SKKN Kinh nghiệm Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana A PHẦN MỞ ĐẦU I Lý do chọn đề tài 1 Cơ sở khoa học Học sinh trung học cơ sở (THCS) người dân tộc thiểu số (DTTS) cũng có những đặc điểm tâm lí chung như những học sinh THCS người Kinh cùng trang lứa Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc trưng riêng, những đặc trưng mang tính của tộc người và những đặc trưng do điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn.
Trang 1SKKN Kinh nghiệm Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana
Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấp huyện,việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất cần thiết
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúp chogiáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đối tượnghọc sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sang tạo của học sinh, nângcao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS đặc biệt là giáodục kỷ luật tích cực
Trang 22 Cơ sở thực tiễn:
Học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) được sự quan tâm củaĐảng và nhà nước đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị để nuôi, dạy, ăn, ở tại trường,điều kiện học tập, thời gian học tập rất thuận lợi Song trong thời gian vừa qua chấtlượng học tập vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo, một bộ phận học sinh họcxong lớp 9 ở trường PTDTNT huyện không vào được trường PTDTNT tỉnh đã bỏhọc ở nhà làm nông hoặc đi học nghề ngắn hạn tại địa phương hoặc vào trườngTHPT rồi bỏ học giữa chừng Bởi vậy việc nâng cao chất lượng học tập ở trườngPTDTNT là vấn đề hết sức nan giải bản thân luôn trăn trở để tìm ra biện pháp.Trước hết phải tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu:
- Môi trường học tập: chưa có sự quan tâm chu đáo, tận tình của giáo viên,thiếu sự đồng cảm của bạn bè, điều kiện học tập chưa đảm bảo
Do đặc thù của các trường PTDTNT THCS hầu hết đối tượng học sinh làcon em đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn huyện như: ÊđêGia rai,Tày, Nùng, Mường, Thái… Nên mỗi dân tộc, mỗi địa phương có phong tục tập
Trang 3quán, ngôn ngữ khác nhau Khi mới vào trường PTDTNT THCS các em còn nhỏ (độtuồi từ<= 13 tuổi) có không ít em chưa thành thạo tiếng phổ thông Khả năng tiếpthu của các em còn chậm Các em rất rụt rè trong giao tiếp Hơn nữa hiện nay trong
xã hội vấn nạn giáo viên đánh đập học sinh vẫn còn xảy ra không ít và nhiều lý dokhác làm cho các em sợ thầy cô, ngại giao tiếp với thầy cô Vì vậy tôi mạnh dạn đưanội dung giáo dục kỷ luật kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số để toànthể giáo viên trong trường nghiên cứu vận dung vào việc giáo dục kỷ luật cho họcsinh DTTS trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana để giúp các em học tốt cácmôn học, có tinh thần yêu trường, mến bạn,quí thầy cô và giúp các em luôn luôn
cảm thấy: “Mỗi ngày mình sống ở trường là một niềm vui, niềm hạnh phúc”
II Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Trang 4động càng rộng rãi, thường xuyên bằng nhiều hình thức phong phú như treo panô,khẩu hiệu, tờ rơi sẽ giúp giáo viên thay đổi nhận thức trong thời gian sớm nhất.+ Cung cấp sách báo, tài liệu:
Sách báo, tài liệu là một trong những nguồn cunhg cấp thông tin không thểthiếu, giúp cho việc thay đổi nhận thức của giáo viên Thông qua nguồn thông tinnày, giáo viên tự học hỏi và tích lũy kinh nghiệm giao dục học sinh mà không dunghình phạt
+ Tổ chức các lớp tập huấn:
Các lớp tập huần, hội thảo luôn mang lại cho giáo viên những ý tưởng hay Cán
bộ quản lý giáo dục cần tổ chức các cuộc hội thảo, tập huấn để giáo viên nhận thứcđược mục đích việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực, giúp họ chọnlọc, sáng tạo những hình thức giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh lớp mình.+ Xây dựng cơ chế khuyến khích việc thực hiện các biện pháp giáo dụckỷ luậttích cực
Nhà trường cần có cơ chế cụ thể trong việc thực hiện các biện pháp giáo dục kỷluật tích cực Cơ chế này được xây dựng trên cơ sở thống nhất của Hội đồng sưphạm bao gồm đầy đủ các nội dung như kiểm tra giám sát việc thực hiện, khenthưởng, tôn vinh những giáo viên thực hiện tốt, kỷ luật nghiêm khắc những giáoviên vi phạm nội quy Việc nhà trường thực hiện tốt cơ chế này sẽ đảm bảo tất cảhọc sinh để được hưởng lợi ích của biện pháp giáo dục tích cực
Trang 5+ Tổ chức tuyên truyền cho phụ huynh về GDKTTC thông qua các buổi họpphụ huynh, các buổi hội thảo, tọa đàm…
+ Mời phụ huynh tham gia vào quá trình thực hiện Ví dụ: Lấy ý kiến của phụhuynh đóng góp cho nội quy lớp/ trường học để phụ huynh năm được và phối hợpvới nhà trường trong việc theodõi, giám sát thực hiện
+ Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường / lớp tổchức
+ Tuyên truyền bằng tờ rơi bằng cách gửi trực tiếp cho phị huynh, bằng áp píctreo ở các trung giáo dục cộng đồng hay các nhà văn hóa của các thôn buôn
Đối với giáo viên:
Khi GDKLTC cho học sinh giáo viên cần thực hiện các nội dung sau:
+ Dạy trẻ tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách nhiệm đốivới sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình, biết tôn trọng mình và tôn trọngngười khác Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có các hành
vi tích cực có thể ảnh hưởng lâu dài đến cả cuộc đời con người
+ Gây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa giáo viên và học sinh
+ Dạy cho học sinh những kỷ năng sống mà các em sẽ cần trong suốt cả cuộcđời
+ Làm tăng sự tự tin và khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học tập
và cuộc sống của các em
Trang 6+ Dạy cho học sinh biết cách cư xử nhã nhặn, không bạo lực, tôn trọng bản thân, biết thông cảm và tôn trọng quyền của người khác.
Khi giáo viên áp dụng các nội dung GDKLTC như đã nêu trên, học sinh khôngcảm thấy bị xúc phạm dẫn đến chán nản, GDKLTC giúp cho việc tạo ra mối quan hệthân thiết giữa giáo viên và học sinh , học sinh và học sinh, bố mẹ và con cái
Đối với Phụ huynh:
Tìm hiểu về GDKTTC thông qua các buổi họp phụ huynh, các buổi hội thảo,tọa đàm…
Tham gia ý kiến đóng góp cho nội quy lớp, trường học để phụ huynh nămđược và phối hợp với nhà trường trong việc theo dõi, giám sát thực hiện
Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường / lớp tổchức
III Đối tượng nghiên cứu:
Giáo dục kỷ luật tích cực cho học sinh dân tộc thiểu số trường PTDTNTTHCS HuyệnKrông Ana từ năm học 2015-2017
IV Giới hạn của đề tài:
Học sinh trường PTDT nội trú Krông Ana, thực hiện áp dụng từ năm học 2015 2017
-V Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được thực hiện bằng cách đem lý thuyết áp dụng vào thực tế, có điềuchỉnh bổ sung và từ thực tế rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện
Trang 7Quá trình nghiên cứu, thực hiện sử dụng các phương pháp sau:
Viết thành chuyên đề để cán bộ, giáo viên, phụ huynh và học sinh thảo luận,bàn bạc và góp ý cụ thể từng nội dung.Tổ chức chuyên đề phổ biến cho toàn thể cán
bộ, giáo viên nắm vững nội dung để thực hiện
Qua quá trình triển khai thực hiện có lấy ý kiến đóng góp của cán bộ giáoviên, phụ huynh và học sinh để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế ởtrường
B PHẦN NỘI DUNG
I Cơ sở lý luận:
Trong trường học, khi học sinh vi phạm các quy định, quy tắc của lớp, củatrường, tùy mức độ vi phạm, các em sẽ bị kỷ luật theo mức độ và hình thức khácnhau Trong thực tế có rất nhiều hình thức kỷ luật học sinh Do ảnh hưởng của tưtưởng Nho giáo và cách giáo dục truyền thống “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọtcho bùi” “Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”, nhiều giáo viên sử dụng các hìnhthức như mắng nhiếc, sỉ nhục, đánh, tát, phạt quỳ, bêu riếu… Biện pháp cuối cùngcủa hình thức là đuổi học sinh Biện pháp này thể hiện sự bất lực của giáo viên đặcbiệt là giáo viên các trường có học sinh DTTS, vô hình chung chúng ta đẩy ra ngoài
xã hội những “sản phẩm kém GD chất lượng” và đó chính là mầm mống của cáchiện tượng tiêu cực gây rối loạn trật tự xã hội tại các vùng miền núi
1 Kỷ luật và giáo dục kỷ luật:
Trang 8Chúng ta biết rằng kỷ luật là những quy tắc quy định, luật lệ mà con ngườiphải thực hiện, chấp hành, tuân theo để đạt được mục tiêu đề ra.Kỷ luật là chìa khóavạn năng giúp con người trở nên hoàn tất và thành công trong cuộc sống.
Trong thực tế “kỷ luật” thường được hiểu nhầm là “khống chế” và “ trừngphạt” đặc biệt trừng phạt thân thể Tuy nhiên, đó không phải là nghĩa thực của từ
“kỷ luật” đối với học sinh
Quan điểm của giáo dục kỷ luật tích cực là: Việc mắc lỗi của học sinh đượccoi như lẽ tự nhiên của quá trình học tập và phát triển Nhiệm vụ quan trọng củachúng ta là làm thế nào để học sinh tự nhận thức được bản thân, tự kiểm soát đượchành vi, thái độ, trên cơ sở các quy định, quy ước đã được xây dựng, thỏa thuận giữangười dạy và người học Khi học sinh mắc lỗi, giáo viên là bạn, là anh, là chị, người
mẹ, người cha – chỉ cho các em nhận ra lỗi của mình để tự điều chỉnh Việc tự nhận
ra lỗi để điều chỉnh bản thân là cơ sở cho sự phát triển hoàn thiện nhân cách Kỷ luậttích cực mang tính xây dựng và là biện pháp hiệu quả, nhằm tìm ra giải pháp giảiquyết các tình huống mang tính thách thức trong lớp học và trong nhà trường Giáodục kỷ luật tích cực hỗ trợ việc dạy học và giáo dục các em học sinh DTTS Giáodục kỷ luật tích cực còn xây dựng sự tự tin của học sinh và long ham thích học tậpcho các em
2 Giáo dục kỷ luật tích cực là gì?
Giáo dục kỷ luật tích cực là:
Trang 9- Những giải pháp mang tính dài hạn giúp phát huy tính kỷ luật tự giác của học sinh.
- Sự thể hiện rõ ràng những mong đợi, quy tắc và giới hạn mà học sinh phải tuân thủ.
- Giáo dục kỷ luật tích cực là việc dạy và rèn luyện cho các em tính tự giác tuân theo các quy định và nguyên tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như về lâu dài.
Giáo dục kỷ luật tích cực là để phát triển hành vi cho các em, cụ thể là:
- Giáo dục học sinh tự kiểm soát và tự tin để biết cách thực hiện các hành vi mong đợi.
- Dạy trẻ biết cách tự kiềm chế bản thân và chungsống hài hòa với người khác.
- Giáo dục kỷ luật tích cực là sự động viên khích lệ thực hiện hành vi, xây dựng
sự tự tin, lòng tự trọng và tính trách nhiệm, giúp các em phát triển nhân cách, chứ không phải làm cho các em bị đớn đau.
Giáo dục kỷ luật tích cực tôn trọng trẻ và không mang tính bạo lực Đây là cáchtiếp cận mang tính giáo dục, giúp trẻ thành đạt, cung cấp cho các em thông tin các
em cần để học và hỗ trợ sự phát triển của các em
Giáo dục kỷ luật tích cực không phải là:
- Sự buông thả, để cho học sinh muốn làm gì thì làm.
- Không có các quy tắc, giới hạn hay sự mong đợi.
- Những phản ứng mang tính ngắn hạn hay những hình phạt thay thế cho việc tát, đánh hay sỉ nhục.
Trang 10II Thực trạng
1 Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh
Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh THCS người DTTS được mô tả một
số nội dung dưới đây:
Sự định hướng tri giác theo nhiệm vụ (học tập) đặt ra chưa cao Các em thườngbịthuhút vào những thuộc tính rực rỡ, màu sắc mới lạ ở bên ngoài đối tượng tri giác,
do vậy các em khó phân biệt được đâu là thuộc tính bản chất, đâu là thuộc tínhkhông bản chất
Trang 11Khả năng tư duy hình học, vật lí của các em còn yếu Các em có thể nhận ra từngdấu hiệu, thuộc tính đơn lẻ của sự vật, hiện tượng Song quá trình tổng hợp khái quát
để đi đến nhận xét chung lại hạn chế, khả năng kết hợp các giác quan yếu Các em
có thể nhận diện nhanh chóng các hình vẽ do giáo viên vẽ trên bảng, song để các em
tự vẽ lại thì rất khó khăn, nhất là phải sử dụng dụng cụ học tập như Compa, thướckẻ
Tính kế hoạch và sự kiên trì quan sát trong quá trình học tập hạn chế Các emkhông thể tập trung được lâu Nếu giờ dạy thiếu đồ dung dạy học trực quan, thiếungôn ngữ dân tộc để giải thích, giáo viên (GV) nói nhanh không nhấn mạnh nộidung quan trọng cần giáo dục (GD), hoặc nói quá to… thì sự chán nản của các emđến rất nhanh, khi đó các em không quan sát, không nói chuyện, không phá pháchnhư học sinh người kinh, các em vẫn ngồi yên, song trong đầu không hoạt động.Một giáo viên tâm sự “Giáo viên chỉ nói to hơn bình thường một chút là học sinhnghĩ là chúng tôi mắng các em, vì vậy chúng tôi phải thận trọng hơn khi giáo dục kỷluật”
1.2 Đặc điểm nhận thức ngôn ngữ tiếng Việt
Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, là phương tiện để thực hiện quá trình nhậnthức của bất cứ dân tộc nào trẻ em sinh ra đã nói tiếng mẹ đẻ Các em giao tiếp bằngtiếng mẹ đẻ Khi đến trường các em học bằng tiếng Việt, các em đã gặp khó khăn vềngôn ngữ trong học tập và giao tiếp
Trang 12Qua thảo luận nhóm với học sinh, qua xem bài kiểm tra của các em, xem vỡghi chép hàng ngày của các em và quan sát các em giao tiếp với nhau… Từ đó cóthể kết luận nhận thức về ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh DTTS:
- Vốn tiếng Việt của học sinh DTTS còn nghèo nàn;
- Các em hiểu rất ít về ngôn ngữ tiếng Việt;
- Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt;
- Khó khăn trong tư duy và nhận thức khoa học
Theo nhận thức của tôi, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh dân tộcnhưng không phải là ngoại ngữ Học sinh dân tộc tiếp nhận tiếng Việt là tiếp nhậnvới trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ và quyền lợi Tiếng Việt và các tiếng dân tộccũng có nhiều điểm gần gũi về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Vấn đề quan trọng làgiáo viên cần giúp học sinh khắc phục những chuyển di ngôn ngữ có hại và khaithác tốt các chuyển di ngôn ngữ có lợi, tôi nghĩ rằng chúng ta coi nhẹ khó khăn hayquá nhấn mạnh khó khăn của học sinh dân tộc khi học tiếng Việt đều là không đúngvới khoa học dạy tiếng
1.3 Đặc điểm về tư duy:
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngmối liên hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thựckhách quan mà trước đó chưa biết Học sinh DTTS có các đặc điểm tư duy riêng biệtsau:
Trang 13Các em chưa có thói quen lao động trí óc, phần lớn các em ngại suy nghĩ,ngại động não, khi gặp phải vấn đề khó khăn là các em bỏ qua, nên dẫn tới khả năng
tự học hạn chế Vì vậy khi gặp vấn đề này thì trong quá trình giáo dục kỷ luật giáoviên cần lưu ý
Tư duy của học sinh DTTS còn thể hiện kém nhanh nhẹn, kém linh hoạt vàkém mềm dẻo Mặt khác do hạn chế về Tiếng Việt nên ngại tranh luận, ngại trìnhbày các vấn đề khó nói, sợ bị các bạn cười
Học sinh DTTS tư duy trực quan – hình ảnh tốt, tư duy trừu tượng logic yếu.Học sinh DTTS thường tồn tại kiểu tư duy kinh nghiệm; yếu về tư duy lí luận,
tư duy sáng tạo, tư duy khoa học
Những đặc điểm về tư duy chi phối toàn bộ quá trình nhận thức của các em,tác động mạnh mẽ tới các thuộc tính tâm lí và trạng thái tâm lí, trong giáo dục giáoviên cần giúp các em tư duy lí luận, tư duy khoa học thong qua các hoạt động
1.4 Đặc điểm về trí nhớ
Học sinh DTTS có một số đặc điểm về ghi nhớ sau:
Ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế, các em ghi nhớ một cách rời rạc, thiếu logicvới nhau Để khắc phục nhược điểm này GV phải kiên trì, mỗi vấn đề giáo dục yêucầu các em nhớ mình phải làm cái gì, dựa vào đâu để làm được, làm thế nào đểkhông vi phạm kỷ luật
Khả năng tái hiện không tốt Biểu hiện là do các em trình bày lại vấn đề đãcác em đã đọc là rất khó khăn Vậy để giúp học sinh tái hiện nhanh chóng giáo viên
Trang 14cần hướng dẫn học sinh có thói quen truy bài, trao đổi bài thường xuyên, phát biểutrước đám đông…
1.5 Đặc điểm về tình cảm:
Học sinh DTTS có những đặc điểm về tình cảm như sau:
Tình cảm của các em là chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, không có hiệntượng quanh co, lèo lái hoặc khéo léo che đậy những tình cảm của mình Tình cảmcủa các em rất thầm kín
Các em học sinh rất gắn bó với gia đình, làng bản, quê hương Hầu hết các
em không muốn xa gia đình Khi phải đi học ở trường PTDTNT THCS các em rấtnhớ nhà, nhiều khi khóc cả tuần
Tình cảm bạn bè của các em học sinh DTTS rất độc đáo, thân nhau như anh
em, bảo vệ nhau đến cùng Bạn nghỉ học cũng phải nghỉ học theo
Các em rất ưa tình cảm và giải quyết mọi vấn đề bằng tình cảm Một em gáidân tộc nói “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn và không muốn học nữa”
Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân đối Sựhoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên, tuyến giáptrạng, tuyến thượng thận) tạo ra nhiều thay đổi trong cơ thể trẻ, trong đó sự nhảy vọt
về chiều cao và sự phát dục
1.6 Đặc điểm về tính cách:
Học sinh THCS người DTTS có một số đặc điểm riêng:
Trang 15Các em sống hồn nhiên, giản di, thật thà, chất phác.
Do hạn chế về Tiếng Việt nên các em rất rụt rè, rất ít nói, hay tự ti
Các em đã bắt đầu có lòng tự trọng, có tính bảo thủ và đặc biệt là hay tự ái và hay tủithân
Các em sống theo kiểu phóng khóang, tự do, không thích gò bó, chặt chẽ
Trong giao tiếp, các em không biết nói năng mềm dẻo, tế nhị Đại đa số nói trốngkhông, cộc lốc, không cần thưa gửi, một phần do ngôn ngữ bị hạn chế
1.7 Đặc điểm về nhu cầu:
Học sinh DTTS từ khi chưa đi học đến khi đi học là cả một sự đấu tranh bêntrong của cá nhân Ở nhà các em hoạt động chủ yếu là vui chơi Đối với học sinhDTTS đến trường, đi học là sự thay đổi căn bản của hoạt động chủ đạo Thời kỳ nàytâm lý học sinh có sự chuyển biến, ý thức vì mình là học sinh Do vậy, duy trì đượcnhu cầu thích học, khẳng định được vị trí của mới của người học là một trong nhữngyêu cầu sư phạm cần thiết để giáo dục học sinh
Ý thức tập thể, kỷ luật học tập, phải trở thành nếp sống mới, thói quen mới
và dần được khắc sâu trong học sinh Đồng thời với yêu cầu trên là hình thành nhucầu Tiếng Việt cho học sinh DTTS Tuy nhiên, đối với học sinh DTTS, tiếng mẹ đẻ
đã có chiều sâu nhất định, do vậy không thể hạn chế, cưỡng ép, xóa bỏ thói quen sửdụng tiếng mẹ đẻ trong học tập
Quan trọng là hình thành cho học sinh một cách nhìn mới về giá trị của ngônngữ công cụ và ngôn ngữ mẹ đẻ Việc hạn chế, cưỡng ép học sinh bỏ thói quen sử
Trang 16dụng tiếng mẹ đẻ là một hành vi trái với văn hóa, đồng thời với khoa học dạy tiếng.Tiếng mẹ đẻ của học sinh không phải là hòn đá chặn đường mà chính là viên đá látđường dẫn các em nhanh chóng đến với ngôn ngữ thứ hai và đến với chân trời khoahọc Vấn đề quan trọng ở chổ là chúng ta phải nắm rất chắc bản chất và các bước đicủa giáo dục song ngữ để vận dụng các hoạt động dạy học trong nhà trường, vì vậy
để giáo dục lỷ luật có hiệu quả giáo viên cần phải biết tiếng mẹ đẻ của dân tộc đó
Những kích thích bên ngoài không xuất phát từ chính đối tượng của hoạtđộng học tập có vai trò quan trọng vì đáp ứng nhu cầu đang có ở học sinh Nhu cầuđược khen, chiếm được uy tín của bạn bè, nhu cầu được chơi, hoạt động ngoạikhóa… đều có tác dụng tích cực đối với hoạt động giáo dục của học sinh DTTS Dovậy việc mở rộng phạm vi nhu cầu như: Tổ chức các hoạt động học tập thể, laođộng, vui chơi, giao lưu, hoạt đ6ọng xã hộ, văn hóa thể thao… là tiền đề sinh ra nhucầu mới, nhu cầu nhận thức Tổ chức giáo dục theo các hình thức khác nhau nhưgiáo dục tự học, giáo dục học ngoài giờ chính khóa, giáo dục qua tình huống, giáodục qua hoạt động ngoại khóa đều có tác dụng bổ sung tri thức, mở ra những nhucầu mới cho học sinh
Trong một môi trường mới, trường PTDTNT THCS, hoạt động của bản thânhọc sinh là động lực trở thành thành viên xã hội, phát triển nhân cách Các dạng hoạtđộng như: Học tập, vui chơi, hoạt động xã hội …đều được thong qua giao lưu quan
hệ với người khác (thầy- trò, bạn bè, gia đình, xã hội…) Trong dó nhu cầu khẳngđịnh trong học tập và rèn luyện ngày càng chiếm ưu thế và là đặc điểm quan trọng
Trang 17nhu cầu học nghề, nhu cầu tình bạn, tình yêu… so với học sinh người kinh có sự đadạng và phân hóa về mức độ và tính chất Sự phát triển về nhu cầu của học sinhđang diễn ra đúng quy luật chung: Từ những quá trình và chức năng trực tiếp thànhgián tiếp, từ không chủ định thành chủ định, từ chưa có ý thức đến có ý thức Quátrình hình thành nhu cầu, động cơ học tập không tách rời phương pháp, biện pháp tổchức học tập Do đó, mọi hoạt động của học sinh DTTS, dưới sự chí đạo của thầyphải xác định học sinh là chủ thể của hoạt động giáo dục.
Nếu như trước khi đến trường PTDTNT THCS, học sinh chưa có nhu cầu,động cơ học tập rõ rệt thì quá trình hình thành nhu cầu của học sinh trong trườngPTDTNT THCS có nội dung mới: Nhu cầu giao tiếp, nhu cầu hoạt động xã hội… cóđặc điểm và tính chất riêng Như vậy khi thực hiện các biện pháp thu hút học sinhvào hoạt động tập thể, làm cho học sinh nào cũng nhìn thấy rõ kết quả học tập củamình thì các em yên tâm học tập hơn
Từ những đặc điểm nhu cầu của học sinh DTTS, có thể nhận xét như sau:Nhu cầu học tập của học sinh DTTS đã đáp ứng và phát triển nhờ vào giảipháp xây dựng trường PTDTNT THCS Đây là biện pháp có tính chiến lược quantrọng xét về khía cạnh nhu cầu học tập Vấn đề quan trọng tiếp theo là tổ chức họctập, giáo dục có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thú của học sinh.Hình thành và phát triển nhu cầu cho học sinh gắn liền với việc cải tiến nội dungphương pháp, các hình thức tổ chức học tập thích hợp, để nâng cao kết quả học tậpcủa học sinh thông qua các đa dạng học tập có hiệu quả là hướng đi quan trọng củalực lượng giáo dục Nhu cầu giao tiếp của học sinh DTTS phụ thuộc vào khả năng
Trang 18ngôn ngữ công cụ Do vậy, trang bị cho học sinh ngôn ngữ phổ thông là cung cấpcho các em phương tiện giao tiếp cục kỳ quan trọng, để mở rộng phạm vi nhu cầu,hiệu quả hóa những nhu cầu đặc trưng lứa tuổi và những nét riêng trong nhu cầu họcsinh DTTS hiện nay.
1.8 Đặc điểm về giao tiếp:
Sự hình thành kiểu quan hệ mới: Học sinh người DTTS khi học hết bậc tiểuhọc tiếp tục học lên các trường THCS hoặc vào tại trường PTDTNT THCS cấphuyện, các em có nhu cầu mở rộng mối quan hệ và thực sự có nhiều mối quan hệhình thành đối với các em
Khi đến trường PTDTNT THCS hoặc trường THCS nhiều mối quan hệ mớinảy sinh: Quan hệ với thầy cô chủ nhiệm, quan hệ với thầy cô bộ môn, quan hệ với
cô cấp dưỡng, bác bảo vệ, quan hệ với bạn bè trong từ các địa phương khác đến;quan hệ với các bạn cùng phòng trong ký túc xá… các quan hệ này là hoàn toàn mới
lạ đối với các em Bên cạnh đó các em lại xa gia đình sống tự lập, đây thực sự làthách thức đối với các em Các em sẽ phải giải quyết các mối quan hệ này như thếnào? Đặc biệt là những em học lớp đầu cấp.đến trường PTDTNT THCS thực sự làmôi trường mới và hoàn toàn xa lạ đối với các em, Thực tế cho thấy chỉ có một hành
vi cử chỉ không thân thiện của giáo viên là các em có thể bỏ học Một em gái dân tộcÊĐê nói “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn và không muốn học nữa”
Trang 19Giao tiếp với người lớn: Ở tuổi thiếu niên xuất hiện một cảm giác rất độcđáo: “Cảm giác mình đã là người lớn” Các em cảm thấy mình không còn là trẻ nhỏnữa, nhưng các em cũng có cảm giác mình chưa thực sự là người lớn.
Cảm giác mình đã là người lớn được thể hiện rất phong phú về nội dung vàhình thức Các em quan tâm đến hình thức, tác phong, cử chỉ… và những khả năngcủa bản thân Cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầu được người lớn thừa nhận nó
là người lớn đã đưa đến vấn đề quyền hạn của người lớn và các em trong quan hệvới nhau Các em mong muốn hạn chế quyền hạn của người lớn mà mở rộng quyềnhạn của mình; các em mong muốn người lớn tôn trọng nhân cách, phẩm giá, tintưởng và mở rộng tính độc lập của các em
Do đặc điểm cư trú, văn hóa cho nên học sinh THCS người DTTS đã sớm cótính tự lập từ nhỏ, khi học tiểu học các em tự đến trường không cần phải người lớnđưa đón như học sinh người Kinh ở thành phố; các em gái đã làm giúp gia đìnhđược nhiều việc; nhiều em gái dân tộc Mnông có thể biết tự may vá quần áo chomình; các em có thể nấu cơm, giặt quần áo… khi học lên THCS các em đã phát triển
về thể lực và sinh lí, do vậy các em càng khẳng định mình là người lớn
Quá trình học tập ở trường PTDTNT THCS học sinh được mở rộng tầm nhìn
do môi trường mới đa dạng, phong phú về các hình thức tổ chức học tập, học trênlớp, ngoài lớp, hoạt động xã hội, trong và ngoài nhà trường, môi trường giao lưungày càng mở rộng Đối tượng giao tiếp của các em ngày càng đa dạng, phong phú,cường độ tiếp xúc của học sinh PTDTNT THCS cũng nhiều hơn so với học sinhtrường khác Do tính chất nội trú, những đặc điểm quản lý tập trung nên giờ tự học,