Lý luận nhận thức giải quyết mối quan hệ của tri thức, của tư duy con người đối với hiện thực xung quanh, trả lời câu hỏi con người có nhận thức được thế giới hay không.. Tiểu kết Như vậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Khoa Lý luận chính trị
BÀI TẬP LỚN Học phần: Triết học Mác - Lênin
Đề tài
Lý luận nhận thức và vai trò của triết học đối với mỗi cá nhân
trong đời sống xã hội
Họ tên sinh viên: Phạm Thị Minh Châu
Mã sinh viên: 11218720 Lớp tín chỉ: Triết học Mác - Lênin(221)_09
GV hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Mai Lan
Trang 2HÀ NỘI - 5/2022
1 Quan niệm về nhận thức trong lịch sử triết học
1.1 Khái niệm lý luận nhận thức
Lý luận nhận thức” là một bộ phận của triết học, nghiên cứu bản chất của nhận thức, những hình thức, các giai đoạn của nhận thức, con đường để đạt chân lý, tiêu chuẩn của chân lý,…
Lý luận nhận thức là khía cạnh thứ hai của vấn đề cơ bản của triết học
Lý luận nhận thức giải quyết mối quan hệ của tri thức, của tư duy con người đối với hiện thực xung quanh, trả lời câu hỏi con người có nhận thức được thế giới hay không
1.2 Các quan điểm về nhận thức trong lịch sử triết học
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm
2.1.1 Chủ nghĩa duy tâm chủ quan
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người Đối với nhà triết học người Anh George
Berkeley, chân lý là sự phù hợp giữa suy diễn của chủ thể với sự vật đang tồn tại trên thực tế Theo ông, tiêu chuẩn để thẩm định tri thức là tính rõ ràng của tri thức cảm tính, tính đơn giản và dễ hiểu, tính tương đồng của nhiều cảm giác, tính thừa nhận của nhiều chủ thể và sự phù hợp tuân theo ý Chúa Tức là nhận thức không phải sự phản ánh thế giới khách quan bởi con người mà là sự phản ánh trạng thái chủ quan của con người, nhận thức các cảm giác của con người
2.1.2 Chủ nghĩa duy tâm khách quan
Chủ nghĩa duy tâm khách quan không phủ nhận khả năng nhận thức của con người nhưng giải thích một cách duy tâm, thần bí Các nhà triết học tiêu biểu cho chủ nghĩa này có thể kể đến Plato và Hegel Plato cho rằng nhận thức chỉ là sự hồi tưởng lại, nhớ lại những tri thức mà linh hồn đã có sẵn ở thế giới
ý niệm trước khi nhập vào xác người Hegel cho rằng nhận thức là quá trình tự
ý thức của linh hồn thế giới
Trang 31.2.2 Chủ nghĩa hoài nghi
Các đại biểu của thuyết hoài nghi đã nghi ngờ khả năng nhận thức của con người, thậm chí có người đã nghi ngờ bản thân sự tồn tại khách quan của các sự vật hiện tượng Những người theo trào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan Tư tưởng nghi ngờ của Descartes đã góp phần tích cực vào việc chống tôn giáo, triết học kinh viện Ông cho rằng phải coi lý tính, trí tuệ con người là tòa án thẩm định và đánh giá mọi tri thức, quan niệm
mà nhân loại đã đạt được, nghi ngờ mọi cái mà thường ngày vẫn cho là đúng Nghi ngờ là điểm xuất phát của phương thức khoa học, là để tìm ra chân lý Đó chỉ là tiền đề chứ không phải kết luận Tuy nhiên, nguyên tắc nghi ngờ xuất phát điểm trong ông còn hạn chế, tạo kẽ hở cho chủ nghĩa duy tâm nảy sinh
Về thực chất, các nhà hoài nghi chủ nghĩa đã không hiểu được thực
tế biện chứng của quá trình nhận thức
1.2.3 Quan điểm của thuyết không thể biết
Quan niệm bất khả tri (không thể biết) đã có trong triết học từ thời
Epicurus (341 – 270 TCN) nhưng phải đến Kant thì bất khả tri mới trở thành học thuyết triết học có ảnh hưởng sâu rộng ở châu Âu Kant cho rằng con người không thể nhận thức được bản chất thế giới Chúng ta có hình ảnh về sự vật nhưng đó chỉ là những biểu hiện bên ngoài của chúng chứ không phải chính bản thân sự vật
1.2.4 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật trước Marx
Chủ nghĩa duy vật trước Marx cho rằng nhận thức là sự phản ánh trực quan, đơn giản, là bản sao chép nguyên xi trạng thái bất động của sự vật
Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
1.2.5 Tiểu kết
Như vậy, có thể nói tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc phản diện về nhận thức, những vấn đề lý luận nhận thức chưa được giải quyết một cách khoa học, đặc biệt là chưa thấy được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Trang 42 Lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng
2.1 Các nguyên tắc của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
Trên cơ sở kế thừa những giá trị và khắc phục những hạn chế của các trào lưu triết học trong lịch sử về các vấn đề nhận thức, triết học Marx - Lenin chỉ ra
rằng, nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào
trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn
Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan và độc lập với ý
thức con người Đây là nguyên tắc nền tảng của lý luận nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Hai là, cảm giác, tri giác, ý thức nói chung là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, các cảm giác của chúng ta (và mọi tri thức) đều là sự phản ánh, đều là hình ảnh chủ quan của hiện thực khách quan Song, đây không phải là sự phản ánh thụ động, cứng đờ của hiện thực khách quan giống như sự phản ánh vật lý của cái gương trong quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Marx
Ba là, thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra hình ảnh đúng, hình ảnh sai của
cảm giác nói riêng và ý thức nói chung, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý, khẳng định cái gì là chân lý, cái gì là giả dối, cái gì là là sai lầm
2.2 Nguồn gốc, bản chất của nhận thức
2.2.1 Nguồn gốc của nhận thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người Thế giới khách quan chính là đối tượng, là
nguồn gốc duy nhất và cuối cùng của nhận thức Mọi tri thức, mọi hiểu biết
của con người đều có từ thế giới khách quan Thế giới khách quan quy định cả nội dung và hình thức của nhận thức
2.2.2 Bản chất của nhận thức
Thứ nhất, thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và khả năng nhận
thức của con người Thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người Không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng rồi sẽ nhận thức được
Trang 5Thứ hai, nhận thức là quá trình biện chứng có sự vận động và phát triển
Quá trình này diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết
nhiều, đi từ hiện tượng đến bản chất và đi từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
Thứ ba, nhận thức là quá trình tác động biện chứng giữa chủ thể và khách
thể nhận thức trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người
Như vậy, n hận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách tích cực, chủ động, sáng tạo bởi con người trên cơ sở thực tiễn mang tính lịch
sử cụ thể.
2.3 Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
2.3.1 Phạm trù thực tiễn
Trong lịch sử triết học, không phải mọi trào lưu đều đưa ra quan niệm một cách đúng đắn về phạm trù này Chủ nghĩa duy tâm cho rằng hoạt động của tinh thần nói chung là hoạt động thực tiễn Triết học tôn giáo cho rằng hoạt động sáng tạo ra vũ trụ của thượng đế là hoạt động thực tiễn Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng sự vật, hiện tượng, cái cảm giác được chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan
Theo Marx, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
Hoạt động thực tiễn mang những đặc trưng như sau:
Thứ nhất, là hoạt động vật chất, cảm tính Khác với hoạt động tư duy,
hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi chúng theo những mục đích của mình
Thứ hai, là phương thức tồn tại cơ bản, phổ biến của con người và xã hội
Con người trong quá trình phát triển của mình không thể lúc nào cũng thỏa mãn với những gì có sẵn trong tự nhiên Con người cần tiến hành lao động sản xuất
ra của cải vật chất Không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được
Thứ ba, là hoạt động có mục đích nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có 3 hình thức cơ bản:
Trang 6Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên
của thực tiễn Đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công
cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại của mình và xã hội
Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của các tổ chức cộng đồng
người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển
Thực nghiệm khoa học là quá trình mô phỏng hiện thực khách quan trong
phòng thí nghiệm để hình thành chân lý Hoạt động này được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế cho nhau song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là quan trọng nhất vì nó là hoạt động nguyên thủy nhất và tồn tại một cách khách quan, tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu có tính chất quyết định đến sự sinh tồn và phát triển của con người Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức hoạt động khác Các hình thức hoạt động khác suy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất và phục vụ cho hoạt động sản xuất của con người Nói như vậy không có nghĩa là các hình thức hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàn toàn thụ động, lệ thuộc một chiều vào hoạt động sản xuất Chúng có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển Nếu hoạt động chính trị xã hội mang tính chất tiến bộ, cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm khoa học đúng đắn sẽ tạo đà cho hoạt động sản xuất phát triển Nếu hoạt động chính trị xã hội lạc hậu, phản cách mạng và thực nghiệm khoa học sai lầm thì sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất Sự tác động qua lại này làm cho thực tiễn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhận thức
2.3.2 Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức Thực tiễn cung cấp những tài
liệu, vật liệu cho nhận thức của con người Thực tiễn luôn đề ra nhu cầu, nhiệm
vụ và phương hướng phát triển của nhận thức; rèn luyện các giác quan của con người ngày càng tinh tế, hoàn thiện hơn
Trang 7Thực tiễn là mục đích của nhận thức Nhận thức của con người là nhằm
phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Tri thức chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn một cách trực tiếp hay gián tiếp để phục vụ con người
Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Tri thức là kết quả của quá
trình nhận thức Tri thức có thể phản ánh đúng hoặc không đúng hiện thực nên phải được kiểm tra trong thực tiễn Thực tiễn có nhiều hình thức nên khi kiểm tra chân lý có thể bằng thực nghiệm khoa học hoặc vận dụng lý luận xã hội vào quá trình cải biến xã hội Cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn Việc nghiên cứu lý luận phải gắn với thực tiễn, giống như học đi đôi với hành
Xa rời thực tiễn sẽ dẫn tới sai lầm, giáo điều Việc tuyệt đối hóa thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng Chỉ có qua thực nghiệm mới có thể xác định được tính đúng đắn của một tri thức
2.4 Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức
2.4.1 Trực quan sinh động (nhận thức cảm tính)
Trực quan sinh động còn được gọi là giai đoạn nhận thức cảm tính Đây
là giai đoạn con người sử dụng các giác quan để tác động trực tiếp vào các sự vật nhằm nắm bắt các sự vật ấy Nhận thức cảm tính bao gồm ba hình thức là:
cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là hình thức phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của các sự vật,
hiện tượng khi chúng đang tác động trực tiếp vào các giác quan của con người Cảm giác chính là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mỗi người khác nhau có trình độ, góc nhìn khác nhau sẽ dẫn đến cảm giác về sự vật, hiện tượng khác nhau Nếu dừng lại ở cảm giác thì con người mới hiểu được thuộc tính cụ thể, riêng lẻ của sự vật, hiện tượng Điều này là chưa đủ Nếu muốn hiểu bản chất của sự vật thì ta phải nắm được một cách tương đối trọn vẹn sự vật Vì vậy, nhận thức phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn
Tri giác là tổng hợp của nhiều cảm giác về sự vật Nó là kết quả của sự
tác động trực tiếp của sự vật, hiện tượng lên nhiều giác quan của con người một cách đồng thời So với cảm giác, tri giác là hình thức cao hơn của nhận thức cảm tính, đem lại cho chúng ta tri thức về sự vật đầy đủ hơn, phong phú hơn Tuy nhiên, tri giác chỉ phản ánh thuộc tính bề ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào Do vậy, nhận thức cần phải vươn lên hình thức nhận thức cao hơn nữa
Trang 8Biểu tượng là hình ảnh tương đối hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng còn
lưu lại trong bộ óc của con người khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan của con người
Như vậy, giai đoạn nhận thức cảm tính phản ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức Tuy nhiên, giai đoạn nhận thức này chỉ phản ánh được vẻ bề ngoài của sự vật, hiện tượng
2.4.2 Tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính)
Tư duy trừu tượng là đặc trưng của giai đoạn nhận thức lý tính Đây là
giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng những thuộc tính, những đặc điểm, bản chất của sự vật, hiện tượng
Nhận thức lý tính được thể hiện với ba hình thức: khái niệm, phán
đoán và suy luận.
Khái niệm là hình thức cơ bản của tư duy trừu tượng, phản ánh khái quát,
gián tiếp một hoặc một số thuộc tính chung có tính bản chất nào đó của một nhóm sự vật, hiện tượng được biểu thị bằng một từ hoặc một cụm từ Các khái niệm vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan, vừa có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, vừa thường xuyên vận động và phát triển Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong nhận thức, là cơ sở để hình thành, các phán đoán
và tư duy khoa học Trong đó, phán đoán là hình thức của tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau để khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của đối tượng
Suy luận là hình thức của tư duy trừu tượng, xuất phát từ một hoặc nhiều
phán đoán làm tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận Nói cách khác, suy luận là quá trình đi đến một phán đoán mới từ những phán đoán tiên đề Có hai
loại suy luận là: suy luận diễn dịch và suy luận quy nạp Suy luận diễn dịch là
loại hình suy luận trong đó từ tiền đề là tri thức chung cho cả lớp đối tượng, người ta cụ thể hóa tri thức cho từng đối tượng, tức tư duy vận động từ cái chung đến cái đơn nhất Ngược lại, suy luận quy nạp là loại hình suy luận mà
trong đó từ tiền đề là những tri thức về riêng từng đối tượng, người ta khái quát thành tri thức chung cho cả lớp đối tượng, tức là tư duy vận động từ cái đơn nhất đến cái chung, cái phổ biến
Có thể nói, toàn bộ khoa học được xây dựng trên hệ thống suy luận và nhờ có suy luận mà con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan
Trang 92.4.3 Mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính với thực tiễn
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính diễn ra đan xen vào nhau trong
một quá trình nhận thức, song có nhiệm vụ và chức năng khác nhau Nếu nhận thức cảm tính gắn liền với hoạt động thực tiễn, với sự tác động của khách thể cảm tính, là cơ sở cho nhận thức lý tính thì nhận thức lý tính cho ta hiểu biết về bản chất, quy luật vận động và phát triển sinh động của sự vật Nếu nhận thức chỉ dừng lại ở nhận thức lý tính thì con người mới chỉ có được những tri thức
về đối tượng, còn bản thân tri thức có thật hay không thì chưa khẳng định được Muốn khẳng định, nhận thức phải trở về với thực tiễn, dùng thực tiễn làm tiêu chuẩn
Như vậy, để nhận thức đúng đắn, con người phải tuân theo quy luật mà
Lenin đã vạch ra: trực quan sinh động – tư duy trừu tượng – thực tế.
Bên cạnh đó, cần chống chủ nghĩa duy cảm (tuyệt đối hóa cảm tính), chủ nghĩa duy lý (tuyệt đối hóa lý tính) và phủ nhận mối quan hệ của chúng với hiện thực
2.5 Chân lý
2.5.1 Khái niệm
Theo triết học Marx - Lenin, chân lý là tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Quan niệm như vậy có ý nghĩa xác định chân lý là sản phẩm của quá trình nhận thức.
2.5.2 Các tính chất của chân lý
Chân lý có tính khách quan, tính cụ thể, tính tương đối và tính tuyệt đối Tính khách quan của chân lý biểu hiện nội dung phản ánh của chân lý độc
lập với ý thức của con người, không phải là sản phẩm thuần túy chủ quan Luận điểm “Trái Đất quay xung quanh mặt trời” là một chân lý bởi vì nội dung luận điểm đó phản ánh đúng hiện thực Trái Đất quay xung quanh mặt trời và hiện thực này tồn tại độc lập với ý thức của con người
Tính cụ thể Không có chân lý trừu tượng, chung chung Chân lý luôn cụ
thể Bởi lẽ, chân lý là tri thức phản ánh đúng hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm Chính vì vậy, chân lý luôn phản ánh sự vật, hiện tượng ở trong một điều kiện cụ thể với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong một không gian và thời gian xác định Thoát ly những điều kiện cụ thể này, chân lý sẽ không phản ánh đúng đắn sự vật
Trang 10Tính tương đối của chân lý thể hiện ở chỗ những tri thức của chân lý đúng
nhưng chưa hoàn toàn đầy đủ, nó mới phản ánh đúng một mặt, một bộ phận nào
đó của hiện thực khách quan trong những điều kiện giới hạn xác định Tương đối ở đây là do điều kiện lịch sử chế ước, chứ không phải là phản ánh sai
Tính tuyệt đối của chân lý thể hiện ở chỗ những tri thức của chân lý phản
ánh đầy đủ, toàn diện hiện thực khách quan ở một giai đoạn lịch sử cụ thể xác định Con người ngày càng tiến gần đến chân lý tuyệt đối chứ không thể đạt chân lý tuyệt đối một cách trọn vẹn, toàn diện hiện thực khách quan ở một giai đoạn lịch sử cụ thể xác định Nhận thức chân lý tuyệt đối phải thông qua một loạt các chân lý tương đối Sự phân biệt giữa tính tương đối và tuyệt đối của chân lý cũng chỉ là tương đối Đường ranh giới này có thể vượt qua được Trong hoạt động thực tiễn, cần chống lại cả hai khuynh hướng, hoặc cường điệu hóa tính tuyệt đối, phủ nhận tính tương đối của chân lý, hoặc tuyệt đối hóa tính tương đối từ đó phủ nhận tính khách quan của chân lý
Các tính chất của chân lý có quan hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Thiếu một trong các tính chất đó thì những tri thức đạt được trong quá trình nhận thức không thể có giá trị đối với đời sống của con người