Đối với Việt Nam, từ khi xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường thì Đảng và nhà nước ta đã xác định rằng: phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một tất yếu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Họ và tên:
Mã SV:
Lớp:
Giảng viên hướng dẫn:
Hà Nội, tháng 11 năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài :
Thực trạng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay
Hà Nội, tháng 11 năm 2021
Trang 3M Ụ C L Ụ C
LỜI GIỚI THIỆU 4
1 Kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 4
2 Lý do viết đề tài 4
LÝ LUẬN CHUNG 5
I – Thực trạng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 5
II – Những thành tựu và hạn chế phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
1 Thành tựu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
2 Những hạn chế, yếu kém của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 8
III – Sự cần thiết khách quan để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 9
1 Những lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ 9
2 Vai trò và tác động kinh tế - xã hội của DNNVV 9
IV – Giải pháp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh mới 11
PHẦN KẾT 14
Tài liệu tham khảo: 15
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
1 Kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hiện nay vấn đề phát triển kinh tế là một vấn đề rất cần thiết, tất yếu đối với mọi quốc gia Nhưng ở mỗi nuốc khác nhau thì đi bằng các con đường khác nhau do dựa vào các tiềm lực của chính mình Đối với Việt Nam, từ khi xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường thì Đảng và nhà nước ta đã xác định rằng: phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa là một tất yếu để phát triển nền kinh
tế Do nước ta có xuất phát thấp và đi lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu, người dân có trình độ kĩ thuật thấp do đó phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa là thực tiễn khách quan mà cần phải thực hiện theo nó
2 Lý do viết đề tài
a) Tầm quan trọng của đề tài
Với Việt Nam thì việc phát triển kinh tế gắn liền với việc phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, do đó đề tài sẽ cho ta thấy những thực trạng (thời cơ, tồn đọng) của doanh nghiệp vừa và nhỏ từ đó rút ra được các hướng đi đúng nhất, các giải pháp tối ưu nhất nhằm nâng cao vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng và nền kinh tế nói chung
b) Nâng cao nhận thức của sinh viên
Sinh viên là những người chủ thực sự của đất nước sau này, là người có khả năng làm thay đổi cục diện của đất nước Khi đó đề tài sẽ giúp sinh viên nhận biết và có
ý thức hơn tới sự phát triển kinh tế đất nước Nó cũng là cầu nối giữa lý thuyết và thực tại, giữa sự phát triển kinh tế với nhiệm vụ của sinh viên Là một sinh viên, em xin cảm ơn cô Mai Lan Hương đã hướng dẫn em hoàn thành bài tập lớn này, qua đó giúp em hiểu sâu sắc hơn về nền kinh tế đất nước, nâng cao năng lực và trách nhiệm của bản thân
Trang 5LÝ LUẬN CHUNG
I – Thực trạng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Do khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng, nên những năm qua, Việt Nam đã và đang nỗ lực tháo gỡ rào cản nhằm thúc đẩy khu vực doanh nghiệp này phát triển Chính phủ tập trung các chính sách hỗ trợ những nội dung cụ thể: Phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; Hỗ trợ đẩy mạnh phong trào khởi nghiệp quốc gia; Tạo thuận lợi để các hộ và cá nhân tự nguyện liên kết hình thành doanh nghiệp hoặc các hình thức tổ chức hợp tác khác; Hỗ trợ và khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước;
Hỗ trợ đổi mới, sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực có
đủ khả năng tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính (TTHC), tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển Chính phủ còn ban hành nhiều chính sách về ưu đãi về thuế, tín dụng cho doanh nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ; tạo nguồn vốn và mặt bằng sản xuất kinh doanh; cung cấp thông tin thị trường và xúc tiến thương mại, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, đào tạo nghề cho lao động
Tuy nhiên, trong thực tế, khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp nhiều khó khăn, thách thức Theo Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố hàng năm, trong giai đoạn
2013-2015, chi phí vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp vừa và nhỏ thường cao hơn so với của doanh nghiệp lớn, khoảng 1-2%/năm; tỷ lệ chi phí không chính thức chiếm 64% đối với doanh nghiệp siêu nhỏ, 56% doanh nghiệp nhỏ và 49% doanh nghiệp vừa, trong khi tỷ lệ này ở các doanh nghiệp lớn chỉ là 30% Chi phí không chính thức này có thể chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu của các doanh nghiệp Bên cạnh
đó, các rào cản về thể chế, liên quan đến nhiều vấn đề như: Thừa nhận vai trò DNTN nói chung, pháp lý tài sản, TTHC, môi trường cạnh tranh bất bình đẳng, chất lượng đội ngũ công vụ, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước là những rào cản đối với hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam
So với các quốc gia trong khu vực và thế giới, doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế như: doanh nghiệp vừa và nhỏ đa phần làm dịch vụ, chỉ khoảng 20% là hoạt động sản xuất; có tới 42% doanh nghiệp có doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ đồng và 85% doanh nghiệp hoạt động chính thức có doanh thu dưới
2 tỷ đồng; số lượng doanh nghiệp tư nhân tuy tăng hàng năm nhưng quy mô bình
Trang 6quân của mỗi doanh nghiệp là không lớn Tỷ lệ trung bình người dân/ doanh nghiệp vẫn ở mức thấp, hiện nay tỷ lệ này ở khối các nước ASEAN là 80-100 dân, trong khi đó, ở Việt Nam bình quân 256 người dân mới có một doanh nghiệp
Năng suất lao động thấp, việc thực hiện chưa đầy đủ các chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm giảm đi chất lượng công việc trong khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, do vậy, các doanh nghiệp này càng rơi vào vị thế bất lợi
Theo Báo cáo PCI 2018, có 15,8% doanh nghiệp cho biết, họ phải chờ hơn 1 tháng hoàn thành đầy đủ các thủ tục và giấy phép cần thiết mới có thể đi vào hoạt động Con số này sau khi đã giảm tương đối mạnh từ 27,2% năm 2007 xuống 9,8% năm
2014, nhưng có xu hướng gia tăng trong 5 năm trở lại đây Một chỉ tiêu khác như tỷ
lệ doanh nghiệp phải chờ đợi trên 3 tháng mới có đủ giấy phép cần thiết đi vào hoạt động vào năm 2018 là 3%, sau khi giảm từ 6,8% xuống còn 1,92% năm 2014 và cũng đang có dấu hiệu tăng trở lại Những TTHC trong lĩnh vực đất đai (30%), BHXH (25%), quản lý thị trường (16%) tiếp tục là vướng mắc lớn của doanh nghiệp
Ở Việt Nam, ngân hàng thương mại là nơi cung cấp vốn chủ đạo của các doanh nghiệp (kể cả vốn ngắn hạn và dài hạn) Thị trường chứng khoán đang từng bước là kênh dẫn vốn dài hạn quan trọng nhất của nền kinh tế song vẫn chưa như kỳ vọng, bởi tồn tại một số hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nguồn lực tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Thị trường cổ phiếu mặc dù cải thiện về quy mô nhưng nguồn vốn đi vào khu vực kinh tế thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu
ra công chúng chưa lớn; Thị trường TPDN phát triển nhanh, nhưng còn hạn chế về quy mô và thiếu bền vững, chủ yếu phát hành qua kênh riêng lẻ và có quy mô nhỏ, khoảng 0,71% GDP so với mức 21,7% GDP của ASEAN-5
II – Những thành tựu và hạn chế phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
1 Thành tựu phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong những năm vừa qua, nhờ có việc ban hành hàng loạt cơ chế, chính sách và triển khai nhiều giải pháp tích cực, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã có sự chuyển biến tích cực; khơi dậy tinh thần doanh nhân và sự đăng ký quay trở lại hoạt động mạnh mẽ của các DNNVV Số lượng DN thành lập mới và số lượng DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại hoạt động tăng lên Từ năm 2016, mỗi năm có thêm hơn 100 nghìn DN thành lập mới Trong hai năm 2017-2018, cả nước có 258.134 DN đăng ký thành lập mới và 60.458 DN tạm ngừng hoạt động quay trở lại nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện và các chính sách của Nhà nước hỗ trợ, phát triển DN Sự gia tăng trở lại này trùng với thời điểm Luật DN 2014 và
Trang 7Luật Đầu tư 2014 chính thức có hiệu lực từ tháng 7/2015 Thực tế, các luâ •t này tạo
cơ chế thông thoáng, tác động trực tiếp, thuận lợi cho DN trong quá trình kinh doanh, khi DN có quyền tự quyết về số lượng, hình thức, nội dung của con dấu; được tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; đồng thời, thời gian đăng ký thành lập DN đã được rút ngắn còn 03 ngày Tính chung trong 9 tháng năm 2018, cả nước có 96.611 DN thành lập mới với số vốn đăng ký
là 963.411 tỷ đồng, tăng 2,8% về số DN và tăng 6,7% về số vốn đăng ký Riêng trong quý III/2018, cả nước có 32.080 DN thành lập mới, giảm 15% so với quý II/2018 và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm 2017 Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một DN đạt 10,0 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2017 Số lao động đăng ký của các DN thành lập mới là 819.742 lao động, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2017 Số DN quay trở lại hoạt động là 22.897 DN, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2017 Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế là 2.845.331 tỷ đồng, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2017, bao gồm: 936.411 tỷ đồng của DN đăng ký thành lập mới (tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2017) và 1.881.920 tỷ đồng (tăng 51,6%) thông qua 32.144 lượt đăng ký tăng vốn của các DN đang hoạt động (tăng 16,6%) Trong một vài năm gần đây, xu hướng phát triển các mô hình kinh doanh khởi nghiệp sáng tạo (startup) diễn ra sôi động, tập trung vào một số lĩnh vực như: xây dựng, chế biến, chế tạo, công nghiệp ô tô, vận tải hàng không, tài chính, ngân hàng Hiện nay, có hơn 3.000 công ty khởi nghiệp sáng tạo đang hoạt động, trong đó có nhiều DNNVV hành công
Cùng với sự bùng nổ về số lượng, DNNVV đã góp phần quan trọng trong chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề thông qua tạo việc làm, thu hút lao động từ lĩnh vực nông nghiệp, tham gia đầu tư vào các thị trường ngách, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh Bình quân mỗi năm (giai đoạn 2016-2017), khối DNNVV thu hút nhiều lao động nhất với 8,69 triệu lao động (chiếm 60,9% tổng lao động toàn bộ khu vực DN trong nền kinh tế) Trong hai năm 2017-2018, số DNNVV thành lập mới cũng đã tạo gần 2,3 triệu việc làm mới
Khu vực DNNVV đã thể hiện vai trò và những đóng góp quan trọng thúc đẩy sự chuyển mình và cất cánh của nền kinh tế Trong giai đoạn 2015-2017, khu vực kinh
tế tư nhân (trong đó DNNVV là bộ phận quan trọng) đóng góp khoảng 50% GDP, trên 30% thu ngân sách nhà nước, 45% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội Năm
2018, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 42,1% GDP của nền kinh tế và có dấu hiệu tăng lên Thu ngân sách nhà nước từ các DN tư nhân liên tục tăng lên trên 16% Thu ngân sách nhà nước từ sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân vượt khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và khu vực DN nhà nước Những tín hiệu này phản ánh sự lớn mạnh về quy mô, số lượng chủ thể và sự cải thiện về hiệu quả của kinh tế tư nhân Tốc độ tăng năng suất lao động (NSLĐ) của khu vực này
Trang 8tương đối ổn định Mặc dù những năm gần đây, tốc độ tăng NSLĐ của cả nước liên tục có những biến động thì tốc độ tăng NSLĐ của khu vực kinh tế tư nhân, trong đó chủ yếu là DNNVV vẫn ổn định hơn so với các khu vực kinh tế nhà nước và khu vực FDI, xung quanh mức 4,8%-5,8% Tính chung trong 2 năm 2016-2017, các DNNVV tạo ra doanh thu chiếm tỷ lệ chi phối trong toàn bộ khu vực DN, bình quân mỗi năm các DNNVV tạo ra 10,8 triệu tỷ đồng, chiếm 56,4% doanh thu toàn
bộ khu vực DN, tăng 64,4% so với bình quân giai đoạn 2011-2015
2 Những hạn chế, yếu kém của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Mặc dù các năm gần đây, số lượng DNNVV thành lập mới nhiều, nhưng cũng có một bộ phận không nhỏ DN không có khả năng tồn tại, đứng vững trong cạnh tranh hoặc hoạt động kém hiệu quả Hiện nay, các DNNVV vẫn rất khó tiếp cận các nguồn lực của xã hội để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh như: việc tuyển dụng lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao, về tiếp cận đất đai, về vốn tín dụng từ các ngân hàng, nguồn vốn từ các quỹ, về ứng dụng khoa học và công nghệ Theo Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh năm 2018 của Ngân hàng Thế giới, chỉ số tiếp cận tín dụng của Việt Nam năm 2018 được xếp hạng 29/190 nền kinh tế Trong 6 tháng đầu năm 2018, dư nợ tín dụng đối với DNNVV chiếm khoảng 21% dư nợ toàn nền kinh tế Đến nay vẫn có khoảng 60% DNNVV chưa tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng Việc tiếp cận đất đai còn nhiều khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu (thủ tục xin cấp đất rất chậm và chi phí quá cao làm mất đi cơ hội kinh doanh của DN) Các DNNVV thiếu thông tin thị trường cũng như cổng đối thoại với các bộ, ngành để tìm kiếm sự hỗ trợ và sự bảo vệ, đặc biệt là các thông tin
về giá cả hàng hóa, thủ tục mua bán, xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như quy trình sản xuất và chất lượng yêu cầu
Điểm nổi bật hiện nay là, sự liên kết của các DNNVV Việt Nam yếu kém, có rất ít mối liên kết giữa các DN nhỏ và DN có quy mô lớn hơn Theo báo cáo triển vọng phát triển Châu Á của Ngân hàng Phát triển Châu Á, hiện nay mới chỉ có 21% các DNNVV của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu so với 30% của Thái Lan và 46% của Malaysia
Sự hình thành và phát triển của các tập đoàn kinh tế tư nhân ở Việt Nam chủ yếu là sau một giai đoạn tích lũy ngắn, dựa vào vốn tự có và ít được Nhà nước hỗ trợ Quá trình phát triển theo mô hình tập đoàn của nhóm các tập đoàn kinh tế tư nhân hiện gặp phải một số khó khăn về quản trị, mô hình, do phần lớn phát triển từ quy mô
DN gia đình Các liên kết trong mô hình tập đoàn còn khá đơn giản, chưa triển khai được các hình thức liên kết “mềm” khác thông qua thỏa thuận, hợp tác sử dụng thương hiệu, dịch vụ, kết quả nghiên cứu đổi mới, ứng dụng khoa học, công nghệ chung trong tập đoàn theo nguyên tắc thị trường Lĩnh vực hoạt động của các tập đoàn kinh tế và DN thuộc khu vực tư nhân mới chủ yếu tập trung vào một số lĩnh
Trang 9vực như dịch vụ, bất động sản… Vì vậy, còn thiếu vắng một lực lượng DN “đầu tàu” đủ mạnh để có thể dẫn dắt “đoàn tàu” DN Việt Nam tham gia chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị trong nước và quốc tế
Do phần lớn DN Việt Nam hiện có quy mô nhỏ nên rất khó tăng NSLĐ nhờ chuyên môn hóa hay tận dụng lợi thế quy mô được Mặt khác, vì quy mô nhỏ nên khả năng tích tụ và tập trung vốn để đầu tư, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất hầu như không có Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của
DNNVV, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rô •ng hiện nay
III – Sự cần thiết khách quan để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa
1 Những lợi thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Chúng gắn liền với công nghệ trung gian, là cầu nối giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại
- DNNVV có tính năng động, linh hoạt, tự do, sáng tạo trong kinh doanh
- Các DNNVV dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng với cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại
- DNNVV cần vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh
- DNNVV có tỷ suất đầu tư trên lao động thấp so với doanh nghiệp lớn, vì vậy
nó có hiệu suất tạo việc làm cao
- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các DNNVV gọn nhẹ, linh hoạt, công tác điều hành mang tính trực tiếp
- Quan hệ giữa người lao động và người quản lý (quan hệ chủ - thợ) trong các DNNVV khá chặt chẽ
- Sự đình trệ, thua lỗ, phá sản của các DNNVV có ảnh hướng rất ít hoặc không gây khủng hoảng kinh tế - xã hội, đồng thời ít chịu ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng dây chuyền
2 Vai trò và tác động kinh tế - xã hội của DNNVV
Thứ nhất: các DNNVV có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số về mặt số
lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh Ở hầu hết các nước d DNNVV chiếm khoảng trên dưới 90% tổng số các doanh
nghiệp lớn Hiện nay, chưa có số liệu thống kê về DNNVV một cách chính thức, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng các DNNVV Việt Nam cũng chiếm khoảng 80-90% tổng số các doanh nghiệp
Thứ hai: các DNNVV có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế
Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi nước Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý TW, thì hiện nay DNNVV chiếm khoảng 24% GDP
Trang 10Thứ ba: tác động lớn nhất của DNNVV là giải quyết một số lượng lớn chỗ làm
việc cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm cho người lao động thì khu vực này vượt trội hơn hẳn so với khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc Ở hầu hết các nước DNNVV tạo việc làm cho khoảng từ 50-80% lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ Đặc biệt trong nhiều thời kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực DNNVV lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực doanh nghiệp lớn Ở Việt Nam cũng theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế TW, thì số lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực phi nông nghiệp có khoảng 7,8 triệu người, chiến tới 72,9% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động của cả nước
Thứ tư: các DNNVV góp phần làm năng động nền kinh tế cơ chế thị trường, do lợi
thế quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoaas và đa dạng hóa mềm dẻo, hòa nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
Thứ năm: khu vực DNNVV thu hút được khá nhiều vốn ở trong dân Do tính chất
nhỉ lẻ, dễ phân tấn đi sâu vào dân cư và yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các DNNVV có tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo dần tập quán đầu tư vào sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn đề huy động vốn dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước
Thứ sáu:các DNNVV có vai trò to lớn đối với quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh
tế, đặc bieejt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại – dịch vụ phát triển Sự phát triển DNNVV cũng góp phần làm tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và làm thu hẹp dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Các DNNVV còn góp phần đa dạng hóa cơ cấu công nghiệp
Thứ bảy: các DNNVV góp phần vào đô thị hóa phi tập trung và thực hiện phương
châm “ly nông bất ly hương” Sự phát triển của các DNNVV ở nông thôn sẽ thu hút những người lao động thiếu hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất – kinh doqanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ, nhưng vẫn sống tại quê hương bản quán, không phải di chuyển di xa, thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khác tập trung các
cơ sở công nghiệp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành những thị