1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TRỊ BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ đề tài thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước việt nam hiện nay

18 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn PGS. TS. Hà Thị Thanh Bình
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 340,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp” Tiếp theo đó, tháng 1/1994 Nghị quyết hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ kho

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Họ và tên:

Mã SV:

Lớp:

Giảng viên hướng dẫn:

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÀI TẬP LỚN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Đề tài :

Thực trạng cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước Việt

Nam hiện nay

Trang 3

Mục lục

I – Nghiên cứu lí luận về doanh nghiệp Nhà nước và cổ phần hóa doanh nghiệp

Nhà nước trong nền kinh tế ở Việt Nam 5

1 Doanh nghiệp Nhà nước 5

2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 6

II – Thực trạng doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam 8

1 Trước thời kì đổi mới (trước 1986) 8

2 Từ thời kì đổi mới đến nay 8

3 Đánh giá thành tựu, hạnh chế của doanh nghiệp Nhà nước 10

III – Tình hình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước những năm qua 11

1 Thực trạng 11

2 Giải pháp nâng cao hiệu quả 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 4

MỞ ĐẦU

Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã được đề cập đến lần đầu tiên trong nghị quyết hội nghị lần thứ II- Ban chấp hành Trung ương khoá VII (tháng 11/1991); trong đó có đoạn viết: “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới Phải làm thí điểm chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trước khi mở rộng trong phạm vi thích hợp” Tiếp theo đó, tháng 1/1994 Nghị quyết hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII đã khẳng định mục đích của cổ phần hoá là

“Thu hút thêm vốn, tạo nên động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả, cần thực hiện các hình thức cổ phần hoá có mức độ thích hợp với tính chất và mức độ sản xuất kinh doanh, trong đó Nhà nước chiếm tỷ

lệ cổ phần chi phối” Như vậy, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một trong những giải pháp hữu hiệu của Nhà nước, nhằm huy động vốn, tạo việc làm , nâng cao thu nhập, nâng cao sưc cạnh tranh, tạo điều kiện để người lao động được làm chủ, thay đổi phương thức quản lý, tạo động lực kinh doanh có hiệu quả Trong phạm vi bài viết này, em xin trình bày ngắn gọn một số nội dung cơ bản của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, những vướng mắc còn tồn tại trong quá trình cổ phần hoá, trên cơ sở đó lấy một ví dụ cụ thể về một doanh nghiệp Nhà nước đã thực hiện thành công việc cổ phần hoá doanh nghiệp

Trang 5

BÀN LUẬN VẤN ĐỀ

I – Nghiên cứu lí luận về doanh nghiệp Nhà nước và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong nền kinh tế ở Việt Nam

1 Doanh nghiệp Nhà nước

a) Khái niệm

Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn

So với Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp Nhà nước thường được cho là kém hiệu quả và lợi nhuận thấp hơn Trong khi các công ty tư nhân chi tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông, Doanh nghiệp Nhà nước thường phải chịu trách nhiệm của xã hội, hoạt động vì lợi ích của người dân, được thành lập để đối phó với những thất bại của nền kinh tế Điều đó dẫn đến việc các Doanh nghiệp Nhà nước không hướng đến và cũng không cần cố gắng tối đa hóa lợi nhuận như các doanh nghiệp

tư nhân

b) Vị trí và vai trò

Sự hình thành và phát triển doanh nghiệp nhà nước của mỗi quốc gia tuy có những đặc điểm riêng nhất định, song có đặc điểm chung là thường tập trung vào những ngành, những lĩnh vực then chốt, giữ vị trí vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển, doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta đã trở thành một lực lượng kinh tế hùng hậu, nhất là trong các ngành sản xuất và dịch

vụ quan trọng Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của nước ta doanh nghiệp Nhà nước giữ vị trí hàng đầu và vai trò chủ đạo được thể hiện ở các mặt sau :

Trang 6

- Doanh nghiệp Nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ quản

lý để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân Nhà nước điều tiết phát triển của các thành phần kinh tế thông qua các hệ thống phát luật, kế hoạch và chính sách, đồng thời sử dụng doanh nghiệp nhà nước như một thực lực kinh tế, làm cơ sở đảm bảo cho những cân đối chủ yếu trong quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân

- Doanh nghiệp Nhà nước là một trong số các nguồn chủ yếu cung cấp tài chính cho ngân sách Nhà nước Nhờ có đóng góp to lớn về tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước cho ngân sách, nhà nước có thêm vốn đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật nhằm đảm bảo cung cấp các loại hàng hóa và dịch vụ công cộng cho xã hội, góp phần tích cực vào nâng cao tốc độ và hiệu quả phát triển nền kinh tế quốc dân

- Doanh nghiệp Nhà nước là nơi đặc biệt quan trọng thu hút viện trợ vốn đầu

tư nước ngoài cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước : để đáp ứng nhu cầu

to lớn về vốn cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tận lực khai thác các nguồn tài chính bên trong nước kết hợp thu hút nguồn nhân lực bên ngoài Thu hút tài trợ các nguồn vốn bên ngoài vào các lĩnh vực như khai thác than, dầu khí, chế tjoa hàng điện tử, ô tô, xe máy…

Như vậy, doanh nghiệp nhà nước là trung tâm tiêu biểu của khoa học, công nghệ, là tấm gương sáng về quản lý, các doanh nghiệp không chỉ chịu phục vụ riêng cho mình mà còn góp phần phổ biến trang bị khoa học, công nghệ mới… Doanh nghiệp Nhà nước còn tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện cuộc sống, nâng cao văn hóa giáo dục, giảm sự chênh lệch thành thị và nông thôn…

2 Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

a) Khái niệm

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là việc chuyển doanh nghiệp mà chủ sở hữu

là Nhà nước (doanh nghiệp đơn sở hữu) thành công ty cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu), chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật doanh nghiệp Nhà nước sang hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp Được thực hiện với mục đích tránh gây ra mâu thuẫn sâu sắc với bộ phận cán bộ và nhân dân lo ngại về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Chính phủ Việt Nam

đã quyết định sẽ không bán đứt các doanh nghiệp của mình cho các cá nhân, thay

vì đó tiến hành chuyển các doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp cổ phần

Trang 7

Tài sản của doanh nghiệp được chia thành các cổ phần bán cho cán bộ công nhân trong doanh nghiệp và phần còn lại do nhà nước sở hữu Tùy từng doanh nghiệp, phần cổ phần do nhà nước sở hữu có thể nhiều hay ít, từ 0% tới 100%

b) Vị trí và vai trò

Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước là lối ra phù hợp với khu vực kinh tế Nhà nước, nó có vị trí vai trò trên nhiều mặt sau:

- Cổ phần hóa giải tỏa được bế tắc khủng hoảng về vốn cho doanh nghiệp cổ phần hóa để tạo điều kiện cho nó mở rộng sản xuất kinh doanh, giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho Nhà nước, Nhà nước có thể thu hồi vốn đầu tư ở doanh nghiệp để chuyển sang đầu tư các hoạt động ưu tiên hơn nhằm tạo đòn bẩy sang đầu tư cho các hoạt động thu tiền hơn nhằm tạo đòn bẩy thúc đẩy phát triển của toàn bộ xã hội, như đầu

tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật công trình phúc lợi, giáo dục khoa học

- Cổ phần hóa thông qua đa dạng hóa sở hữu tạo động lực cho người lao động Cổ phần hóa bảo đảm sở hữu hóa cho người lao động tại công ty, xí nghiệp bằng cách cho họ tham gia đầu tư mua cổ phiếu, thực hiện quyền làm chủ thực sự, có tính vật chất trên phần vốn đóng góp của họ và thực sự phấn đấu hăng hái cho nâng cao hiệu quả đồng vốn có

- Cổ phần hóa cho phép dứt bỏ được chế độ bao cấp ngân sách của Nhà nước, gạt

bỏ chỉ đạo nhiều chi phí kinh tế của các cơ quan chủ quản bên trên Đồng thời làm cho doanh nghiệp thực sự trở thành chủ thể kinh doanh, chỉ hoạt động vì mục tiêu của doanh nghiệp

- Cổ phần hóa tạo điều kiện cải tiến, đổi mới công tác lãnh đạo quản lý doanh nghiệp, tập trung vào đồng bộ thống nhất thực sự vì lợi ích chung và | lợi ích riêng trong doanh nghiệp

- Cổ phần hóa tạo điều kiện cho doanh nghiệp cổ phần được tự chủ, chủ động trong quan hệ tự nguyện liên doanh, liên kết kinh tế với các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, mở ra khả năng tự nguyện hợp tác kinh doanh

Như vậy, cổ phần hóa là con đường ngắn nhất vừa bảo tồn vốn cho Nhà nước, giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhà nước, thu hút được nguồn vốn trong dân, còn tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, khuyến khích được mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển

Trang 8

II – Thực trạng doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

1 Trước thời kì đổi mới (trước 1986)

Các doanh nghiệp Nhà nước của chúng ta đã hình thành và phát triển qua nhiều thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý.Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã kéo dài hơn 30 năm.Các xí nghiệp hoạt động trong cơ chế này chủ yếu là nhận lệnh từ trên bằng nhiều chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước giao;hoạt động sản xuất của các đơn vị cơ sở theo phương thức cung cấp và giao nộp,không phải sản xuất để bán trao đổi.Chế độ hạch toán kinh tế không được thực hiện mà là “hết tiền xin trên , hết hàng xin cấp, tổn thất không hay, lỗ lãi không chịu “

Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đã chiếm mất quyền chủ động sản xuất kinh doanh của cơ sở, kìm hãm sản xuất phát triển , triệt tiêu động lực sản xuất, không

đa được khoa học công nghệ vào sản xuất, máy móc thiết bị ngày càng già cỗi rệu

rã, cán bộ quản lý thụ động xơ cứng v V

Mâu thuẫn gay gắt trong thời kỳ này một bên là sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào công việc sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở trong điều kiện nguồn lực Nhà nước có hạn, một bên là các cơ sở đòi quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, họ muốn “bung ra”,được “tháo gỡ” Trong điều kiện đó sản xuất sa sút nghiêm trọng, nhiều xí nghiệp có nguy cơ phá sản, nhất là với các xí nghiệp dùng nguyên liệu của nước ngoài

2 Từ thời kì đổi mới đến nay

Trước tình hình đó, tháng 1/1981 Chính phủ đã ban hành quyết định 25-CP về “một

số chủ trương biện pháp nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của xí nghiệp quốc doanh “Quyết định 25-CP là một sự

mở đầu về đổi

mới cơ chế quản lý ở nước ta Quyền chủ động của các xí nghiệp quốc doanh đã được nới | dần Kế hoạch sản xuất ở cơ sở được chia làm 3 phần: phần do Nhà nước giao phần tự | cân đối của xí nghiệp và phần sản xuất phụ

Mặc dầu còn nhiều hạn chế những quyết định 25-CP đã phát huy quyền chủ động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh của xí nghiệp Nhiều xí nghiệp từ chỗ sắp bị đóng cửa đã đứng dậy được và phát triển Nhiều mô hình xí nghiệp tự cân đối xuất khẩu tại chỗ đã xuất hiện như nhà máy:Dệt Thành Công , dệt Phớc Long, nhựa Bình Minh v.v

Trang 9

Trong quá trình thực hiện quyết định 25-CP tuy có nhiều mặt tích cực nhưng cũng bộc lộ nhiều hiện tợng tiêu cựcnhưviệc các xí nghiệp làm lẫn lộn giữa 3 phần kế hoạch theo hướng có lợi cho cá nhân và tập thể làm thiệt hại lợi ích Nhà nước Các phạm trù “3 lợi ích”, ”liên doanh liên kết”đã bị lợi dụng và xuyên tạc VV

Để vãn hồi trật tự kinh tế tháng 8/1982 Chính phủ đã có những chính sách biện pháp bổ sung bằng quyết định 146/HĐBT và đến tháng 11/1984 có nghị quyết 156/HĐBT về một số vấn đề cải tiến công nghiệp quốc doanh

Nghị quyết 156/HĐBT vẫn chưa “gãi đúng chỗ ngứa” của các doanh nghiệp Nhà nước vì vẫn mang nặng tính chất tập trung quan liêu bao cấp.Các xí nghiệp vẫn trăn trở tìm lối ra và tiếp tục đòi quyền tự chủ của mình.Do vậy tháng 4/1986 Bộ Chính trị đã có dự thảo Nghị quyết 306 và sau đó quyết định tạm thời 76/HĐBT về đổi mới cơ chế quản lý các xí nghiệp quốc doanh và đã được khẳng định tại Nghị quyết

3 Ban chấp hành Trung ương và thể chế hoá tại quyết định 217/HĐBT,Nghị quyết 50/HĐBT và Nghị quyết 98/ HĐBT về đổi mới cơ chế quản lý với nội dung cốt lõi

là :”chuyển các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh XHCN, thực hiện chế độ

tự chủ sản xuất kinh doanh của đơn vị cơ sở, đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước về kinh tế”

Thực hiện Quyết định 217/HĐBT,Nghị quyết 50/HĐBT và Nghị định 98 đã thu được những thành công đáng kể

Nhờ thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của cơ sở mà giải phóng được năng lực sản xuất phát triển kinh tế hàng hoá, bước đầu tạo động lực sản xuất đã được khoa học kỹ thuật vào sản xuất bước đầu tập dợt đội ngũ đào tạo đội ngũ cán

bộ quản lý thích nghi với cơ chế thị trường

Tuy nhiên bên cạnh những cái được nói trên, trong quá trình thực hiện cơ chế quản

lý mới đã xuất hiện một số mâu thuẫn khá gay gắt trong xí nghiệp quốc doanh những mâu thuẫn đó là:

- Nhấn mạnh việc thực hiện quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị

cơ sở nhưng lại coi nhẹ hoặc buông nhẹ sự kiểm soát của Nhà nước,do đó làm thất thoát tài sản của Nhà nước

- Lợi ích của người lao động kể cả lao động quản lý chưa gắn chặt với hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Sự phát triển các doanh nghiệp Nhà nước quá phân tán tràn lan,nhỏ bé đã làm phân tán nguồn lực của Nhà nước kể cả lực lượng vật chất và trí tuệ quản lý

Trang 10

3 Đánh giá thành tựu, hạnh chế của doanh nghiệp Nhà nước

Thời gian qua, các doanh nghiệp nhà nước có bước phát triển vượt bậc, góp phần thực hiện vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất của xã hội mới, với mục tiêu đến năm 2025, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, có thu nhập trung bình cao

Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế,

chiếm tỷ lệ lớn trong thu ngân sách và bảo đảm việc làm cho người lao động

Đến nay, với quá trình đẩy mạnh cổ phần hóa, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm dần, chiếm tỷ trọng thấp về số lượng trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp, song vẫn nắm giữ nguồn lực lớn về vốn, tài sản, tạo nguồn doanh thu và đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà nước Theo “Sách trắng Doanh nghiệp” năm 2019, tính đến năm 2018, chỉ còn 2.486 doanh nghiệp (giảm 212 doanh nghiệp so với năm 2017), chiếm khoảng 0,4% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng nắm hơn 3,7 triệu tỷ đồng tài sản với vốn chủ sở hữu là 1,6 triệu tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 0,214 triệu tỷ đồng và đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 0,3 triệu

tỷ đồng So với toàn bộ hệ thống doanh nghiệp, khu vực doanh nghiệp nhà nước đóng góp 28% cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho 1,2 triệu lao động (8,3%); chiếm 29% tổng vốn của toàn khu vực doanh nghiệp và tạo ra 22,9% lợi nhuận so với lợi nhuận của toàn khu vực doanh nghiệp

Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chi phối trong một số ngành, lĩnh

vực, đặc biệt lĩnh vực tạo lập kết cấu hạ tầng cho tăng trưởng

Hiện nay, Việt Nam chủ yếu dựa vào nguồn lực của Nhà nước để đầu tư mở rộng kết cấu hạ tầng, đầu tư tư nhân vào kết cấu hạ tầng còn thấp, chỉ dưới 1% GDP trong thập kỷ qua Theo thống kê, có khoảng 90% các dự án kết cấu hạ tầng ở Việt Nam do Nhà nước đầu tư Nguồn vốn đầu tư đến từ hỗ trợ ngân sách trực tiếp, vốn của các doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhà nước vay vốn chiếm tỷ trọng lớn Chính những nguồn đầu tư này đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh của nền kinh tế

Thứ ba, doanh nghiệp nhà nước đi đầu trong đầu tư vào những vùng khó khăn,

những lĩnh vực đầu tư có tỷ suất lợi nhuận thấp qua đó thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, kiến tạo nền tảng phát triển

Ngày đăng: 19/06/2022, 16:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm