1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục cho học sinh lớp 4 thông qua môn kỹ năng sống

130 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Dục Tích Hợp Tìm Kiếm Sự Giúp Đỡ Khi Có Nguy Cơ Bị Xâm Hại Tình Dục Cho Học Sinh Lớp 4 Thông Qua Môn Kỹ Năng Sống
Tác giả Đinh Thị Hường
Người hướng dẫn THS. Bùi Thị Loan
Trường học Trường Đại Học Hùng Vương
Chuyên ngành Giáo dục Tiểu học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON --- ĐINH THỊ HƯỜNG GIÁO DỤC TÍCH HỢP TÌM KIẾM SỰ GIÖP ĐỠ KHI CÓ NGUY CƠ BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH LỚP 4 THÔNG QUA

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-

ĐINH THỊ HƯỜNG

GIÁO DỤC TÍCH HỢP TÌM KIẾM SỰ GIÖP ĐỠ

KHI CÓ NGUY CƠ BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH

LỚP 4 THÔNG QUA MÔN KĨ NĂNG SỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục Tiểu học

Phú Thọ, 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

-

ĐINH THỊ HƯỜNG

GIÁO DỤC TÍCH HỢP TÌM KIẾM SỰ GIÖP ĐỠ

KHI CÓ NGUY CƠ BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH

LỚP 4 THÔNG QUA MÔN KĨ NĂNG SỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngành: Giáo dục Tiểu học

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: THS BÙI THỊ LOAN

Phú Thọ, 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong khóa luận là trung thực và chưa từng có công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Phú Thọ, tháng 6 năm 2020

Sinh viên thực hiện khóa luận

Đinh Thị Hường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian nghiên cứu khóa luận “Giáo dục tích hợp tìm kiếm

sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục cho học sinh lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống”, đến nay khóa luận đã hoàn thành Với tình cảm chân

thành, tôi xin cảm ơn các thầy cô trong ban lãnh đạo nhà trường, các thầy cô giáo, cán bộ trường Đại học Hùng Vương, tập thể ban lãnh đạo, cán bộ, giáo viên trường tiểu học Hùng Vương và Trường tiểu học Phong Châu – thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ đã tư vấn, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Th.S Bùi Thị Loan –

giảng viên trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này

Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô đang trực tiếp giảng dạy tại khối lớp

4 trường tiểu học Hùng Vương và Trường tiểu học Phong Châu – thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ vì sự giúp đỡ của các thầy cô trong quá trình thực nghiệm của chúng tôi

Tôi xin bày tỏ tình cảm sâu sắc tới gia đình, người thân đã ủng hộ, động viên, tạo điều kiện để tôi học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận

Dù đã có nhiều cố gắng, song khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các quý thầy, cô giáo góp ý để khóa luận được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn

Phú Thọ, tháng 6 năm 2020

Đinh Thị Hường

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 3

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

5.3 Các phương pháp toán học 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận 5

6.1 Ý nghĩa khoa học của khóa luận 5

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của khóa luận 5

7 Cấu trúc của khóa luận 5

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Khái niệm tích hợp 7

1.1.2 Khái niệm giáo dục tích hợp 8

1.1.3 XHTD 9

1.1.4 Nguy cơ bị xâm hại tình dục 13

1.1.5 Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục 15

1.2 Tìm hiểu về môn Kĩ năng sống lớp 4 15

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 4 16

1.3.1 Đặc điểm về sinh lí 16

1.3.2 Đặc điểm về tâm lí 16

1.4 Giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 17

Trang 6

1.4.1 Khái niệm giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD 17 1.4.2 Mục đích và ý nghĩa của việc giáo dục tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị

XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 18

1.4.3 Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 20

1.4.4 Các con đường giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 23

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 24

1.5.1 Yếu tố chủ quan 24

1.5.2 Yếu tố khách quan 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG TÌM KIẾM SỰ GIÖP ĐỠ KHI CÓ NGUY CƠ BỊ XHTD CHO HS LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC PHONG CHÂU VÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC HÙNG VƯƠNG THỊ XÃ PHÖ THỌ - TỈNH PHÖ THỌ 28

2.1 Vài nét về địa điểm nghiên cứu 28

2.1.1 Trường tiểu học Phong Châu - thị xã Phú Thọ 28

2.1.2 Trường tiểu học Hùng Vương - thị xã Phú Thọ 29

2.2 Đánh giá thực trạng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 trường tiểu học Phong Châu và trường tiểu học Hùng Vương - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ 31

2.2.1 Thực trạng nhận thức của HS lớp 4 về tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD 31

2.2.2 Thực trạng thái độ của HS lớp 4 về tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục 35

2.2.3 Thực trạng biểu hiện hành vi của HS lớp 4 về tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD 36

2.3 Đánh giá thực trạng giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống trường tiểu học Phong Châu và trường tiểu học Hùng Vương - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ 47

Trang 7

2.3.1 Đánh giá về mục đích và ý nghĩa của việc giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp

đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 47

2.3.2 Đánh giá về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 48

2.3.3 Đánh giá nguyên nhân dẫn tới thực trạng giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ MODULE GIÁO DỤC TÍCH HỢP TÌM KIẾM SỰ GIÖP ĐỠ KHI CÓ NGUY CƠ BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HS LỚP 4 THÔNG QUA MÔN KĨ NĂNG SỐNG 54

3.1 Cơ sở khoa học định hướng cho việc thiết kế module giáo dục tích hợp kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 54

3.1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục 54

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 54

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 54

3.1.4 Nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể 55

3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục ý thức và hành vi 55

3.1.6 Phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập của HS dưới sự lãnh đạo của thầy giáo 56

3.1.7 Nguyên tắc phát huy ý thức tự giáo dục của HS 56

3.1.8 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa các lực lượng giáo dục 57

3.2 Quy trình thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hại tình dục cho HS lớp 4 thông qua môn thông qua môn Kĩ năng sống 58

3.2.1 Lựa chọn chủ đề 58

3.2.2 Mục tiêu giáo dục tích hợp 58

3.2.3 Nội dung giáo dục tích hợp 59

3.2.4 Các bước tiến hành 59

3.2.5 Tổng kết đánh giá 60

Trang 8

3.3 Thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hại

tình dục cho HS lớp 4 thông qua môn thông qua môn Kĩ năng sống 61

3.3.1 Nội dung 1: Giáo dục tích hợp nhận biết các nguy cơ bị xâm hại tình dục cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 61

3.3.2 Nội dung 2: Giáo dục tích hợp kiểm soát cảm xúc trước nguy cơ bị xâm hại tình dục cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 67

3.3.3 Nội dung 3: Giáo dục tích hợp ứng phó trước các nguy cơ bị xâm hại tình dục cho HS lớp 4 thông qua môn thông qua môn Kĩ năng sống 69

3.4 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 72

3.4.1 Mục đích thực nghiệm 72

3.4.2 Đối tượng, phạm vi, thời gian thực nghiệm 73

3.4.3 Phạm vi thực nghiệm 73

3.4.4 Nội dung thực nghiệm 73

3.4.5 Tiêu chí và cách đánh giá 73

3.4.6 Quy trình tổ chức thực nghiệm. 74

3.4.7 Kết quả thực nghiệm 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Kiến nghị 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng tự đánh giá của HS lớp 4 về tầm quan trọng của kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD 31 Bảng 1.2 Đánh giá nhà trường (CBQL, GV, NV) về tầm quan trọng của kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 32 Bảng 1.3 Nhận thức về hậu quả của XHTD của HS lớp 4 34 Bảng 1.4 Tự đánh giá về khả năng nhận biết và quản lý cảm xúc của HS lớp 4 34 Bảng 1.5 Bảng tự đánh giá của HS lớp 4 và đánh giá của GV về thái độ của HS lớp 4 đối với việc rèn luyện kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ xâm hại tình dục 35 Bảng 1.6 Tự đánh giá của HS lớp 4 về khả năng nhận diện các tình huống 37

có nguy cơ bị XHTD 37 Bảng 1.7 Bảng tự đánh giá của HS lớp 4 về nhận biết các cảnh báo có nguy cơ

bị XHTD 39 Bảng 1.8 Bảng tự đánh giá về khả năng nhận diện các địa điểm có nguy cơ 42 xảy ra XHTD của HS lớp 4 42 Bảng 1.9 Bảng tự đánh giá khả năng nhận diện về các đụng chạm an toàn và không an toàn của HS lớp 4 43 Bảng 1.10 Khả năng nhận diện đối tượng XHTD (Nhận diện thủ phạm XHTD) của HS lớp 4 45 Bảng 1.11 Khả năng nhận diện về đối tượng có thể bị xâm hại tình dục của HS lớp 4 46 Bảng 2.1 Đánh giá của GV về mục đích giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 47 Bảng 2.2 Thực trạng về nội dung giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 48 Bảng 2.3 Các hình thức giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 49

Trang 10

Bảng 2.4 Nguyên nhân dẫn đến kết quả giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ

khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 50

Bảng 2.5 Những khó khăn GV gặp phải trong giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống 51

Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra đầu vào của HS lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 75

Bảng 3.2 Bảng thống kê kết quả giờ dạy thực nghiệm 76

Bảng 3.3 Bảng thống kê kết quả giờ dạy đối chứng 77

Bảng 3.4 Bảng thống kê kết quả kiểm tra của HS lớp thực nghiệm 77

và đối chứng 77

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1: Biểu đồ so sánh giữa việc tự đánh giá của HS lớp 4 và đánh giá của nhà trường về tầm quan trọng của kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD 33

Biểu đồ 3.1 Kết quả kiểm tra đầu vào của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 76

Biểu đồ 3.3 Kết quả kiểm tra của HS lớp thực nghiệm và đối chứng 78

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Thời gian gần đây, hàng loạt các vụ XHTD trẻ em bị phát hiện và được báo chí, các kênh thời sự đưa tin gây trấn động dư luận

Theo các số liệu thống kê, 9 tuổi là độ tuổi trung bình trẻ bị XHTD (XHTD)

Cứ 4 bé gái thì có 1 bé bị XHTD và 6 bé trai thì có 1 bé bị XHTD Trong đó, các đối tượng thực hiện hành vi XHTD với trẻ có đến 93% là thân quen và chỉ có 7% là người lạ [Theo Bộ lao động, Thương binh và Xã hội, Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA)]

Ở Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục cảnh sát – Bộ Công an, trong giai đoạn từ năm 2011-2015 có 5300 vụ XHTD trẻ em được báo cáo và tính đến hết năm

2016 là 8 triệu 300 vụ

Tại tỉnh Phú Thọ, theo thống kê của Sở Lao động - TBXH, chỉ tính riêng năm 2017, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ trẻ em bị xâm hại, trong đó 5 vụ hiếp dâm, 5 vụ giao cấu và 1 vụ dâm ô với trẻ em.[22]

Hậu quả của việc bị XHTD thật sự rất nặng nề và gây ra những tổn thương nghiêm trọng về thể chất, về tâm lý và về xã hội

Trẻ em là tương lai của đất nước, vì vậy các vấn đề liên quan đến trẻ em được chính phủ các nước và cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt, việc giáo dục cho các em những kĩ năng tự bảo vệ bản thân trước những nguy cơ bị XHTD là vô cùng quan trọng, một trong những kĩ năng đó là kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy

cơ bị XHTD

Vấn đề giáo dục kĩ năng tự bảo vệ bản thân nói chung và kĩ năng tìm kiếm

sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD nói riêng đã được các nhà giáo dục quan tâm sâu sắc, đặc biệt trong vấn đề tích hợp các kĩ năng vào những môn học như: Tiếng Việt, đạo đức, khoa học, tự nhiên xã hội, kĩ năng sống…Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp đó là một trong những nội dung trọng tâm Bộ GD-ĐT yêu cầu trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học cơ sở năm học 2012-

2013 Dạy học theo hướng tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong chương trình xây dựng môn học

Trang 13

Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học Thực tiễn đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục và dạy học sẽ giúp phát triển những năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với

HS so với việc các môn học, các mặt giáo dục được thực hiện riêng lẽ Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục nhằm nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại

Với xu thế giáo dục hiện nay việc giáo dục tích hợp kĩ năng sống nói chung

và tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD nói riêng được nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nhà sư phạm và các tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu Và một trong những môn học có thể tích hợp và mang lại hiệu quả cao nhất trong việc giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD là môn Tự nhiên xã hội

Chính vì lý do trên, tôi đã quyết định chọn hướng nghiên cứu của mình

là“Giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống giúp các em có được kiến thức, kĩ năng nhận diện các nguy

cơ bị XHTD trên cơ sở đó tìm kiếm sự giúp đỡ từ người khác để bảo vệ bản thân một cách an toàn và lành mạnh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục tích hợp tìm kiếm

sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

3.2 Khảo sát và điều tra thực trạng giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi

có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống và nguyên nhân của thực trạng

3 3 Thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

Trang 14

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện và thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ có thể tiến hành nghiên cứu và thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD thông qua môn Kĩ năng sống cho 133 HS khối lớp 4 ở Trường tiểu học Phong Châu và trường tiểu học Hùng Vương thị xã Phú Thọ

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Sử dụng các phương pháp: Phân tích, tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống hóa và khái quát hóa lý thuyết, từ đó rút ra các kết luận khoa học làm cơ sở để khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng và thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm

sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra giáo dục

Dùng phiếu điều tra khảo sát ý kiến của HS tiểu học, GV tiểu học, nhằm biết được mức độ hiểu biết, ý nghĩa, tầm quan trọng của quá trình giáo dục tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD ở HS lớp 4 trường tiểu học Phong Châu và trường tiểu học Hùng Vương thị xã Phú Thọ

- Phương pháp trao đổi, trò chuyện

Sử dụng phương pháp này nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra Qua trao đổi trò chuyện với HS , giáo viên, phụ huynh HS để tìm hiểu thêm về những vấn đề liên quan tới điều tra: Tâm tư, tình cảm, quan điểm, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế gia đình HS , từ đó chính xác hóa những vấn đề đã điều tra

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Gặp gỡ trực tiếp các cán bộ công an trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, các cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ GV, những chuyên gia có kinh nghiệm trong giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS tiểu học nhằm điều tra, trao đổi, xin ý kiến về những vấn đề có liên quan tới khóa luận

Trang 15

Đây là phương pháp sử dụng trí tuệ của một đội ngũ chuyên gia có trình độ cao về một lĩnh vực giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ cho HS tiểu học, ý kiến của các chuyên gia sẽ bổ xung, kiểm tra lẫn nhau cho ta một ý kiến đa số, khách quan về một vấn đề khoa học

- Phương pháp quan sát

Phương pháp này bao gồm quan sát có chủ định và quan sát không chủ định nhằm thu thập những thông tin về những biểu hiện thái độ, hành vi, những khó khăn của HS lớp 4 trong quá trình hình thành kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ

bị XHTD

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm là phương pháp đặc biệt cho phép tác động lên đối tượng nghiên cứu một cách chủ động, can thiệp có ý thức vào quá trình diễn biến tự nhiên

để hướng quá trình ấy diễn ra theo mục đích mong muốn

Dựa vào giả thuyết khoa học đã đặt ra tiến hành thực nghiệm ở trường tiểu học để kiểm nghiệm tính khoa học, khả thi của các module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho học lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

Tiến hành thực nghiệm đối với nhóm thực nghiệm và quan sát thật tỉ mỉ diễn biến và kết quả của hai nhóm một cách thật sự khách quan theo từng giai đoạn

Xử lý tài liệu thực nghiệm là giai đoạn phân tích các kết quả khảo sát Đây sẽ

là cơ sở để khẳng định giả thuyết, rút ra những bài học cần thiết và đề xuất ứng dụng vào thực tế

Kết quả thực nghiệm sư phạm là kết quả khách quan nhất trong các kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau

- Nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Mục đích của tổng kết kinh nghiệm giáo dục là:

+ Tìm hiểu bản chất, nguồn gốc, nguyên nhân và cách giải quyết những tình huống giáo dục đã xảy ra trong gia đình, trường học hay địa phương

+ Tổng kết những nguyên nhân để loại trừ sai lầm, thất bại trong công tác giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4, loại trừ những khuyết điểm có thể lặp lại

Trang 16

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

Nghiên cứu một số chân dung HS lớp 4 nhờ những biện pháp tăng cường xây dựng mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình mà các em đã có được các kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD

5.3 Các phương pháp toán học

Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu, là cơ sở để đánh giá thực trạng và tổ chức thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi của các chủ

đề giáo dục mà đề tài đưa ra

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận

6.1 Ý nghĩa khoa học của khóa luận

Các kết quả của khóa luận sẽ là những đóng góp có ý nghĩa quan trọng góp phần làm phong phú kho tàng lý luận về giáo dục kĩ năng sống nói chung và giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD nói riêng Đồng thời cũng làm phong phú cơ sở lý luận về việc xây dựng mối quan hệ giữa các lực lượng giáo dục, đặc biệt là sự phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường Đây là cơ sở

để đánh giá thực trạng giáo dục tích hợp kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy

cơ bị XHTD cho HS trường tiểu học Phong Châu và trường tiểu học Hùng Vương – thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của khóa luận

Nghiên cứu này tìm hiểu và đánh giá về thực trạng kĩ năng tìm kiếm sự giúp

đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS trường tiểu học Phong Châu và trường tiểu học Hùng Vương, xác định được những yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến

kĩ năng này ở HS Từ đó xây dựng và thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cần thiết cho công tác giáo dục tích hợp kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HSTH nói riêng và giáo dục kĩ năng sống nói chung

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị khóa luận gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Trang 17

Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị

XHTD cho HS lớp 4 trường tiểu học Phong Châu và trường tiểu học Hùng Vương - thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Thiết kế module giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ

bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

Trang 18

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm tích hợp

Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạy học Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Integration với nghĩa là xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những

bộ phận riêng lẻ

Theo từ điển Tiếng Anh - Anh (Oxford Advanced Learner‟s Dictionary), từ Intergrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau Theo từ điển GDH: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”[19, tr 383]

Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực khoa học GD, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng để chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số, GD môi trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội v.v xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống

Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc xác định nội dung dạy học trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình môn học ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình học tập và QTDH

Trong thời gian gần đây khi bàn luận thế nào là về khoa học tích hợp hay GDTH nhiều nhà khoa học GD, đặc biệt là các GV thường tập trung vào cụm từ

Trang 19

“tích hợp” Đối với nhiều GV, đây là khái niệm hoàn toàn mới và thật sự gặp nhiều khó khăn trong việc truyền đạt kiến thức đến cho HS A.V Baez nguyên chủ tịch

Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), cho rằng các khoa học trở thành

“tích hợp” khi chúng không còn bị “phân chia” nữa Tồn tại của sự vật, hiện tượng vốn đã là một thực thể toàn vẹn, và thống nhất Con người nghĩ ra cách “phân chia” chúng để mở rộng bần phạm vi hiểu biết cho mình Như vậy, sự “phân chia” đó chỉ

là hình thức, không phải là bản chất của sự tồn tại Vì vậy, mọi tranh luận của chúng

ta về “mức độ” và “cách thức” tích hợp chỉ nên coi là cách diễn tả ý muốn sửa chữa các hậu quả của việc “phân chia” không thể tránh được này [18]

Tuy nhiên, ở đây chúng ta cần phân biệt rõ giữa một bên là xu hướng tích hợp các khoa học trong tiến trình phát triển với một bên là xu hướng tích hợp các môn học trong quá trình tổ chức hoạt dạy học Chúng khác nhau về cả nguyên nhân

và nội dung Xu hướng tích hợp các khoa học khi nghiên cứu đối tượng đều tuân theo quy luật nhận thức từ: Tổng quát - Phân tích - Tổng hợp Như vậy, thực chất đây là quá trình nhận thức về toàn thể đến bộ phận theo nhiều tầng bậc xoáy ốc Ngày nay, khoa học tiếp tục phát triển, có sự phân hóa sâu, và song song với nó là tích hợp xuyên môn, liên môn Đặc biệt, do hình thái khoa học ở thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI đã chuyển từ phân tích - cấu trúc lên tổng thế - hệ thống làm xuất hiện các gian ngành, liên ngành với tốc độ phát triển ngày càng nhanh Trong khi đó, dạy học phản ánh sự phát triển của khoa học, và vì thời gian học tập trong nhà trường không thể kéo dài nhiều nên xuất hiện xu hướng phải dạy từ các môn học riêng sang dạy tích hợp các khoa học, và các môn học [18]

Trong luận án này chúng tôi kế thừa, tiếp thu và xây dựng khái niệm tích hợp nhau sau: Tích hợp là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng

1.1.2 Khái niệm giáo dục tích hợp

Theo Từ điển GD, giáo dục tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học

Trang 20

Giáo dục tích hợp là hành động liên kết một cách hữu cơ, có hệ thống các đối tượng nghiên cứu, học tập của một vài lĩnh vực môn học khác nhau thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó nhằm hình thành ở HS các NL cần thiết [20, tr 13]

Giáo dục tích hợp có nghĩa là đưa những nội dung GD có liên quan vào QTDH như: tích hợp tích hợp các kĩ năng cần thiết như: Kĩ năng xử lý tình huống;

kĩ năng giao tiếp; kĩ năng đối phó với căng thẳng; kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ, v.v Tức là, dạy cho HS biết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tình huống cụ thể trong cuộc sống, nhằm mục đích hình thành, phát triển NL

xử lý tình huống nói chung và kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị xâm hai tình dục nói chung Đồng thời chú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau của các môn học hay các phân môn khác nhau để bảo đảm cho HS khả năng huy động có hiệu quả những kiến thức và NL của mình vào giải quyết các tình huống tích hợp

Nói cách khác, trong dạy học tích hợp, HS dưới dự chỉ đạo của GV thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của môn học này sang ngôn ngữ của môn học khác; HS học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng

và những thao tác để giải quyết một tình huống phức hợp - thường là gắn với thực tiễn Chính nhờ qua đó, HS nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển

Trang 21

là khái niệm “Xâm phạm” Xâm phạm là động đến quyền lợi và chủ quyền của người khác

Vậy xâm hại có nghĩa là tất cả những hành vi gây tổn thương đến sự tự trọng của trẻ, làm hại đến thân thể, sức khỏe và tâm lý của trẻ Nếu trẻ bị tổn hại thì trẻ sẽ không thể phát triển tâm lý cũng như thể chất một cách hoàn thiện nhất

Theo luật trẻ em 2016, khái niệm về xâm hại trẻ em được hiểu như sau “Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự, nhân phẩm của trẻ hoặc dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, XHTD, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ

Vậy có thể nói các hoạt động liên quan đến sự gần gũi về thân thể giữa hai hoặc nhiều cá thể đều được gọi là “Tình dục” hay “Quan hệ tình dục”

- XHTD là gì?

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về XHTD trẻ em được các tổ chức quốc

tế, các cơ quan trong nước, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đưa ra Tuy nhiên, cách hiểu về XHTD trẻ em có sự khác nhau ở các thời điểm

Mặc dù luật pháp mỗi nơi định nghĩa mỗi khác, nhưng cụm từ “XHTD” có thể được hiểu là hành vi tình dục không tự nguyện, trong một số trường hợp còn

Trang 22

dùng đến vũ lực XHTD có thể bao gồm việc lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, loạn luân, cưỡng hiếp và bóc lột tình dục bởi những người được xem là đáng tin cậy, chẳng hạn như bác sĩ, GV hoặc những người thân cận với trẻ Các nạn nhân bị quấy rối tình dục, dù qua lời nói hay về thể chất, thường bị đe dọa hãm hại nếu nói

ra sự việc.[15]

Theo định nghĩa của UNICEF (United Nations Children’s Fund, Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc: “XHTD trẻ em là mọi hành vi lôi kéo trẻ vào các hoạt động liên quan đến tình dục mà trẻ không đủ khả năng (không hiểu), hoặc không đủ tâm thế để đưa ra quyết định đối với các hành vi này, hoặc các hành vi đó vi phạm đến luật pháp hay các giá trị văn hóa của cộng đồng sở tại” [17;tr556]

Lạm dụng tình dục trẻ em, còn gọi là ấu dâm, là quá trình trong đó một người trưởng thành lợi dụng vị thế của mình nhằm dụ dỗ hay cưỡng ép trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục Lạm dụng tình dục trẻ em có thể xảy ra ở bất kì nền văn hóa, chủng tộc, tôn giáo, thể chế chính trị nào [14]

Như vậy, đã có rất nhiều định nghĩa về XHTD trẻ em và các định nghĩa này đều thống nhất ở một điểm chung là XHTD trẻ em (còn gọi là lạm dụng tình dục trẻ em) được hiểu là bất kì hành động nào của người lớn hoặc trẻ em lớn hơn tác động lên trẻ bé hơn và yếu hơn nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của họ XHTD trẻ em có thể được phân chia thành hai loại chính:

1 Xâm hại không tiếp xúc thân thể như phơi bày cơ thể một cách có chủ ý, buông lời tục tĩu mang tính kích dục, cố tình cho trẻ em thấy cảnh sinh hoạt tình dục, nhìn trộm hay chụp ảnh trẻ khỏa thân, dụ dỗ trẻ xem phim ảnh khiêu dâm

2 Xâm hại tiếp xúc thân thể như sờ mó, đụng chạm vào các bộ phận kín, có hành vi cưỡng dâm, hiếp dâm, giao cấu với trẻ em hoặc bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại (mại dâm, dẫn dắt hoặc chứa chấp, tổ chức mại dâm trẻ em)

- Các mức độ XHTD

Hành vi lạm dụng tình dục có thể thay đổi từ việc sờ mó thân thể, bộ phận sinh dục, giao hợp bằng ngón tay cho đến là giao hợp qua đường sinh dục hoặc hậu môn Lạm dụng tình dục ở trẻ em không chỉ giới hạn vào các tiếp xúc cơ thể mà còn bao gồm cả nhưng hành vi không tiếp xúc như khoe bộ phận sinh dục cho trẻ thấy, rình xem trộm hoặc sử dụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em

Trang 23

- Dấu hiệu trẻ bị XHTD

+ Trẻ sợ hãi một người hoặc một nơi đặc biệt nào đó,

+ Phản ứng không bình thường từ trẻ khi trẻ được hỏi chúng có tiếp xúc đụng chạm với một người nào đó không,

+ Sợ hãi một cách không lý do khi được thăm khám cơ thể,

+ Trẻ vẽ những hình vẽ liên quan đến hành vi tình dục,

+ Thay đổi đột ngột hành vi như mút tay, đái dầm hoặc ỉa đùn,

+ Trẻ bỗng hiểu rõ bộ phận sinh dục, các hoạt động tình dục cũng như các từ ngữ liên quan,

+ Hoặc thậm chí trẻ tìm cách thực hiện hành vi tình dục với đứa trẻ khác Với những biểu hiện nghi ngờ trên, trẻ cần được thăm khám bởi một bác sĩ nhi khoa có kinh nghiệm Việc thăm khám có thể phát hiện được dấu hiệu trực tiếp trong vòng 72 giờ đầu tiên sau khi trẻ bị lạm dụng tình dục Tuy nhiên tùy theo mức

độ bị lạm dụng mà các triệu chứng có rõ hay không Các thăm khám bao gồm đánh giá hành vi của trẻ, thăm khám thực thể vùng đùi, các vết xước, vết nứt hậu môn,

âm hộ, dương vật, kiểm tra màng trinh Các xét nghiệm bao gồm các test chẩn đoán các bệnh lây truyền qua đường tình dục

Trong trường hợp không có sự giao hợp, không có những tổn thương thực thể thì việc chẩn đoán khó hơn nhiều Lúc này việc tạo một không khí tin cậy giữa thầy thuốc và trẻ là một yếu tố quan trọng trong chẩn đoán

- Hậu quả của việc trẻ bị XHTD

Tổn thương về tinh thần: Hậu quả lớn nhất khi trẻ bị XHTD là trẻ tổn thương

về tinh thần và ảnh hưởng đến tương lai (84,3%), trẻ dễ bị mặc cảm, phát triển không bình thường (65,7%), trẻ khó hoà nhập với xã hội (55,7%) [12] Từ các tài liệu nhi khoa và tâm lý bệnh nhi cho thấy:

Nhiều trẻ sau khi bị XHTD có sự hoảng loạn, xuất hiện các ảo giác bệnh lý (luôn có cảm giác bất an, giật mình, tưởng tượng ra hình ảnh kẻ xâm hại hay tiếng nói của kẻ xâm hại,…) Nghiêm trọng hơn, không ít em có suy nghĩ tìm đến cái chết

do bị sốc về mặt tinh thần.[12]

Tổn thương về thể chất: Tổn thương về sức khoẻ thể chất chiếm (69,1%) Bị

XHTD có thể gây ra gây ra những tổn thương nặng nề tại bộ phận sinh dục: Bị nhiễm

Trang 24

trùng đường tiết niệu, chảy máu kéo dài ở bộ phận sinh dục… và các tổn thương thể chất khác như: Đau bụng, đau đầu, mất ngủ…Những trường hợp XHTD đi kèm với bạo lực còn có thể dẫn tới tử vong Các em còn có nguy cơ bị nhiễm các bệnh xã hội, bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn gây nguy hiểm cho bản thân và thai nhi (các em nữ) gây ra nhiều nguyên nhân dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ sinh sản và hạnh phúc gia đình của các em về sau.[12]

Về xã hội: Trẻ có thể gặp khó khăn trong giao tiếp và hòa đồng với những

người xung quanh hoặc bị những người xung quanh kì thị, xa lánh

Hành vi lạm dụng tình dục đối với trẻ không chỉ gây tổn thương cơ thể và những hậu quả nhất thời mà còn có thể ảnh hưởng rất lâu dài về sau này Những hậu quả lâu dài của lạm dụng tình dục ở trẻ em biểu hiện từ nhẹ cho đến những rối loạn rất nặng nề không chỉ liên quan đến sức khỏe sinh sản mà còn liên quan đến khả năng học tập, khả năng hòa nhập gia đình và xã hội cũng như đối với sức khỏe tâm thần của trẻ

1.1.4 Nguy cơ bị XHTD

1.1.4.1 Nguy cơ bị XHTD là gì?

Nguy cơ là tình huống có thể phát sinh tai họa trong thời gian gần nhất Như vậy, nguy cơ XHTD là những tình huống, hoàn cảnh nếu không có sự can thiệp kịp thời hoặc phản ứng phù hợp thì có thể phát sinh hành vi XHTD trẻ em [18;tr557]

Trẻ em có thể bị XHTD trong bất cứ tình huống và hoàn cảnh nào, những yếu tố sau đây làm tăng nguy cơ một trẻ bị lạm dụng tình dục:

Trẻ gái bị lạm dụng tình dục cao gấp 2,5 đến 3 lần trẻ trai (như vậy không chỉ có trẻ gái mới bị lạm dụng tình dục)

Tuổi càng lớn thì nguy cơ bị lạm dụng càng cao

Những trẻ chậm phát triển tâm thần vận động thường có nguy cơ cao (do trẻ phụ thuộc vào người lớn, chăm sóc thường kín đáo, trẻ khó khăn trong vấn đề giao tiếp với người khác)

Tình trạng kinh tế xã hội gia đình thường không có ảnh hưởng nhiều đến nguy cơ lạm dụng tình dục như trong trường hợp trẻ bị ngược đãi

Mẹ bị mắc một chứng bệnh tâm lý nào đó và sự hiện diện của tình nhân của

mẹ hoặc cha dượng trong nhà

Trang 25

1.1.4.2 Các nguy cơ bị XHTD

- Đối tượng có thể gây ra XHTD: Bất cứ người nào đều có thể là đối tượng gây

ra hành ra hành vi XHTD trẻ em Kẻ phạm tội có thể thuộc đủ thành phần trong xã hội không kể địa vị, hoàn cảnh kinh tế, dân tộc hay nghề nghiệp Họ không có bất cứ yếu

tố đặc trưng nào để phân biệt, họ rất bình thường, thậm chí rất thân thiện, ân cần Những kẻ đó có thể là bất cứ ai gần gũi trẻ như người trong gia đình, họ hàng, cha mẹ

kế, hàng xóm, những người chăm sóc trẻ, thầy cô giáo, bảo vệ tại trường học…Họ dùng mọi thủ đoạn để có thể tiếp cận trẻ một cách dễ dàng, hợp pháp và thường nhắm vào những trẻ dễ bảo, thiếu tự tin, thụ động, nhút nhát vì những trẻ này sẽ ít chống cự khi bị xâm hại.[18;tr557]

+ Lợi dụng lúc trẻ gặp những chuyện đau buồn hoặc biến động trong gia đình để tiếp cận Bằng quan sát và tiếp cận, kẻ tội phạm làm cho trẻ tin tưởng và có cảm giác được che chở, nâng đỡ khiến trẻ mất cảnh giác

+ Thường xuyên là khách hàng của trẻ, thậm chí thưởng tiền thêm để gây dựng mối quan hệ với trẻ, sau đó là dụ dỗ và hứa hẹn thưởng tiền Thủ đoạn này thường được áp dụng với những trẻ bán hàng rong hoặc làm thêm để kiếm sống

+ Dùng thuốc mê để bắt cóc trẻ, dùng sức mạnh thể chất hoặc đe doạ sẽ công khai điều bí mật của trẻ nhằm khống chế và cưỡng ép trẻ [13]

- Thời gian, địa điểm, tình huống có thể xảy ra nguy cơ bị XHTD

XHTD trẻ em có thể xảy ra bất cứ thời gian, không gian bất kì, đặc biệt ở những thời điểm và tình huống có nguy cơ cao như:

+ Trẻ ở nhà một mình

+ Trẻ đi một mình nơi vắng vẻ, tối tăm

Trang 26

+ Một mình đi đến trường

+ Tan học, chờ bố mẹ hoặc người thân đến đón

+ Nhận tiền, quà, sự giúp đỡ của người khác mà không có lý do

+ Đi nhờ xe của người khác mà không có sự đồng ý của cha mẹ

+ Để người khác vào nhà khi ở nhà một mình

Một số địa điểm có nguy cơ cao như đường phố (đặc biệt là đoạn đường vắng, thiếu đèn đường…), công viên, bến xe, trường học (nhà vệ sinh, khu vực vắng người tại trường học…), nhà vệ sinh công cộng hay có thể là trong chính ngôi nhà của trẻ

1.1.5 Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD

KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD của HSTH là khả năng trẻ vận dụng tri thức, vốn kinh nghiệm đã có để tìm được sự cứu trợ và giúp đỡ của mọi người xung quanh khi đứng trước nguy cơ bị XHTD

1.2 Tìm hiểu về môn Kĩ năng sống lớp 4

Thực hiện theo quyết định số 2994/QĐ-BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Bộ Giáo dục và đào tạo triển khai giáo dục kĩ năng sống trong một số môn học của Bộ cho các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông.[24]

Ở Việt Nam, để thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học Giáo dục phổ thông đã và đang từng bước đổi mới theo hung từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em HS , phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người học, phù hợp với từng lớp học, tăng

cường khả năng làm việc theo nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho HS Nhận thức rõ tầm quan trọng, cần thiết của việc giáo dục kĩ năng sống cho HS phổ thông nói chung, HSTH nói riêng

Giáo dục kĩ năng sống ở tiểu học nhằm đạt mục tiêu trang bị cho HS những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp, tạo cơ hội cho HS sử dụng quyền và bổn phận của mình và phát triển về thể chất trí tuệ tinh thần và đạo đức

Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho HS tiểu học được Bộ GD-ĐT triển khai vào năm học 2010-2011 Đây là một môn học mở, tùy điều kiện từng trường để

Trang 27

áp dụng linh hoạt, vì không quy định tiết học, giờ học cụ thể nên tùy thuộc vào điều kiện, năng lực GV

Năm 2013, NXBGD Việt nam xuất bản cuốn “Thực hành kĩ năng sống” cho tất cả các khối lớp ở Tiểu học Mỗi cuốn sách đó có 15 bài.[24]

Thực hành kĩ năng sống 4 có 7 chủ đề:

1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của HS lớp 4

- Thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tƣ duy của các

em chuyển dần từ trực quan hành động san tƣ duy hình tƣợng, tƣ duy trừu tƣợng Do

đó các em rất có hứng thú với các trò chơi trí tuệ nhƣ đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ…[20]

1.3.2 Đặc điểm về tâm lí

- Nhận thức cảm tính

Các cơ quan cảm giác: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện

- Đặc điểm tư duy

Tƣ duy mang đậm màu sắc xúc cảm, các em giải quyết vấn đề theo cảm xúc

và chiêm ƣu thế ở tƣ duy trực quan hành động

- Đặc điểm tư ng tượng

Trang 28

Tưởng tượng của HSTH đã phát triển phong phú hơn so với trẻ em mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dày dặn.[20]

1.4 Giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

1.4.1 Khái niệm giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD

GD giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD có thể

hiểu là quá trình tổ chức có mục đích, có kế hoạch của nhà GD lên đối tượng GD nhằm giúp đối tượng GD có tri thức, có kinh nghiệm, có kĩ năng, có hiểu biết để nhận diện và tìm kiếm sự giúp đỡ khi đứng trước những nguy hiểm trong cuộc sống

đặc biệt là nguy cơ bị xâm hại tình dục.[16]

Quá trình hình thành KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD thông qua tích hợp có các giai đoạn sau:

- Giai đoạn nhận thức: Ở giai đoạn này GV tiểu học hướng dẫn trẻ nắm được

lý thuyết về KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD giúp trẻ nhận thức về mục đích, cách thức và điều kiện hành động

Trang 29

- Giai đoạn quan sát và làm thử theo mẫu: Sau khi trẻ nhận thức được mục đích và cách tiến hành là giai đoạn trẻ bắt đầu hành động Ở giai đoạn này thao tác của trẻ còn nhiều sai sót, lúng túng, chưa trọn vẹn, thiếu thuần thục, độc lập và linh hoạt KN có thể đạt kết quả ở mức độ thấp hoặc không đạt kết quả

- Giai đoạn luyện tập để tiến hành các thao tác theo đúng yêu cầu đặt ra: Là giai đoạn trẻ luyện tập KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD được thành thục và linh hoạt hơn Khi đó hành động được thực hiện có kết quả không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện khác nhau Đồng thời trẻ còn biết kết hợp các KN bản thân đã có cùng với KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD một cách linh hoạt.[16]

1.4.2 Mục đích và ý nghĩa của việc giáo dục tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS l p 4 th ng qua m n Kĩ năng sống

XHTD trẻ em là một vấn đề “nóng” đã và đang trở thành vấn nạn của toàn cầu Mọi trẻ đều có thể bị XHTD Nó xảy ra ở mọi cộng đồng, không kể điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị ra sao và điều này xảy ra với cả trẻ nam và nữ Và một trong những môn học có thể tích hợp kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD là môn kĩ năng sống

- Trẻ biết xác định những địa chỉ, những người đáng tin cậy và bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ một cách phù hợp khi có nguy cơ bị XHTD nói riêng và khi bản thân gặp những vấn đề không thể tự mình giải quyết nói chung

Từ đó giúp trẻ bảo vệ bản thân trước những nguy cơ XHTD.[9]

*Ý nghĩa

- KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội

Trang 30

Không những thúc đẩy sự phát triển của cá nhân HS , KNTKSGĐ khi có nguy

cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa vấn đề XHTD trẻ em.[5]

- GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống là yêu cầu cấp thiết đối với thế hệ trẻ

Lứa tuổi HSTH là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu mơ ước, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…Vì vậy việc GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho thế hệ trẻ là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện KNTKSGĐ nói chung và KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD nói riêng khi đứng trước các tình huống khó khăn, nguy hiểm trong cuộc sống giúp trẻ phát triển an toàn, lành mạnh về mặt thể chất cũng như tâm lý

- GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới GD ở tiểu học

Mục tiêu GD tiểu học đã chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức lý thuyết cho

HS sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành động, năng lực thực tiễn Phương pháp GD tiểu học cũng đã được đổi mới theo hướng “phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.[6]

Tóm lại việc GD KNTKSGĐ cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống khi có nguy cơ bị XHTD là rất cần thiết đáp ứng nhu cầu đổi mới GD tiểu học

- GD KNS nói chung và KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống nói riêng là xu thế chung của nhiều nước trên thế giới

Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khoá ở Tiểu học

và Trung học Việc GD KNS cho HS ở các nước được thực hiện theo 3 hình thức:

+ Coi KNS là một môn học riêng biệt

+ KNS được tích hợp vào một vài môn học chính

+ KNS được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình.[15]

Trang 31

Từ những lý do trên có thể khẳng định, việc GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống trong các trường tiểu học là rất cần thiết và có tầm quan trọng đặc biệt

1.4.3 Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

1.4.3.1 Nội dung GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS l p 4 th ng qua

m n Kĩ năng sống

GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống được thể hiện ở một số nội dung như sau:

- GD trẻ gọi đúng tên vùng nhạy cảm

Phụ huynh hoặc GV thường ngại ngần khi gọi thẳng tên các bộ phận sinh dục khi chia sẻ hoặc dạy trẻ về giới tính Điều đó không hẳn đã tốt Sử dụng thuật ngữ thích hợp sẽ giúp bảo vệ các em Trẻ em khi có thể thoải mái nói về cơ thể của mình

sẽ nhiều khả năng có thể tiết lộ nếu có điều gì đó đáng lo ngại hay khó chịu đang xảy ra với chúng.[6]

Khi có thể đặt tên cho “vùng kín” bằng các thuật ngữ chính xác như trong từ điển, trẻ em là nạn nhân bị XHTD có thể nhận được sự giúp đỡ sớm hơn

- GD trẻ biết cự tuyệt - tránh xa - kể ra, khi trẻ gặp tình huống có nguy cơ bị XHTD

GD trẻ biết cự tuyệt và tránh xa những đối tượng nguy hiểm (người lạ hay bất kể người nào khiến trẻ cảm thấy không thoải mái và an toàn) Và khi bản thân gặp vấn đề vướng mắc, phải nói với người thân Không được giữ bí mật, khi đó trẻ

sẽ có những KN cần thiết để tự bảo vệ bản thân hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ từ người thân

để giải quyết vấn đề bản thân đang mắc phải Nhất là đứng trước nguy cơ bị XHTD

- GD trẻ biết m tả cảm xúc của bản thân

Đó là GD trẻ nhận biết, phân biệt các đặc điểm cảm xúc của bản thân mình

và mọi người xung quanh Biết nguyên nhân gây nên các cảm xúc đó Biết thể hiện cảm xúc của mình phù hợp với từng hoàn cảnh, nhất là khi có nguy cơ bị XHTD trẻ thẳng thắn nói ra những điều bản thân không muốn từ đó cha mẹ hoặc người thân có thể dễ dàng giải quyết giúp trẻ nhất là khi có nguy cơ bị XHTD.[6]

- GD trẻ nhận biết cảm giác an toàn hoặc kh ng an toàn

Trang 32

GD trẻ nhận biết cảm giác an toàn hoặc không an toàn là điều vô cùng cần thiết Khi trẻ biết cảm giác an toàn hoặc không an toàn trẻ sẽ có những cách xử lý thích hợp đối với từng hoàn cảnh cụ thể, từ đó trẻ có thể thực hiện các hành vi ứng

xử phù hợp nhất là khi đứng trước nguy cơ bị XHTD

- GD trẻ quy tắc 5 ngón tay

1 Ôm hôn, dùng với người thân ruột thịt trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột

2 Nắm tay: Với bạn bè, thầy cô, họ hàng

3 Bắt tay: Khi gặp người quen

4 Vẫy tay: Nếu đó là người lạ

5 Xua tay không tiếp xúc, thậm chí hét to và bỏ chạy nếu những người xa lạ

mà bé cảm thấy bất an, tiến lại gần và có cử chỉ thân mật

- GD trẻ kh ng gi bí mật một mình, trẻ có thể chia sẻ v i người l n mà trẻ tin tư ng

Trên thực tế nhiều kẻ lạm dụng nói với các nạn nhân rằng những gì đã xảy ra

là bí mật và không được nói cho ai biết, đặc biệt là cha mẹ Vì vậy, điều quan trọng

là phải dạy trẻ rằng những bí mật đó vẫn được giữ bí mật nếu chúng nói với cha mẹ Nhiều kẻ quấy rối nói với nạn nhân rằng sẽ không ai tin tưởng nếu sự thật được kể

và tạo ra cảm giác xấu hổ với đứa trẻ Chính vì vậy hãy đảm bảo rằng trẻ sẽ biết khi nói ra cha mẹ sẽ không buồn, rằng các em đã làm đúng.[6]

- GD trẻ tập dượt xử lý các tình huống mà trẻ có nguy cơ bị XHTD

Cách tốt nhất để trẻ dần hình thành KN đó là cho trẻ tập dượt xử lý trong tình huống giả định Dần dần trẻ có thể vận dụng xử lý tình huống một cách thành thạo

và mang tính vận dụng cao trước nhiều hoàn cảnh khác nhau giúp trẻ có thể ứng phó với nguy cơ bị XHTD nếu xảy ra tình huống này trong cuộc sống

1.4.3.2 Phương pháp GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS l p 4 th ng qua m n Kĩ năng sống

GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống có thể sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thảo luận nhóm

Trang 33

Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp được yêu thích và sử dụng thường xuyên trong hoạt động dạy - học tích cực Mỗi GV phải nắm vững phương pháp, có KN trong tổ chức, điều khiển các hoạt động này

Cách tiến hành:

+ Chia nhóm (có thể chia nhóm bằng cách gọi số, dùng biểu tượng hoặc màu sắc…), giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian thảo luận, phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm

+ Tiến hành thảo luận nhóm: Các nhóm tiến hành thảo luận để hoàn thành nhiệm vụ được giao

+ Đại diện các nhóm báo cáo kết quả làm việc của mình, các nhóm khác lắng nghe, trao đổi bổ sung ý kiến

+ GV tổng kết các ý kiến.[3]

- Phương pháp tình huống

Phương pháp tình huống là một phương pháp dạy học tích cực, trong đó HS đặt trong một tình huống thực tiễn hoặc lấy bối cảnh gắn với thực tiễn để giải quyết các vấn đề mà tình huống đặt ra Đây là phương pháp dạy học có khả năng làm tăng hứng thú học tập, phát huy năng lực tư duy của HS và gắn kiến thức lí thuyết với thực tiễn

Cách tiến hành:

+ GV chuẩn bị các tình huống có liên quan đến nội dung giáo dục

+ Đọc cho HS nghe các tình huống hoặc cho họ xem băng hình (hoặc nghe) các tình huống

+ GV đưa ra các câu hỏi liên quan đến tình huống

+ Các nhóm thảo luận về tình huống

+ Đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khác lắng nghe, trao đổi, tranh luận + GV tóm tắt các ý kiến thảo luận, đưa ra cách giải quyết chung.[16]

- Phương pháp đóng vai

Phương pháp đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành,

“làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp người đọc suy nghĩ về một vấn đề bằng cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà họ quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này, mà quan trọng hơn là sự thảo luận sau phần diễn ấy

Trang 34

Cách tiến hành:

+ Chuẩn bị: GV chuẩn bị tình huống và các đồ dùng cần thiết

+ Chia nhóm, giao tình huống, giải thích nhiệm vụ của các nhóm, quy định thời gian thảo luận, thể hiện vai của mỗi nhóm

+ Các nhóm tiến hành thảo luận: Phân công các vai, thảo luận cách thức thể hiện + Các nhóm lên thể hiện đóng vai các tình huống

+ Cả lớp nhận xét (về vai diễn, cách xử lý tình huống…)

+ GV đưa ra kết luận chung.[3]

- Phương pháp trò chơi

Là cách thức tổ chức cho người học tiến hành một trò chơi nào đó để tìm hiểu một vấn đề hoặc được bày tỏ thái độ hay hành vi, việc làm phù hợp cho một tình huống cụ thể

+ Kết thúc trò chơi: Cả lớp nhận xét, đánh giá kết quả trò chơi, trên cơ sở đó

GV nhấn mạnh những điểm cần lưu ý qua trò chơi.[3]

1.4.4 Các con đường giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị

XHTD cho HS l p 4 th ng qua m n Kĩ năng sống

GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD qua các con đường chủ yếu:

- Th ng qua tích hợp vào m n Kĩ năng sống

Lồng ghép nội dung GD

KNTKSGĐ cho HS lớp 4 khi có nguy cơ bị XHTD thông qua môn Kĩ năng sống vào nội dung của các bài học Tuy nhiên, không phải bài học nào cũng có thể lồng ghép được nội dung của GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD được Vì vậy tùy theo nội dung bài học mà GV có thể khai thác khả năng lồng ghép và tiến hành GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

Trang 35

- Th ng qua trò chuyện, chia sẻ v i HS

GV dành thời gian quan tâm, trò chuyện, chia sẻ với HS vào lúc ra chơi, ngoài giờ học để HS có kiến thức, KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD

- Th ng qua các chủ đề, buổi thảo luận

GV lên kế hoạch xây dựng và tổ chức các hoạt động GD KNTKSGĐ cho HS khi có nguy cơ bị XHTD theo các chủ đề, buổi thảo luận, mời các chuyên gia có kinh nghiệm về trường tổ chức các buổi thảo luận, chuyên đề nhằm GD KNTKSGĐ cho HS khi có nguy cơ bị XHTD

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình giáo dục tích hợp tìm kiếm sự giúp đỡ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống

1.5.1.2 Hứng thú

Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có một vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người, trong đó có trẻ em Sự hứng thú sẽ thúc đẩy trẻ tham gia tích cực vào hoạt động nhằm tìm kiếm sự giúp đỡ… trong những tình huống bất lợi nhằm hình thành KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống Khi những hành động này phù hợp với hứng thú của mình thì cho dù nó có khó khăn thì trẻ vẫn cảm thấy thoải mái

và cố gắng nỗ lực để đạt hiểu quả cao

Sự hứng thú của HS bị ảnh hưởng bởi những người trực tiếp GD HS đó là phụ huynh và đặc biệt là GV Vì vậy GV tiểu học cần giúp HS thấy được ý nghĩa vai trò của những kiến thức nhằm giữ an toàn cho bản thân trước nguy cơ bị XHTD

Trang 36

trong cuộc sống Giúp HS biết cách vận dụng các kiến thức đó vào cuộc sống và giải quyết các tình huống có nguy cơ bị XHTD khác nhau

1.5.1.3 Tính cách

Tính cách của HS là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lý ổn định của HS, những đặc điểm này quy định những phương thức, hành vi điển hình của HS trong những điều kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ của HS đối với thế giới xung quanh và bản thân

Tính cách là cái thuộc về bản chất cá nhân Mỗi HS có sự biểu hiện những nét tính cách riêng như tự tin, mạnh rạn hay rụt rè, không có HS nào có tính cách giống hệt

HS nào Mặc dù có nhiều điểm trong tính cách của một nhóm HS có thể có tính chất điển hình cho một nhóm người thậm chí cho cả xã hội Điều này cũng ảnh hưởng đến việc sẵn sàng tiếp nhận các tác động hình thành KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống.[20]

1.5.2 Yếu tố khách quan

1.5.2.1 GD nhà trường

Môi trường nhà trường nơi có những tác động mang tính chuyên nghiệp, những người GD được đào tạo chuyên môn, có chương trình mang tính logic, khoa học và có những phương pháp GD hiệu quả

So với những tác động của gia đình, nhóm bạn và các lực lượng xã hội khác với KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống Sự tác động GD của nhà trường sâu sắc và mạnh mẽ, toàn diện và triệt để nhất điều này được thể hiện:

Nhà trường có khả năng xác minh mục tiêu phát triển KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống trong từng giai đoạn,

có nhiệm vụ hoạch định nội dung, phương thức tổ chức các hoạt động GD của nhà trường và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu phát triển KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống Sự tác động toàn diện của GD nhà trường tạo điều kiện tối ưu để HS phát triển đầy đủ và nhanh chóng mọi tiềm năng của mình [20]

Trang 37

1.5.2.2 GD gia đình

Ngay từ khi đứa trẻ ra đời, gia đình là môi trường văn hóa - xã hội đầu tiên gần gũi nhất, có ý nghĩa quan trọng đến sự phát triển nhân cách những năm đầu đời của trẻ Gia đình là tác nhân quan trọng trong việc tạo ra môi trường sống an toàn, đảm bảo sự sống cho trẻ, chăm sóc và GD trẻ đạt được các giá trị xã hội cơ bản, là màng lọc giúp trẻ em khắc phục những tác động tự phát của các yếu tố tiêu cực bên ngoài xã hội, giúp trẻ thích ứng tích cực với cuộc sống xã hội phức tạp và đầy biến động

Như vậy để gia đình thực sự là cái nôi cho sự phát triển của trẻ thì trước hết gia đình phải là một môi trường an toàn, cha mẹ phải là tấm gương sáng trong những hành vi ứng xử, thường xuyên quan tâm trò chuyện và tận dụng những tình huống trong cuộc sống hàng ngày để GD KNTKSGĐ khi có nguy cơ bị XHTD cho HS lớp

4 thông qua môn Kĩ năng sống.[20]

1.5.2.3 Hoạt động truyền th ng

Ngày nay truyền hình, máy tính, các phương tiện truyền thông đã phát triển rất mạnh mẽ, chi phối đời sống của con người Những phương tiện này không chỉ là những phương tiện truyền thông đơn thuần mà thực sự đã trở thành một lực lượng xã hội độc lập, can thiệp mạnh mẽ, trực tiếp, sâu sắc tới sự phát triển của xã hội trong đó có trẻ em

Truyền hình, máy tính, internet và các phương tiện truyền thông khác là nguồn tư liệu vô cùng quý giá và vô tận để cha mẹ và trẻ có thể khai thác những thông tin hữu ích cho mình Cha mẹ có thể tìm được những mẩu truyện, đoạn phim hoạt hình về cách nhận diện, ứng phó trong những tình huống nguy hiểm để GD cho con, hay dạy con cách tìm kiếm sự giúp đỡ khi bản thân gặp khó khăn không thể tự

xử lý [20]

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

KNTKSGĐ khi cơ nguy cơ bị XHTD được hiểu là GD những KN mang tính

cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ vận dụng vốn kiến thức, kinh nghiệm đã có để có thể tìm kiếm sự giúp đỡ khi bản thân gặp phải những mối nguy hiểm, nhất là nguy

cơ XHTD Đảm bảo sự an toàn cho bản thân, tránh những tổn thương về tinh thần hay thể xác

Những căn cứ cơ sở mang tính lý luận ở chương 1 sẽ tạo cơ sở khoa học để chúng tôi khảo sát thực trạng và đề xuất biện pháp GDTHKNTKSGĐ khi cơ nguy

cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống, từ đó sẽ góp phần thúc đẩy chất lượng GD nói chung và chất lượng GDTHKNTKSGĐ khi cơ nguy cơ bị XHTD cho HS lớp 4 thông qua môn Kĩ năng sống nói riêng

Để có thể nâng cao chất lượng học tập thì cần phải có một số phương pháp

GD phù hợp, có thể thu hút được sự chú ý của HS , tạo điều kiện để tất cả HS đều được tham gia vào quá trình học tập, đồng thời phải phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS trong giờ học

Trang 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG TÌM KIẾM SỰ GIÖP ĐỠ KHI CÓ NGUY CƠ BỊ XHTD CHO HS LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC PHONG CHÂU VÀ TRƯỜNG TIỂU HỌC HÙNG VƯƠNG

THỊ XÃ PHÖ THỌ - TỈNH PHÖ THỌ

2.1 Vài nét về địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Trường tiểu học Phong Châu - thị xã Phú Thọ

Trường Tiểu học Phong Châu thị xã Phú Thọ được thành lập năm 1986 Hơn

32 năm qua, được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương cũng như sự chỉ đạo trực tiếp của phòng GD-ĐT thị xã, đặc biệt với sự cố gắng không ngừng phấn đấu của Ban chỉ huy, đội ngũ thầy cô giáo và HS trong nhà trường, trường Tiểu học Phong Châu luôn là đơn vị giáo dục mạnh với danh hiệu Tập thể Lao động Tiên tiến, xuất sắc Nhà trường vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen và luôn duy trì

là đơn vị lá cờ đầu bậc Tiểu học

Trường Tiểu học Phong Châu là một trong những ngôi trường được công nhận chuẩn quốc gia của tỉnh, đã nhiều năm liền đạt những danh hiệu cao quý tiêu biểu : Năm 2002 trường được tỉnh tặng bằng khen là đơn vị lá cờ đầu của tỉnh Phú Thọ, năm 2003 trường vinh dự đón nhận huân chương lao động hạng ba Đến tháng 7- 2012 trường đạt chuẩn quốc gia lần 2, năm 2012-2013 trường được Bộ giáo dục tặng bằng khen và đạt cơ quan văn hóa cấp tỉnh, Ngoài ra trường còn đạt được nhiều danh hiệu khác

Toàn trường có 624 HS , các em hầu hết là con em nhân dân lao động ở địa phương Cũng như những trường khác đó là một tập thể nam nữ, thiếu niên nhi đồng sôi nổi, hiếu động có nhiều mặt tốt cần phát huy nhưng cũng không thiếu những mặt xấu tiêu biểu là một số HS cá biệt Về chất lượng học tập nhìn chung ở tất cả các bộ môn đều có kết quả tương đối ổn Tuy nhiên tình trạng học của một số

HS còn hời hợt, chưa chú ý nghe giảng, Phương pháp học tập rèn luyện của các em còn lung túng, cha mẹ cũng chưa thực sự quan tâm tới việc học hành và giáo dục con cái nên chất lượng giáo dục còn đáng lo ngại Tình hình này thôi thúc nhà trường cải tiến cách dạy, cách giáo dục HS phát triển toàn diện đáp ứng nhu cầu của

xã hội hiện nay

Trang 40

Trường có đội ngũ GV có trình độ chuyên môn cao, dày dặn kinh nghiệm nên chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao theo hướng tích cực, tiến bộ

* Điều kiện về cơ s , vật chất:

Trường học khang trang, đầy đủ bàn ghế cho HS ngồi, bảng, điều kiện ánh sáng, quạt mát, thư viện góc lớp, mỗi phòng đều trang bị đầy đủ các trang thiết bị (như đầu đĩa, ti vi)…Và đồ dùng học tập để giúp HS tiếp thu bài một cách nhanh chóng

Số lượng đầu sách phục vụ cho việc giảng dạy của các thầy cô và HS đều được nhà trường chú trọng và đầu tư Trung tâm thư viện trong trường có trên 3640 bản đáp ứng nhu cầu đọc sách của GV, HS nhà trường Nhà trường có 20 phòng học, các phòng đều được trang bị các thiết bị dạy học mỗi phòng có ti vi, đầu đĩa để phục vụ quá trình giảng dạy của thầy cô Khuôn viên trường đảm bảo sạch sẽ, công trình vệ sinh đầy đủ, sân chơi bãi tập hợp lí

*Đội ngũ GV, HS :

+GV: Nhà trường có tổng số 25 cán bộ, GV GV văn hóa có 20 GV giảng dạy và được phân đều về từng khối lớp GV đạt trình độ chuẩn là 100%, trên chuẩn

là 80,9% Tỉ lệ GV đạt giỏi cấp thị 53,4% trở lên, vòng tỉnh 4,3% Có GV Âm nhạc,

Mỹ thuật, Tiếng Anh, Tin học, Thể dục, nhà trường có nhiều GV dạy giỏi cấp thị, cấp tỉnh

+HS : Trường có tổng số 624 em /20 lớp Tỉ lệ HS giỏi cao hơn so với mặt bằng chung của thị xã Năm 2012-2013-2014, HS giỏi cấp thị 203 giải, cấp tỉnh 29 giải, quốc gia 6 giải Trong 4 năm gần đây chất lượng đạt giỏi và HS năng khiếu tăng vượt bậc

2.1.2 Trường tiểu học Hùng Vương - thị xã Phú Thọ

Trường tiểu học Hùng Vương được thành lập ngày 20 - 7 – 1992 Kể từ khi thành lập đến nay trường đã đạt được nhiều thành tích; có tới 17/20 năm trường được công nhận là trường Tiên tiến xuất sắc Năm 1999 Trường vinh dự đón nhận danh hiệu trường Chuẩn Quốc gia Năm 2003 Trường vinh dự đạt chuẩn quốc gia lần 2 Đặc biệt, năm 2003 Trường được nhận Huân chương Lao động hạng 3 Năm

2002 trường được công nhận là lá cờ đầu của Tỉnh Phú Thọ Năm 2010 – 2011 trường đã được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo tặng bằng khen Năm học 2011 –

Ngày đăng: 19/06/2022, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[26]. Anthony Smith, et al (2011), “Sexual and Relationship Satisfaction among Heterosexual Men and Women: The Importances of Desired Frequency of Sex”, Journal of Sex & Marital Therapy, Volume 37, Issue 2: 104-115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sexual and Relationship Satisfaction among Heterosexual Men and Women: The Importances of Desired Frequency of Sex
Tác giả: Anthony Smith, et al
Năm: 2011
[27]. Action Aid, Viện gia đình và giới (2004), “Nghiên cứu về bạo hành đối với trẻ em gái trong môi trường học đường” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về bạo hành đối với trẻ em gái trong môi trường học đường
Tác giả: Action Aid, Viện gia đình và giới
Năm: 2004
[28]. Bethany Butzer, Lorne Campbell (2008), “Adult Attachment, Sexual Satisfaction and Relationship Satisfaction: A study of Married Couples”, Personal Relationships, No15(1): 141-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Adult Attachment, Sexual Satisfaction and Relationship Satisfaction: A study of Married Couples
Tác giả: Bethany Butzer, Lorne Campbell
Năm: 2008
[29]. Benjamin K. Barton, David C. Schwebel, Barbara A. Morrongiello (2006) “Increasing Childrens SafePedestrian Behaviors through Simple Skills Training” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Increasing Childrens SafePedestrian Behaviors through Simple Skills Training
5.[http://evatamsu.info/cach-giup-con-thoat-nguy-co-bi-bat-coc-cua-ba-1957.html 6. Nguyễn Thị Bình Yên, Dương Minh Hào (người dịch) (2010), Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh tự bảo vệ bản thân phòng tránh, cứu nạn, NXB Giáo dục Việt Nam Link
1. Nguyễn Thanh Bình (2009), Giáo trình chuyên đề Giáo dục kĩ năng sống, NXB Đại học sƣ phạm Khác
3. Cù Thị Thúy Lan, Dương minh Hào (2009), Rèn luyện kĩ năng sống cho họcsinh tránh xa những cám dỗ nguy hiểm, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
4. Paul Humphrey và Alex Ramsay, Cẩn thận với người lạ và cả với người quen (Ngân Giang dịch), NXB Kim Đồng.Đại học Sƣ Phạm Khác
7. Vũ Hoàng Vinh, Dương Minh Hào (người dịch) (2010), Rèn luyện kĩ năng sốngcho học sinh thường thức an toàn, NXB Giáo dục Việt Nam Khác
9. Võ Nguyễn Minh Hoàng, Phối hợp các lực lƣợng cộng đồng trong phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em 6 – 11 tuổi trên địa bàn tỉnh Phú Yên Khác
12. Lê Thị Lâm,Nguyễn Thị Trâm Anh,Giáo dục kỹ năng nhận diện nguy cơ bị xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học,Kỉ yếu hội thảo khoa học quốc tế tâm lí học đường lần thứ 6 Khác
16. Lê Thị Hồng Chi, Giáo trình giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh tiểu học 17. Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên), Nguyễn Văn Lũy, Đinh Văn Vang, Giáo trình tâm lý học đại cương, NXB Giáo dục, NXB Đại học sư phạm Khác
18. Phạm Viết Vƣợng, giáo trình Giáo dục học, nhà xuất bản đại học Sƣ phạm 19. Nguyễn Lăng Bình ( chủ biên ) - Đỗ Hương Trà, Dạy và học tích cực một số phương pháp và kỹ thuật dạy học, Nhà xuất bản Đại học Sư Phạm Khác
20. Đỗ Hương Trà (chủ biên), Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh, quyển 1 - Khoa học tự nhiên, Nhà xuất bản ĐHSP Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w