tập và hệ thống bài tập
Động cơ Động cơ của hoạt động chơi
nằm ngay trong hành động chơi của học sinh
Động cơ của hoạt động giải bài tập nằm ở kết quả của hoạt động đó là nhận thức đúng Động cơ này được xuất phát từ như cầu nhận thức của học sinh
Nhiệm vụ nhận
thức
Nhiệm vụ nhận thức của trò chơi học tập không đặt ra một cách trực tiếp và công khai trước trẻ mà nằm trong nhiệm vụ chơi, trong luật chơi và hành động chơi của các em Việc giải quyết nhiệm vụ nhận thức chính là con đường, cách thức để đi đến cái đích cuối cùng là
“thắng” chứ nó không phải là mục tiêu của hoạt động
Nhiệm vụ nhận thức của hệ thống bài tập được đặt ra trực tiếp, rõ ràng, công khai thông qua lệnh bài tập Mục tiêu của hoạt động giải bài tập là giải quyết nhiệm vụ nhận thức
Đặc điểm, tính
chất của hoạt động
Là hoạt động tự lập của các
em và mang tính tự do, tự nguyện
Trẻ hành động theo thứ tự, theo lượt phù hợp với luật chơi, có thể bị chi phối bởi mong muốn của các thành viên khác trong đội chơi
Là hoạt động học tập bắt buộc phải thực hiện
Hành động giải bài tập diễn
ra độc lập ở mỗi học sinh, không bị chi phối bởi mong muốn của người khác
Kết quả So sánh kết quả giữa các đội
chơi với nhau để xác định đội “thắng, thua” Yếu tố thi đua trong các hành động chơi của trẻ được thể hiện rõ ra bên ngoài qua các biểu hiện
So sánh kết quả với đáp án
để xác định “đúng, sai” Trong hoạt động giải bài tập, yếu tố “thi đua” luôn được biểu hiện rõ nét
Trang 24về thái độ của trẻ
*Phân loại trò chơi học tập
Dựa vào nhiều yếu tố với các chức năng tâm sinh lý của học sinh, trò chơi học tập có thể phân chia thành nhiều loại hình khác nhau:
- Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy: Các trò chơi này giúp
học sinh phân tích, so sánh về sự vật hiện tượng theo những dấu hiệu bên ngoài Trong quá trình phân loại trẻ phát hiện những dấu hiệu giống nhau, khác nhau giữa các đối tượng để đi đến sự sắp xếp các sự vật, hiện tượng theo những dấu hiệu chung nhất Như vậy khả năng khái quát được hình thành và phát triển ở trẻ
- Trò chơi học tập nhằm phát triển trí nhớ: Đây là loại hình trò chơi rèn luyện
và phát triển trí nhớ của học sinh về những tri thức, khái niệm, biểu tượng mà các em đã được học Khả năng ghi nhớ, tái hiện của các em phụ thuộc vào ấn tượng mạnh – yếu mà thế giới tác động vào các giác quan của các em
- Trò chơi học tập giúp học sinh phát triển ngôn ngữ, sự chú ý, của học sinh
- Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tưởng tượng: Đây là loại hình trò chơi mà
học sinh sẽ sử dụng vốn sống những biểu tượng đã có trong đầu để thực hiện các thao tác khi chơi
- Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan: Đây là hệ thống trò chơi sẽ
rèn luyện cho các em sự tinh nhạy của đôi mắt, đôi tai,… Tức là rèn luyện và phát triển khả năng phản xạ, những hành động nhạy cảm ở trẻ
Dựa theo định hướng phát triển năng lực trong chương trình Giáo dục phổ thông mới trò chơi học tập được chia theo các nhóm sau đây:
- Nhóm trò chơi học tập phát triển năng lực sáng tạo: Sáng tạo là một trong
những năng lực rất quan trọng của con người và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của toàn xã hội Là khả năng tạo ra cái mới có tính hữu dụng, sáng tạo không chỉ góp phần tạo ra những sản phẩm vật chất và tinh thần phục vụ cho đời sống con người mà còn là tiền đề không thể thiếu cho sự phát triển của nhân loại Chính vì lẽ đó việc phát triển năng lực sáng tạo ở học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là vô cùng quan trọng Hệ thống trò chơi này sẽ huy động những kỹ năng cần có, khơi gợi tính sáng tạo trong mỗi học sinh Qua đó góp phần phát triển năng lực sáng tạo ở mỗi cá nhân
- Nhóm các trò chơi học tập phát triển năng lực tư duy: Tư duy là một trong
những hoạt động không thể thiếu của mỗi con người, không chỉ trong học tập
mà còn trong cuộc sống hằng ngày Qúa trình tư duy là một hoạt động trí tuệ, được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành những “thao tác” trí tuệ nhất định: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa Hệ thống trò chơi sẽ
Trang 25giúp các em huy động các giác quan của mình để xử lý các hoạt động chơi nhờ vậy mà năng lực tư duy của các em được hình thành và phát triển rõ hơn
- Nhóm các trò chơi học tập phát triển năng lực nhận thức: Nhận thức là một
trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí)
Nó là tiền đề để hình thành và phát triển hai mặt còn lại nên nó có vai trò rất quan trọng đối với mỗi con người Hệ thống trò chơi học tập này sẽ giúp các em
có những định hướng đúng đắn về nhận thức và giá trị của nhận thức, góp phần phát triển năng lực phẩm chất cho mỗi cá nhân học sinh
- Nhóm các trò chơi học tập phát triển năng lực ngôn ngữ: Ngôn ngữ là công cụ
của tư duy và là phương tiện để con người tiếp nhận kiến thức Nó góp phần rất lớn trong việc học tập, giao tiếp hay duy trì các mối quan hệ xã hội trong cuộc sống hằng ngày Năng lực ngôn ngữ là những kỹ năng sử dụng tốt và có hiệu quả một ngôn ngữ nào đó Hệ thống trò chơi học tập sẽ giúp các em hình thành
và phát triển vốn ngôn ngữ, khả năng nhạy bén, phản xạ với ngôn ngữ và các cách sử dụng ngôn ngữ trong mỗi tình huống Qua đó góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ cho các em
- Nhóm các trò chơi học tập phát triển năng lực xã hội: Là bất kỳ một kỹ năng
xã hội nào tạo sự thuận lợi trong quan hệ tương tác và giao tiếp với người khác Đây là nơi các nguyên tắc xã hội và quan hệ xã hội được tạo ra được truyền đạt theo cách nói hoặc không lời Hệ thống trò chơi học tập giúp các em hình thành những bước cơ bản về duy trì các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh bản thân trong các mối quan hệ đó Qua đó góp phần phát triển các năng lực về xã hội cho từng
cá nhân học sinh
- Nhóm các trò chơi học tập phát triển năng lực giao tiếp: Giao tiếp là một hoạt
động cơ bản để nhằm duy trì các mối quan hệ trong xã hội Qúa trình giao tiếp cũng giúp chúng ta học hỏi và tiếp thu những kiến thức, tri thức của nhân loại từ
đó tạo cơ sở để đạt được những hiệu quả cao trong công việc Thông qua hệ thống trò chơi học tập sẽ giúp hình thành và phát triển các kỹ năng giao tiếp cho học sinh với từng đối tượng và tình huống cụ thể, giúp các em tự tin hơn khi đối mặt với các mối quan hệ xung quanh
- Nhóm các trò chơi học tập phát triển năng lực hợp tác nhóm: Đây được xem
là một trong những kỹ năng quản lý nhóm, người biết hợp tác nhóm là người có thể thực hiện các hoạt động trong nhóm một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung một cách có hiệu quả Hệ thống trò chơi học tập góp phần rèn luyện, hình thành và phát triển cho các em về các kỹ năng cơ bản trong hoạt động hợp tác nhóm và được xác định với ba yếu tố: kiến thức, kỹ năng và thái độ hợp tác
- Nhóm các trò chơi học tập phát triển năng lực ra quyết định và giải quyết vấn đề: Ra quyết định và giải quyết vấn đề là một kỹ năng quan trọng trong công
Trang 26việc, học tập và các hoạt động khác xung quanh con người Khi gặp một vấn đề nào đó xảy ra trong cuộc sống, chúng ta thường phân vân không biết phải nên giải quyết ra sao Đến với những trò chơi học tập ở đây sẽ giúp các em những bước đầu định hình, hình thành và phát triển năng lực này Giúp các em nắm được quá trình và bí kíp trong hoạt động ra quyết định và giải quyết vấn đề
Những cách thức phân loại nêu trên chỉ mang tính chất tương đối, góp phần giúp học sinh dễ dàng nhận ra ý nghĩa, vai trò của trò chơi học tập đối với
sự phát triển tâm lý nói chung và trí tuệ của các em nói riêng Đồng thời giúp chúng ta dễ dàng nhận ra ý nghĩa, vai trò của trò chơi học tập đối với sự phát triển toàn diện của học sinh
*Ý nghĩa của trò chơi học tập
Ở lứa tuổi tiểu học, các em ghi nhớ máy móc tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, có chủ định Lúc này đối tượng cảm xúc của trẻ là những sự vật hiện tượng sinh động Theo quan điểm dạy học, quá trình dạy học là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tế cuộc sống Lứa tuổi học sinh tiểu học tư duy trừu tượng còn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học theo hướng một chiều: giáo viên truyền thụ, học sinh tiếp nhận khiến cho học sinh mệt mỏi trong giờ học dẫn đến khó tiếp nhận nội dung bài học Học sinh là chủ thể mà trong đó giáo viên là người
tổ chức dạy học sao cho học sinh phải luôn được vận động vừa sức, tiếp thu được đầy đủ kiến thức cần đạt Để đáp ứng tốt yêu cầu đó thì trò chơi học tập là một phương pháp dạy học không thể thiếu
+ Trò chơi giúp học sinh phát triển thêm những điều mới với những gì đã tiếp cận trong sách giáo khoa, cũng là những kiến thức ấy sẽ được đón nhận một cách hấp dẫn giúp trẻ thích thú và ghi nhớ lâu, đồng thời học sinh cũng được luyện tập các kỹ năng mà các em đã được học tập
+ Thông qua hoạt động vui chơi các em sẽ được rèn luyện các tình huống khác nhau buộc mình phải có sự lựa chọn hợp lý, tự mình phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để tiếp tục phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm Nhờ vậy mà các em còn tích lũy được các kinh nghiệm sống và sửa chữa những sai sót của tư duy,…
+ Đến với sân chơi học tập, các em còn được rèn luyện rất nhiều các kỹ năng sống cần thiết như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng tổ chức, kỹ năng hợp tác, kỹ năng kiểm tra đánh giá,… tất cả các kỹ năng là điều kiện quan trọng cần được phát huy tích cực ở mỗi cá nhận học sinh
+ Ngoài ra thông qua trò chơi các em còn được rèn luyện thể chất một cách tự nhiên, rèn luyện sự nhanh nhạy, hoạt bát, tự tin, Đặc biệt là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các động tác vận động và sự phát triển tư duy, trung ương thần kinh càng được phát triển chuẩn xác
Trang 27+ Đồng thời khi chơi trò chơi sẽ tạo nên bầu không khí thi đua: cá nhận thi đua với cá nhân, nhóm thi đua với nhóm, không những vậy việc tham gia trò chơi còn tạo nên tinh thần đoàn kết từ các đội vì khi đã thi đua thì đội nào cũng muốn mình là người chiến thắng
+ Cuối cùng, việc tổ chức trò chơi học tập trong quá trình dạy học là rất cần thiết, góp phần đa dạng hình thức dạy học, thay đổi không khí lớp học, góp phần giúp học sinh nắm bắt kiến thức một cách tự giác, thoải mái
1.1.3 Một số vấn đề về năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.1.3.1 Một số vấn đề lý luận về dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực người học
Sau 30 năm đổi mới và phát triển, đất nước ta đã vượt qua rất nhiều khó khan, thách thức để vươn lên giành cho mình những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nhất định Trong đó phải kể đến là việc nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển để bước vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình Tuy nhiên những thành tựu về mặt kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hóa còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa hội tụ đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững
Cũng trong khoảng thời gian ấy, thế giới chứng kiến những biến đổi sâu sắc về mọi mặt: kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục,… Cùng với đó các cuộc công nghiệp lần thứ ba và thứ tư lần lượt ra đời, nền kinh tế tri thức phát triển mạnh đã đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển Mặt khác, những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng hệ sinh thái và những biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toàn cầu Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hóa vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội Việc đổi mới giáo dục đã và đang trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay đòi hỏi nguồn nhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng, Nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của đất nước Kiến thức
và sự hiểu biết về nguyên tắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, đòi
hỏi chất lượng đào tạo ngày càng phải tốt hơn
Trang 281.1.3.2 Năng lực và dạy học theo hướng tiếp cận năng lực
Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội khoảng 60% sinh viên ra trường làm trái ngành và tính đến đầu năm 2017 có hơn 200.000 cử nhân thất nghiệp Con số trên đây ít nhất cho chúng ta thấy hai vấn đề: một là chất lượng đào tạo; hai là nhu cầu lao động của xã hội có sự thay đổi nhưng chương trình đào tạo tại các trường chưa bắt kịp xu thế Mặt khác, trong điều kiện toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay thì yêu cầu của nhà tuyển dụng ngày cao, người lao động không chỉ có kiến thức mà đòi hỏi phải có các kỹ năng mềm và đặc biệt là việc vận dụng các kiến thức, kỹ năng đó vào giải quyết các công việc thực tiễn như thế nào để lao động đạt năng suất cao nhất Và một trong những phương pháp, tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng đào tạo, mang lại uy tín, thương hiệu cho các trường là chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”, “đầu ra”, “giá trị gia tăng”, sự thỏa mãn nhu cầu người học, tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm đúng chuyên ngành cũng như sự hài lòng của các nhà tuyển dụng… Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là để tồn tại và bắt kịp với xu thế phát triển của xã hội thì các trường đại học nói riêng và hệ thống giáo dục nói chung cần đổi mới giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực người học - một yêu cầu cần kíp phải thực hiện
* Khái niệm năng lực
Trước những hạn chế của nền giáo dục trong nước cũng như yêu cầu phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất nước, Nghị quyết 29 của Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) đã nêu rõ yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam Trong đó nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là phát triển năng lực người học, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước Vậy chúng ta hiểu thế nào là dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học? Để hiểu phương pháp dạy học này, trước tiên chúng ta tìm hiểu khái niệm năng lực
Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên thì năng lực được hiểu theo 2 cách như sau:
Cách thứ nhất: “Năng lực là chỉ khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó” Như vậy, nếu hiểu theo cách này thì năng lực
là khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hay một số kỹ năng để thực hiện hay giải quyết vấn đề
Cách thứ hai: “Năng lực là phẩm chất tâm sinh lý tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao” Như vậy theo cách này thì năng lực được xem là phẩm chất có sẵn nhưng ở dạng tiềm năng và
sẽ giúp con người giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống một cách hiệu quả nhất
Trang 29Như vậy, từ hai cách hiểu trên chúng ta có thể thấy rằng năng lực là tố chất vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những vấn đề, tình huống có thực trong công việc, cuộc sống Chính năng lực sẽ giúp con người giải quyết các vấn đề một cách nhanh chóng, hiệu quả, nâng cao chất lượng lao động
Đồng thời, chương trình giáo dục phổ thông của Quebec (Canada) có quan niệm về năng lực như sau: “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và
có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” Như vậy, theo cách hiểu này thì năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt của nhiều yếu tố và phải được vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực
Từ những quan niệm trên chúng ta thấy rằng năng lực dù là tố chất có sẵn hay là sự kết hợp của nhiều yếu tố thì điều quan trọng là nó chỉ được biểu hiện, được công nhận khi con người vận dụng nó để giải quyết hay thực hiện một vấn
đề, nhiệm vụ nào đó trong công việc, cuộc sống, tức phải gắn liền với thực tiễn
Như vậy, dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học chính là việc giáo viên phải có phương pháp dạy học theo hướng tích cực, lấy người học làm trung tâm, phải khơi gợi được niềm đam mê của người học và đặc biệt phải tạo điều kiện “học đi đôi với hành” để người học vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái
độ mà mình lĩnh hội được vào giải quyết các tình huống thực tiễn Để thực hiện điều này, mỗi cơ sở đào tạo cần nhanh chóng thoát khỏi mô hình giáo dục truyền thống, chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học Nghĩa là phải thay đổi quan điểm, mục tiêu dạy học: từ chỗ chỉ quan tâm tới việc người học học được gì đến chỗ quan tâm tới việc người học làm được cái gì qua việc học
* Sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học ở các trường đại học
Trong xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển không ngừng nghỉ của khoa học công nghệ cũng như yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực đòi hỏi ngày càng cao thì phương pháp dạy học truyền thống của nền giáo dục nước nhà
đã trở nên lỗi thời Do đó cần thực hiện “cuộc cách mạng về giáo dục” trong đó
có phương pháp dạy học Vì vậy, chúng ta phải tích cực thay đổi phương pháp dạy học truyền thống, cách truyền đạt kiến thức một chiều sang phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học - lấy người học làm trung tâm, tập trung phát triển năng lực người học Đây được xem là sự cần kíp phải thực hiện ngay và đồng bộ của nền giáo dục trong nước từ các cấp học tới các bậc học Đứng trước xu hướng vận động này, các trường đại học muốn tồn tại và phát triển cần “chuyển mình” nhanh chóng để thực hiện Nghị quyết 29 của Ban
Trang 30chấp hành trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) trong đó có đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia và nâng tầm thương hiệu nhà trường
* Nâng cao chất lượng trong giáo dục đại học
Hiện nay do có nhiều đối tượng nghiên cứu và nhiều cách tiếp cận khác nhau nên vẫn chưa có một khái niệm nhất quán về chất lượng giáo dục đại học Tuy nhiên với một khái niệm tổng quát nhất thì chất lượng giáo dục đại học cần
tích hợp được các yếu tố sau: “Sự thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu và chuẩn so sánh; khả năng thiết lập các mục tiêu và thực hiện các mục tiêu đó; khả năng thỏa mãn yêu cầu và nguyện vọng của khách hàng và những người hưởng lợi; khuynh hướng tiến đến sự hoàn hảo” Như vậy, tùy thuộc vào từng đối tượng
nghiên cứu với vị trí, cương vị khác nhau, cách tiếp cận khác nhau mà các yếu tố
có thể được ưu tiên khác nhau Và bản thân là giáo viên trực tiếp tham gia giảng
dạy nên tôi đề cao yếu tố “chất lượng đào tạo là khả năng thảo mãn yêu cầu và nguyện vọng của khách hàng và những người hưởng lợi” Bởi thực tế cái đích
cuối cùng của đào tạo đại học là thỏa mãn mong muốn được sở hữu kiến thức,
kỹ năng nghề của người học; đáp ứng nhu cầu của nhà tuyển dụng; cung cấp nguồn nhân lực “vừa hồng, vừa chuyên” nhằm phục vụ sự phát triển của địa phương, đất nước Để hiện thực hóa yêu cầu này thì nhà trường và bản thân người dạy cần có sự đổi mới trong phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học
Có câu nói nổi tiếng: “Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức
mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn” Qua câu nói này, chúng ta thấy rằng vai trò của nhà giáo không phải là truyền đạt kiến thức một cách thụ động, “bắt ép” người học tiếp nhận tri thức một cách khiên cưỡng mà vai trò quan trọng của người “đưa đò” là biết khơi dậy niềm đam mê, sự chủ động, hứng thú trong lĩnh hội kiến thức, biết “khai phá” năng lực tiềm năng trong bản thân người học Từ đây, người học biết vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ một cách linh hoạt vào giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra Và để đạt được điều này, các trường đại học cần phải áp dụng ngay phương pháp dạy học tích cực theo hướng tiếp cận năng lực người học Để thấy được tầm quan trọng của phương pháp dạy học này cũng như sự tất yếu cần đổi mới trong giáo dục, chúng ta có bảng so sánh giữa phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học và phương pháp dạy học truyền thống như sau:
Bảng 1.3: So sánh phương pháp dạy học truyền thống
và phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học Các thành tố
so sánh
Phương pháp dạy học truyền thống
Phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học
Trang 31Mục tiêu - Chú trọng cung cấp tri
sự tiến bộ vận dụng kiến thức đã học vào thực tế
- Có thái độ tích cực, đam mê môn học, ngành học
Nội dung - Người học học các nội
dung quy định sẵn, và phát triển theo các kiến thức đã được truyền đạt một cách thụ động, không gắn với các tình huống thực tế để xử lý
- Nội dung người học được truyền thụ chủ yếu
từ sách giáo khoa, giáo trình và giáo viên
- Người học được truyền đạt những nội dung định hướng nhằm đạt được các đầu ra quy định
- Nội dung kiến thức được lĩnh hội
từ nhiều nguồn khác nhau: Sách vở, giáo viên, từ thực hành, thực tế, mạng xã hội, bối cảnh xã hội…
- Và trong quá trình học được sử dụng kiến thức để xử lý và giải quyết các tình huống thực tế nảy sinh
Phương pháp - Giáo viên chủ yếu sử
dụng phương pháp diễn giảng, truyền thụ kiến thức một chiều
- Người học thụ động tiếp thu kiến thức đã được quy định sẵn
- Giáo viên làm mẫu phân tích, hướng dẫn người học luyện tập theo các phương pháp truyền thống
- Giáo viên đóng vai trò định hướng, hỗ trợ, tổ chức các hoạt động và đánh giá người học
- Giáo viên thực hiện nhiều phương pháp dạy học tích cực nhằm tăng tính tương tác, phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của người học như: Thuyết trình, thảo luận nhóm, dạy học bằng phương pháp đặt ra tình huống để người học xử lý, dạy học theo sơ đồ tư duy trí tuệ…
- Người học tự giác, chủ động tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo trong tiếp nhận tri thức, giải quyết các vấn đề Đồng thời bản thân người học tham gia vào việc tự đánh giá,
tự điều chỉnh
- Qua đây hình thành tri thức, kỹ
Trang 32- Lớp học linh động tùy theo từng chủ đề, nội dung buổi học Sinh viên có thể học ở lớp, ở phòng thực hành, phòng thí nghiệm, đi thực tế tại cơ quan, doanh nghiệp, điền dã, học ở hiện trường, học cá nhân, học theo nhóm…
Kiểm tra -
Đánh giá
Đánh giá dựa trên tiêu chí có sẵn, và chỉ yêu cầu người học tái hiện lại hình thức và kiến thức đã được học
Đánh giá cả quá trình học tập của người học và đánh giá bằng nhiều hình thức khác nhau, Coi trọng đến khả năng hình thành năng lực và vận dụng để giải quyết tình huống Qua bảng so sánh trên, thấy rõ sự khác nhau giữa hai phương pháp dạy học và từ đây chất lượng đào tạo cũng sẽ khác nhau Với phương pháp dạy học truyền thống, người học tiếp nhận tri thức một chiều nên hình thành thói quen thiếu sự chủ động trong học tập và tìm kiếm tri thức mới, hơn nữa sẽ làm thui chột tư duy sáng tạo Đồng thời nó hình thành thói quen chờ được “dọn sẵn” nên thiếu sự năng động trong cuộc sống Mặt khác, kiến thức tiếp nhận được chỉ thông qua việc nghe giảng từ người dạy, học thuộc mà không được thực hành, vận dụng ngay thì lượng kiến thức còn lại trong bộ não người học là rất ít Chính
vì vậy, sinh viên sau khi ra trường thiếu các kỹ năng cần thiết, việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn còn kém lại thiếu tư duy sáng tạo
Ngược lại với phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học, lúc này vị trí trung tâm của người dạy đã được chuyển ngôi sang người học Người dạy thay vì cung cấp kiến thức theo cách “thầy đọc trò chép” thì giờ đây vai trò quan trọng của người thầy là tổ chức lớp học, gợi mở, nêu vấn đề để sinh viên là người khám phá và tìm ra kết quả Đồng thời, nếu theo phương pháp dạy truyền thống thì kiến thức sinh viên có được chỉ thông qua việc nghe thì theo phương pháp dạy học tích cực người học lĩnh hội tri thức qua nhiều hình thức từ được nghe, được thấy và được làm Như vậy, với phương pháp dạy học này đòi đỏi các bạn sinh viên phải học đi đôi với hành, có tinh thần tự học cao, biết tìm kiếm và xử lý thông tin… Qua đây giúp người học bộc lộ các năng lực, phát huy tính tự tìm tòi nghiên cứu, sáng tạo và tinh thần học tập suốt đời Không những thế còn giúp các bạn sinh viên “sở hữu” các kỹ năng, đặc biệt là các kỹ năng mềm như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng công nghệ thông tin, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giải quyết vấn đề… Mặt khác, với phương pháp dạy học mới, người thầy còn là người truyền
Trang 33lửa, biết thắp sáng những đam mê và giúp các bạn trẻ nhận thấy được năng lực tiềm ẩn của bản thân để phấn đấu
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học là nhiệm vụ cần kíp của các trường đại học nói riêng và các cấp, các bậc học nói chung nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, góp phần quan trọng đổi mới toàn diện nền giáo dục nước nhà
* Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia
Có câu nói rằng: “Chỉ có những quốc gia thu hút những cái đầu vĩ đại hoặc coi trọng giáo dục mới có thể trở nên giàu có”, như vậy chiến lược giáo dục đúng đắn là vũ khí tối quan trọng để xây dựng đất nước trở nên hùng mạnh Nhưng nền giáo dục của nước ta nói chung và bậc đại học nói riêng đang rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Đó là tình trạng người học được tiếp cận rất nhiều kiến thức nhưng chủ yếu là lý thuyết mà ít được thực hành để vận dụng vào thực tiễn, ít được đi thực tế để trải nghiệm Mặt khác, bản thân người học lại không đặt ra mục tiêu trong học tập nên thiếu động lực và thụ động trong tiếp nhận tri thức, thiếu tư duy sáng tạo, khả năng tự tìm tòi, nghiên cứu Chính vì vậy sau khi rời ghế nhà trường với tấm bằng cử nhân trong tay nhưng sinh viên không xin được việc làm đúng ngành nghề, thậm chí phải cất bằng để làm công nhân tại các khu công nghiệp không phải là chuyện hiếm Và trường hợp sinh viên với tấm bằng loại giỏi nhưng khó khăn khi xin việc do không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng cũng rất nhiều Đồng thời, nhiều cử nhân khi được nhận vào làm việc tại các cơ quan, doanh nghiệp thì vẫn phải đi tào tạo lại Đây thực sự là bức tranh ảm đảm về chất lượng giáo dục và trình độ, tương lai nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay
Đứng trước thực trạng trên buộc nhà trường, người dạy, người học phải thay đổi cả trong tư duy và trong cách làm để “Xây dựng nền giáo dục mới, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt” Và để thực hiện được nhiệm vụ này đòi hỏi chương trình đào tạo phải bám sát nhu cầu lao động của xã hội nhằm tránh tình trạng nhà trường tuyển sinh những ngành nghề mà xã hội ít có nhu cầu dẫn đến thừa nguồn nhân lực và dạy thừa lý thuyết nhưng thiếu thực hành dẫn đến tình trạng sinh viên ra trường không thạo việc, không có kinh nghiệm thực tiễn nên xin việc rất khó khăn Do đó việc chỉnh sửa chương trình đào tạo,
đề cương chi tiết các môn học cần cụ thể hóa các kỹ năng mà sinh viên cần đạt được cũng như thay đổi phương pháp giảng dạy từ truyền thống sang tiếp cận năng lực người học là cần thiết và bắt buộc Điều này góp phần quan trọng để tăng năng lực con người trong nền kinh tế mới: Nền kinh tế tri thức và cách mạng 4.0 hiện nay
Như vậy, đổi mới chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của quốc gia nhằm đào tạo nguồn nhân lực vững vàng về chuyên môn, đồng
Trang 34thời có khả năng sáng tạo, thích nghi nhanh trong môi trường làm việc năng động với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế
Và để đạt được kết quả này, cần thiết phải thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực, đào tạo thực hành, thực nghiệm song hành cùng lý thuyết để người học trải nghiệm, tiếp cận với ngành nghề của mình ngay khi ngồi trên ghế nhà trường Đồng thời với phương pháp dạy học tích cực, sinh viên bắt buộc phải bỏ thói quen chây ỳ và dần dần hình thành tinh thần tự học cao Không những thế với phương pháp dạy học mới, người học không bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định nên người học được thể hiện quan điểm, điều này sẽ giúp sinh viên phát huy tính sáng tạo khi làm việc
*Nâng tầm thương hiệu nhà trường
Ngày nay khi khâu tuyển sinh của các trường gặp rất nhiều khó khăn thì việc nâng tầm thương hiệu, mức độ uy tín của nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút người học Bởi về cơ bản thương hiệu trường đại học có giá trị cũng tương tự như thương hiệu của mọi doanh nghiệp và tổ chức Nó được thể hiện qua tên giao dịch của trường, gắn liền với bản sắc riêng, uy tín và hình ảnh của nhà trường nhằm gây dấu ấn sâu đậm đối với người học, đối tác, nhà tuyển dụng và phân biệt với các trường khác trong hoạt động đào tạo Hay nói cách khác, thương hiệu của một trường chính là nhận thức của người học, giảng viên, cán bộ nhân viên nhà trường, đối tác hợp tác, nhà tuyển dụng và cả
xã hội với hình ảnh mà một trường đại học có được qua những gì họ cung ứng cho xã hội Và chính việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học là một yếu tố quan trọng góp phần nâng tầm thương hiệu của nhà trường Bởi với việc giảng dạy theo phương pháp tích cực này, nhà trường
sẽ nâng cao chất lượng đào tạo, các bạn sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ dễ dàng hơn trong xin việc và mức độ hài lòng các nhà tuyển dụng sẽ cao hơn Qua đây
uy tín của nhà trường được nâng cao, chất lượng đào tạo của nhà trường được khẳng định và nó sẽ là tiêu chí để thu hút người học
* Giải pháp nâng cao hiệu quả đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học
* Về phía nhà trường
Để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo nguồn nhân lực với nhu cầu lao động xã hội cũng như việc nâng cao uy tín của mình thì nhà trường cần phải đổi mới nội dung chương trình đào tạo, xây dựng nội dung học phần đảm bảo bám sát yêu cầu của thị trường lao động và đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học Như thiết kế lại chương trình học sao cho thời gian thực tế, thực hành của sinh viên tăng lên nhằm tạo điều kiện cho các bạn sinh viên biết việc, thạo việc khi chưa rời ghế nhà trường Đồng thời nhà trường cần linh hoạt hơn trong việc tính giờ chuẩn của tiết học thực hành
Trang 35cho giáo viên và tạo điều kiện thuận lợi để trong từng môn học giáo viên có thể đưa sinh viên đi tham quan để nắm bắt tốt hơn kiến thức từng môn học Để thực hiện được điều này, các trường đại học cần tạo ra sự gắn bó hữu cơ giữa cung và cầu, giữa các bộ phận trong trường với nhau và với xã hội Nhà trường hãy xem sinh viên là khách hàng, hãy “lắng nghe tiếng nói” của nhu cầu thị trường lao động để đào tạo được nguồn nhân lực làm được việc, làm hài lòng các nhà tuyển dụng, đáp ứng được nhu cầu xã hội Do đó, một giải pháp đặt ra là các trường đại học cần thiết lập được hệ thống các yếu tố đảm bảo chất lượng và hàng năm cần tiến hành khảo sát để có được thông tin hữu ích Dữ liệu chúng ta cần thu thập thông tin bao gồm: đánh giá của thông tin về chương trình, về giảng viên, bài giảng…; sự tiến bộ của người học; tỷ lệ sinh viên ra trường và bỏ học; tỷ lệ sinh viên ra trường làm đúng chuyên ngành; phản hồi từ thị trường lao động; phản hồi từ cựu sinh viên Từ các thông tin này, nhà trường tiến hành phân tích, đánh giá và trên cơ sở đó ra các quyết định hay điều chỉnh chương trình học, phương pháp giảng dạy, thậm chí là xóa bỏ hay mở thêm ngành học mới (ngành học mới phải phù hợp với mục tiêu, chức năng của nhà trường; đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất đảm bảo) nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu người học và nhu cầu lao động xã hội cần
Đồng thời, nhà trường cần đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật như phòng học, máy chiếu, phòng thực hành đầy đủ trang thiết bị… để giúp công tác giảng dạy theo phương pháp tích cực đạt hiệu quả cao Đồng thời cần đầu tư cơ sở dữ liệu phục vụ công tác nghiên cứu, học tập của giảng viên và sinh viên trong trường bởi với phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận năng lực người học đòi hỏi sinh viên phải chủ động tìm tòi, nghiên cứu tài liệu Vì vậy, nhà trường cần xây dựng tài liệu học tập mở, cập nhật giáo trình, tài liệu mới và đa dạng các nguồn tìm kiếm
Mặt khác, nhà trường cần kết nối tốt với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để tạo điều kiện cho sinh viên tới thực tế, thực tập Đồng thời, quan hệ tốt với đối tác và doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho sinh viên ra trường có việc làm, từ đó tạo điều kiện cho trường phát triển Không những thế, chúng ta có thể tham khảo ý kiến của nhà tuyển dụng trong việc xây dựng chương trình đào tạo của ngành học nhằm bám sát nhu cầu thực tiễn của xã hội
* Về phía giảng viên
Song hành cùng việc đổi mới phương thức đào tạo của nhà trường, người dạy cần thay đổi quan điểm và phương pháp dạy học theo hướng tích cực Giờ đây, thay vì cho rằng người thầy là trung tâm trong hoạt động dạy học và thực hiện truyền tải tri thức một chiều thì giảng viên cần chuyển vị trí trung tâm trong dạy học cho sinh viên để phát huy tính chủ động của người học và là người “cởi trói” tư duy tiếp nhận tri thức một chiều Vì vậy, người thầy cần có quan điểm
Trang 36dạy học mới: giảng dạy là khai thác và nuôi dưỡng nội lực của sinh viên để họ
sẽ tự học suốt đời và tạo ra thói quen rèn luyện tư duy, kĩ năng phân tích vấn đề, khả năng tiếp thu, diễn đạt, tổ chức, xử lí thông tin ở người học
Giáo viên cần sáng tạo, linh hoạt trong việc áp dụng và lồng ghép các phương pháp giảng dạy nhằm thay đổi không khí học tập, tạo hứng thú cho sinh viên trong tiếp nhận kiến thức Đồng thời, theo mục tiêu, nội dung của môn học hay từng chương, từng phần cụ thể mà giáo viên có thể thiết kế buổi đi thực tế: đưa sinh viên tới các cơ quan, doanh nghiệp hay khảo sát thực địa… để nâng cao hiệu quả học tập từ việc lĩnh hội tri thức thông qua quá trình nghe - nhìn và thực hành các kỹ năng trong từng môn học
Người thầy cần có các biện pháp nhằm tạo động lực cho người người học,
là người truyền ngọn lửa đam mê trong việc khám phá, chinh phục tri thức như: tôn trọng các nhận định, quan điểm của người học; có lời động viên, khen ngợi khi sinh viên trả lời đúng, hăng say phát biểu, thảo luận bài; cộng điểm vào ý thức, thái độ học tập Đồng thời một biện pháp hữu hiệu nhưng lại ít thầy cô lưu tâm đấy chính là cố gắng nhớ tên các bạn sinh viên và hãy gọi họ với tên riêng
đó Bởi với mọi người, tên riêng là ngôn ngữ quan trọng và êm ái nhất nên điều này khiến các bạn sinh viên thấy rằng mình được quan tâm và cố gắng trong học tập nhằm tạo ấn tượng tốt với tên riêng của mình trong trí nhớ của thầy cô… Và khi sinh viên có động lực trong học tập họ sẽ chủ động, tích cực trong nghiên cứu, tự khám phá các tri thức mới
Mặt khác, không chỉ trông chờ vào mối quan hệ của nhà trường với các tổ chức, doanh nghiệp mà bản thân đội ngũ giảng viên cũng cần năng động trong việc khai thác các mối quan hệ với đối tác và doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện đưa sinh viên tới thực tế và tăng cơ hội việc làm cho sinh viên sau khi ra trường
* Về phía người học
Để phát huy hiệu quả phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học đòi hỏi cần có sự “cộng tác” của người học với người dạy Bản thân các bạn sinh viên phải xác định được muc tiêu, nhiệm vụ học tập; cần bỏ thói quen chây ỳ trong học tập, thói quen tiếp nhận tri thức một chiều và thay vào đó phải chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự giác trong học tập, nghiên cứu các vấn đề
Đồng thời sinh viên cần có kỹ năng quản lý thời gian vì thời gian là vàng bạc nhưng nhiều bạn sinh viên để nó trôi qua rất lãng phí, thay vì giành thời gian đọc sách, lên thư viện để tự nghiên cứu tiếp cận tri thức, học thêm các khóa đào tạo ngoại ngữ, tin học hay đi làm thêm để bổ sung các kỹ năng nghề nghiệp thì nhiều bạn giành thời gian để ngủ, lướt web, facebook, zalo… Vì vậy ngay lúc này các bạn sinh viên cần lên kế hoạch cho việc sử dụng quỹ thời gian hàng ngày của mình một cách hiệu quả, hãy dùng nó để phục vụ cho việc tự học, tự
Trang 37nghiên cứu, rèn luyện các kỹ năng để chinh phục các nấc thang tri thức và chuẩn
bị hành trang bước vào nghề sau khi tốt nghiệp
1.1.3.3 Phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực
Trong quan điểm dạy học mới (tổ chức) một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm , đem tới hứng thú học tập cho học sinh Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như: bám sát mục tiêu giáo dục, nội dung dạy học, đặc trưng môn học; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh (HS); giờ học đổi mới PPDH còn có những yêu cầu mới như: được thực hiện thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho HS theo hướng chú
ý đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, khả năng tự học, nhu cầu hành động
và thái độ tự tin, được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều: giữa GV
và HS, giữa các HS với nhau (chú trọng cả hoạt động dạy của người dạy và hoạt động học của người học) Tuy nhiên, dù sử dụng bất cứ phương pháp nào thì
cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thiện nhiệm vụ học tập với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”
1.1.4 Một số vấn đề lý luận về phân môn tập đọc lớp 3
1.1.4.1 Mục tiêu của dạy học tập đọc
a, Mục tiêu của môn tiếng Việt lớp 3
Mục tiêu môn tiếng Việt ở tiểu học nhằm:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, văn hóa, văn học của Việt Nam và nước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giản dị của tiếng Việt, góp phần hình thành nên nhân cách con người “Việt Nam
+ Hiểu được ý chính của đoạn văn
+ Biết dùng mục tiêu sách giáo khoa (SGK) khi đọc
+ Thuộc lòng một số bài văn vần trong SGK
Trang 38- Viết:
+ Biết viết chữ hoa cỡ vừa và cỡ nhỏ; viết đúng và đều nét các tiếng, từ, câu + Viết đúng chính tả các cặp từ có vần khó hoặc dễ lẫn phụ âm đầu, phụ âm cuối hay dấu thanh do các cách phát âm địa phương; bước đầu biết cách viết hoa tên người, tên địa lý Việt Nam; viết đúng chính tả một đoạn văn hoặc một bài văn dưới 50 chữ (tiếng) với hai hình thức tập chép và nghe viết
+ Viết được những đoạn văn, những bức thư ngắn
- Nghe:
+ Nghe hiểu và trả lời được câu hỏi của người đối thoại; biết dùng câu hỏi để hỏi lại người đối thoại nhằm hiểu rõ yêu cầu của họ; có thái độ lịch sự khi nghe người khác nói
+ Nghe – hiểu những văn bản có độ dài thích hợp và nội dung gần gũi với học sinh lớp 3
- Nói
+ Nói thành câu, nói rõ ràng, mạch lạc
+ Bước đầu biết chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, chia tay, mời, nhờ, yêu cầu, chia vui, chia buồn,…đúng ngữ điệu và đúng nghi thức khi giao tiếp ở gia đình, trường học hoặc nơi công cộng
+ Biết giới thiệu đơn giản về bản thân, gia đình, lớp học, bạn bè theo mục đích nhất định
+ Kể lại một đoạn chuyện đã nghe, đã đọc
- Kiến thức tiếng Việt và văn học (chỉ làm quen và nhận biết thông qua các bài thực hành kỹ năng)
Biết phân biệt văn xuôi, văn vần
Nhận biết các nhân vật trong truyện
Nhận biết đoạn văn, đoạn thơ
b, Mục tiêu của phân môn tập đọc lớp 3
Trang 39Để nắm vững những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, làm cho giờ dạy tập đọc lớp 3 nhẹ nhàng và đem lại hiệu quả thiết thực Khi dạy giáo viên cần điều chỉnh phù hợp theo từng đối tượng học sinh trong lớp theo quy định chuẩn kiến thức kỹ năng ở từng giai đoạn:
* Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng học kì I
- Rèn kỹ năng đọc thành tiếng:
+ Đọc đúng một bài khoảng 60 tiếng trong thời gian một phút
+ Đọc đúng từ, đúng dấu, rõ ràng, rành mạch từng câu, từng đoạn trong bài đọc (thơ hay văn xuôi)
+ Đọc đúng: Ngắt nghỉ hơi ở chỗ có dấu câu hoặc cụm từ rõ nghĩa
+ Biết đọc phân biệt lời nhân vật trong các đoạn đối thoại và người dẫn chuyện + Biết nhắc lại các nhân vật, chi tiết, hình ảnh nổi bật trong các bài đã đọc
- Rèn kỹ năng đọc – hiểu:
+ Biết cách đọc thầm: Hiểu nghĩa từ, đoạn văn, đoạn thơ, nội dung chính của bài
+ Biết trả lời được những câu hỏi về nội dung bài
+ Biết nhận xét một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài đã học
+ Đọc thuộc ba khổ thơ, bài thơ (khoảng 60 – 70 tiếng)
* Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng học kì II
- Rèn kỹ năng đọc thành tiếng:
+ Đọc đúng một bài khoảng 150 tiếng trong thời gian 2, 3 phút
+ Đọc đúng từ, đúng dấu, rõ ràng, rành mạch từng câu, từng đoạn trong bài đọc (thơ hay văn xuôi)
+ Biết đọc đúng: Ngắt nghỉ hơi ngay dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu hai chấm
+ Đọc đúng các từ ngữ trong từng nội dung bài
+ Đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy)
+ Biết đọc diễn cảm (đọc giọng vui – buồn – giạn – dữ - trang nghiêm)
Lưu ý: Đọc diễn cảm dành cho học sinh giỏi, khá
- Rèn kỹ năng đọc – hiểu:
+ Biết cách đọc thầm: Tìm hiểu ý chính của đoạn, nội dung chính của đoạn + Biết trả lời được những câu hỏi về nội dung và ý nghĩa bài học Biết nhận xét một số hình ảnh, nhân vật
+ Đọc thuộc một số bài thơ, đoạn văn ngắn (bài thơ 10 – 12 dòng, bài văn xuôi khoảng 80 chữ)
* Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống; hứng thú đọc sách
và yêu tiếng Việt, cụ thể:
Trang 40- Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn và trách nhiệm đối với ông bà cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp; đoàn kết, giúp đỡ bạn bè; vị tha, nhân hậu
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong SGK, hình thành lòng ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp của tiếng Việt và tình yêu tiếng Việt
1.1.4.2 Chương trình tập đọc lớp 3
* Hệ thống chủ điểm trong phân môn tập đọc lớp 3
Sách giáo khoa được xây dựng theo hai trục là trục chủ điểm và trục kỹ năng trong đó chủ điểm được lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kỹ năng được lấy làm khung cho từng tuần và từng đơn vị học
Ở lớp 3, SGK được chia làm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần (trừ chủ điểm “Ngôi nhà chung” học trong 3 tuần) Có tất
cả 93 bài tập đọc (mỗi tuần 3 bài tập đọc) Cụ thể như sau:
BẢNG 1.4: DANH MỤC CHƯƠNG TRÌNH TẬP ĐỌC LỚP 3
SGK TIẾNG VIỆT 3 – TẬP MỘT (8 chủ điểm – 48 bài tập đọc)
CHỦ ĐIỂM: MĂNG NON
TUẦN 1:
Tập đọc: Cậu bé thông minh (SGK/Trang 4) Tập đọc: Hai bàn tay em (SGK/Trang 7) Tập đọc: Đơn xin vào đội (SGK/Trang 9) TUẦN 2:
Tập đọc: Ai có lỗi? (SGK/Trang12) Tập đọc: Khi mẹ vắng nhà (SGK/Trang 15) Tập đọc: Cô giáo tí hon (SGK/Trang 17)
CHỦ ĐIỂM: MÁI ẤM
TUẦN 3:
Tập đọc: Chiếc áo len (SGK/Trang 20) Tập đọc: Quạt cho bà ngủ (SGK/Trang 24) Tập đọc: Chú sẻ và bông hoa bằng lăng (SGK/Trang 26) TUẦN 4:
Tập đọc: Người mẹ (SGK/Trang 29) Tập đọc: Mẹ vắng nhà ngày bão (SGK/Trang 32) Tập đọc: Ông ngoại (SGK/Trang 34)
CHỦ ĐIỂM: TỚI TRƯỜNG
TUẦN 5:
Tập đọc: Ngưởi lính dũng cảm (SGK/Trang 38) Tập đọc: Mùa thu của em (SGK/Trang 42) Tập đọc: Cuộc họp của chữ viết (SGK/Trang 44) TUẦN 6:
Tập đọc: Bài tập làm văn (SGK/Trang 46) Tập đọc: Ngày khai trường (SGK/Trang 49) Tập đọc: Nhớ lại buổi đầu đi học (SGK/Trang 51)
CHỦ ĐIỂM: CỘNG ĐỒNG