1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Kinh tế chính trị về vấn đề tiền công và liên hệ thực tế tại Việt Nam (8 điểm)

18 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 763,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN Đề tài:Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin về tiền công và liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam Hà Nội, 04/2022 MỤC LỤC A. LỜI MỞ ĐẦU: 4 B. NỘI DUNG: 5 Chương 1: Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về tiền công: 5 1.1 Các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển bàn về tiền công: 5 1.2 Bản chất của tiền công dưới cái nhìn của C. Mac: 6 1.3 Phân biệt tiền công tính theo thời gian và tính theo sản phẩm: 8 1.3.1 Tiền công tính theo thời gian: 8 1.3.2 Tiền công tính theo sản phẩm: 8 1.4 Phân biệt tiền công danh nghĩa và thực tế: 9 1.4.1 Tiền công danh nghĩa: 9 1.4.2 Tiền công thực tế: 9 1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền công: 10 1.5.1 Nhân tố thị trường lao động: Quan hệ cung- cầu lao động. 10 1.5.2 Nhân tố môi trường doanh nghiệp: 10 1.5.3 Nhân tố người lao động: 11 1.5.4 Nhân tố giá trị công việc: 11 1.5.5 Nhân tố khác: 11 Chương 2: Liên hệ với thực tiễn tiền công ở Việt Nam: 11 2.1 Mức lương cơ sở (mức lương tối thiểu) vùng đang được áp dụng ở Hà Nội năm 2021: 11 2.1.1 Mức lương cơ sở: 11 2.1.2 Mức lương cơ sở vùng đang được áp dụng ở Hà Nội năm 2021: 12 2.2 Tình hình chi tiết mức lương năm 2021 của người lao động thành phố Hà Nội: 12 2.3 Thang bảng lương 2021: 13 2.3.1 Quy tắc xây dựng thang bảng lương năm 2021: 13 2.3.2 Thang bảng lương năm 2021: 14 2.4 Đánh giá tổng quan: 15 2.4.1 Ưu điểm: 15 2.4.2 Nhược điểm: 15 Chương 3: Kết luận: 16 C. Danh sách tài liệu tham khảo: 17

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

*********************

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

liên hệ với thực tiễn ở Việt Nam.

Hà Nội, 04/2022

Trang 2

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU: 4

B NỘI DUNG: 5

Chương 1: Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về tiền công: 5

1.1 Các nhà kinh tế chính trị học tư sản cổ điển bàn về tiền công: 5

1.2 Bản chất của tiền công dưới cái nhìn của C Mac: 6

1.3 Phân biệt tiền công tính theo thời gian và tính theo sản phẩm: 8

1.3.1 Tiền công tính theo thời gian: 8

1.3.2 Tiền công tính theo sản phẩm: 8

1.4 Phân biệt tiền công danh nghĩa và thực tế: 9

1.4.1 Tiền công danh nghĩa: 9

1.4.2 Tiền công thực tế: 9

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền công: 10

1.5.1 Nhân tố thị trường lao động: Quan hệ cung- cầu lao động 10

1.5.2 Nhân tố môi trường doanh nghiệp: 10

1.5.3 Nhân tố người lao động: 11

1.5.4 Nhân tố giá trị công việc: 11

1.5.5 Nhân tố khác: 11

Chương 2: Liên hệ với thực tiễn tiền công ở Việt Nam: 11

2.1 Mức lương cơ sở (mức lương tối thiểu) vùng đang được áp dụng ở Hà Nội năm 2021: 11

2.1.1 Mức lương cơ sở: 11

2.1.2 Mức lương cơ sở vùng đang được áp dụng ở Hà Nội năm 2021: 12

Trang 3

2.2 Tình hình chi tiết mức lương năm 2021 của người lao động thành phố

Hà Nội: 12

2.3 Thang bảng lương 2021: 13

2.3.1 Quy tắc xây dựng thang bảng lương năm 2021: 13

2.3.2 Thang bảng lương năm 2021: 14

2.4 Đánh giá tổng quan: 15

2.4.1 Ưu điểm: 15

2.4.2 Nhược điểm: 15

Chương 3: Kết luận: 16

C Danh sách tài liệu tham khảo: 18

Trang 4

A LỜI MỞ ĐẦU:

Con người rất cần động lực của sự phát triển Một trong những tác nhân then chốt để hiện thực hóa cơ hội phát triển của nhân loại là lợi ích cho kinh tế: tiền lương, tiền công và thu nhập Vấn đề về tiền công luôn là một vấn đề thiết yếu và quan trọng, vì tiền công được xem là giá cả của sức lao động, luôn gắn liền với các phương thức sản xuất và các hình thức kinh tế khác nhau Đặc biệt khi xét trong chủ nghĩa tư bản, tiền lương là phương tiện phản ánh bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản

Xu hướng hội nhập đã tạo được nhiều lợi ích khác nhau cho toàn Thế giới, không chỉ cho sự phát triển nhanh chóng của nước ta Những ích lợi này không thể tránh khỏi nhiều khó khăn, bao gồm: Mức sống người dân còn thấp, mỗi cá nhân chi tiêu chỉ hơn 1.540 USD/năm Sánh với quốc tế, thu nhập còn thấp Bên cạnh đó, lạm phát vẫn tồn tại, mức sống, mức tiêu dùng và tiền lương mà người lao động thu về còn rất thấp so với mặt bằng chung giá thị trường thời điểm gần đây Điều này gây

ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế và làm chậm rõ rệt sự phát triển nền kinh tế Việt Nam Ngoài ra, ngày càng nhiều công ty ngoại quốc đầu tư vào nước ta Để thu hút nhân lực có trình độ, những người có thẩm quyền không ngại đưa ra các chính sách tiền lương hợp lí, hấp dẫn, điều đó gây khó khăn nghiêm trọng cho hợp đồng lao động của các công ty trong nước Lương không được cao cũng là tác nhân dẫn đến vấn nạn chảy máu chất xám của đất nước trong thời gian qua, khiến Đảng và Nhà nước phải đau đầu Trước tình hình đó, nhằm đáp ứng điều kiện và hoàn cảnh kinh

tế - xã hội của đất nước

Trong tình hình chung của thế giới, các Đảng, các Nhà nước không ngừng thay đổi và ban hành các quy định mới về tiền lương, tiền công Chính sách tiền lương, tiền công phù hợp sẽ là điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập và phát triển kinh

tế của một đất nước Chính vì lẽ đó, việc phân tích và làm rõ vấn đề “mối quan hệ

giữa tiền công và thực tiễn ở Việt Nam” là vô cùng quan trọng và cần thiết Từ đó,

giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề này và tìm cách cải thiện mức độ tiền công Tuy nhiên, do sự hiểu biết còn hạn chế nên em chỉ xin đóng góp một phần nhỏ suy nghĩ của mình Bài viết còn có rất nhiều sai sót, em kính mong cô giúp đỡ em hoàn thành bài viết tốt hơn

Chân thành cảm ơn cô!

Trang 5

B NỘI DUNG:

Chương 1: Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về tiền công:

1.1 Các nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển nói về tiền công:

Trong lịch sử các học thuyết về kinh tế chính trị, C.Mác không phải là người đầu tiên nghiên cứu về tiền lương trong chủ nghĩa tư bản (CNTB) Lý thuyết tiền lương đã được các nhà kinh tế học nghiên cứu từ lâu Cá nhân đầu tiên phải kể đến

là W Petty, người lấy lý thuyết giá trị làm nền tảng cho lý thuyết tiền lương Ông định nghĩa tiền lương là mức tối thiểu cần thiết cho sự sống của người lao động Petty cho rằng: tiền lương tỉ lệ nghịch với giá trị nhu yếu phẩm (trái với C Mác sau này: tiền lương tỉ lệ nghịch với giá trị sức lao động) Ông là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho học thuyết "quy luật sắt về tiền lương" Theo W Petty viết: tiền lương không được vượt quá mức tối thiểu cần thiết để sống, khi lương cao người lao động không muốn làm việc; Vì vậy, để người lao động có thể tích cực làm việc thì việc giảm lương xuống mức tối thiểu là một biện pháp Ông chỉ trích ý tưởng tăng lương quá nhiều Vì vậy, trong khi vẫn còn sai lầm, ông đã khẳng định rằng cơ sở khoa học của tiền lương là giá trị của tư liệu sinh hoạt

Sau W Petty, A.Smith, nhà kinh tế học tư sản cổ điển người Anh đã dành nhiều công sức vào việc nghiên cứu tiền lương Hai quan điểm của ông về tiền lương: Một, tiền lương ngang với sản phẩm của lao động; Hai, tiền lương là sản phẩm của người lao động, do sức lao động của người lao động tạo ra Coi tiền lương là sản phẩm của lao động cũng là coi tiền lương là giá cả của sức lao động.Trái ngược với

ý kiến của W Petty, Smith cho rằng càng nhiều công nhân thì càng được trả lương tốt hơn, trong khi chủ muốn trả càng thấp càng tốt; Không thể cắt giảm tiền lương vượt quá một giới hạn nhất định vì người lao động khó có thể kiếm sống từ công việc của họ Ông chủ trương lương cao, lương cao làm tăng sự thịnh vượng và cũng kéo theo sự gia tăng dân số Tiền lương của công nhân thuộc tầng lớp thấp hơn được xác định bởi hai yếu tố, lượng cầu lao động và giá lương thực bình dân hoặc trung bình Tiền lương chịu ảnh hưởng của nhân khẩu học và quy mô vốn quyết định tiền lương.Ông cũng là người đã nêu ra được sự khác nhau của tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa ( giá tiền và giá sức lao động thực tế)

Ricardo, nhà kinh tế học tư sản cổ điển người Anh, đã có nhiều đóng góp cho lý thuyết tiền lương, tiếp thu và phê phán các quan điểm của W Petty và A Smith Ông đã đi đến những kết luận quan trọng về sự đối kháng giữa tiền lương và lợi nhuận và thừa nhận quy luật tư bản: “năng suất tăng, tiền lương giảm và lợi nhuận

Trang 6

sẽ tăng” Tiền lương thực tế được ông phân tích và định nghĩa nó là một phạm trù kinh tế mà: “Lượng hàng hoá mà người lao động mua được bằng tiền công không thể quyết định địa vị xã hội của anh ta” Ricardo cho rằng: “Tiền lương cao sẽ kéo theo sự gia tăng dân số nhanh chóng, dẫn đến cung lao động vượt cầu, làm giảm tiền lương và hạ thấp mức sống của người lao động”

Như vậy có thể thấy, học thuyết tiền lương trước C.Mác đã được nhiều nhà kinh

tế học nghiên cứu nhưng quan điểm của họ chưa làm rõ bản chất của tiền lương,

cơ sở khoa học còn chủ quan xa rời thực tế Không hiểu bản chất của tiền lương, các

lý thuyết của họ về tiền lương không phản ánh đúng bản chất của kinh tế tư bản chủ nghĩa và bản chất của sản xuất hàng hoá

1.2 Bản chất của tiền công dưới cái nhìn của C Mac:

Có thể nói, lý thuyết tiền công của C Mac đã tiếp nối những tiêu chí quan trọng

và cần thiết của lý thuyết tiền lương các nhà kinh tế học cổ điển thời kỳ đầu Lý thuyết tiền công của C Mac chỉ ra rằng trong chủ nghĩa tư bản, tiền công có bản chất được ngụy trang dưới dạng giá cả của sức lao động

Lý thuyết tiền lương được Marx thể hiện trong Tập 1 của bộ sách “Tư bản”, Phần 6 (Chương XVII-Chương XX) Lý do trình bày lý thuyết tiền lương sau khi học xong giá trị thặng dư như sau: “Giá trị thặng dư kết tinh trong quá trình sản xuất

và được tiêu hao bằng sức lao động trừu tượng của những người làm công ăn lương

do nhà tư bản đặt ra Vì hai yếu tố sản xuất và lao động tách rời nhau Để sản xuất diễn ra phải dựa trên cơ sở mua bán hàng hoá và sức lao động Nhưng về mặt xã hội, giá cả của lao động mới được xem là tiền lương chứ không phải là giá của sức lao động Vì vậy, việc làm rõ tiền lương là biểu hiện và hình thức chuyển hoá của giá trị sức lao động là vô cùng cần thiết Từ đó, việc phân tích tiền lương năm phải bắt đầu bằng việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa lý luận giá trị sức lao động với

lý luận giá cả sức lao động và phạm trù giá cả của lao động.”

Theo ông, thực chất tiền công dưới chủ nghĩa tư bản là phản ánh bằng tiền của giá trị sức lao động hàng hóa Theo C Mác: "Trên bề mặt của xã hội tư sản, tiền lương của công nhân được biểu hiện bằng giá cả sức lao động, bằng một số tiền cụ thể được trả cho một lượng sức lao động cụ thể."

Người lao động làm việc cho nhà tư bản trong một thời gian nhất định thì được nhận một khoản thù lao nhất định Mức tiền công phụ thuộc nhiều hay ít vào số giờ làm việc hoặc số lượng và chất lượng sản phẩm sản xuất ra Hiện tượng này khiến mọi người hiểu nhầm rằng tiền lương là giá cả của công việc

Trang 7

Sự thật là tiền công không phải là giá trị cũng không phải là giá cả của công việc Đối với sức lao động không phải là hàng hóa hay vật có thể mua và bán.Vì sức lao động là toàn bộ khả năng lao động thể chất hoặc trí óc tiềm tàng ở một người bình thường Sức lao động là quá trình sử dụng sức lao động đó một cách cụ thể để tạo ra giá trị sử dụng cụ thể Cho nên:

Một: nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước, phải được vật hoá trong một hình thức cụ thể nào đó Tiền để cho lao động có thể “vật hoá” được chính là phải

có tư liệu sản xuất Nhưng nếu người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ bán hàng hoá do chính họ sản xuất, chứ không bán “lao động” của mình Người lao động không thể bán cái mình không có Mặt khác, nhà tư bản mua hàng hóa sức lao động bởi vì: nhà tư bản chỉ trả tiền công cho công nhân sau khi công nhân đã hao phí sức lao động của mình để sản xuất ra hàng hoá

Hai: việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn cơ bản về lý luận sau đây: Nếu lao động là hàng hoá và được trao đổi ngang giá, thì nhà

tư bản không thu được giá trị thặng dư - dẫn đến phủ nhận sự tồn tại thực tế của quy luật giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản Còn nếu hàng hoá trao đổi không ngang giá để tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật của giá trị Ba: nếu lao động là hàng hoá thì hàng hoá đó cũng phải có giá trị của nó Tuy nhiên, thước đo nội tại của giá trị là lao động Như vậy, giá trị của lao động được đo bằng lao động, đó là sự luẩn quẩn vô nghĩa Lao động không phải là hàng hoá, cái

mà người lao động bán và nhà tư bản mua không phải là lao động mà chính là sức lao động Do đó, tiền công mà nhà tư bản trả cho người lao động chính là giá cả của sức lao động, chứ không phải giá cả của lao động

Tuy nhiên, trong các xã hội tư bản, người ta dễ cho rằng tiền công xuất hiện với

tư cách là giá cả cho lao động, làm lu mờ mối quan hệ bóc lột giữa nhà tư bản và lao động làm công ăn lương tại vì:

Nhìn bề ngoài, tiền lương là giá cả của lao động, do người lao động chỉ nhận tiền lương sau khi đã lao động (kết hợp sức lao động và tư liệu sản xuất của nhà tư bản), để tạo ra một giá trị sử dụng có chứa giá trị mới tăng thêm cho nhà tư bản Mặt khác, đó là số tiền công mà nhà tư bản trả cho công nhân theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng); hoặc theo số lượng, chất lượng hàng hoá mà người công nhân sản xuất

ra Từ đó nhìn bề ngoài dường như toàn bộ lao động mà công nhân đã hao phí đều được nhà tư bản trả công đầy đủ chứ không có sự bóc lột

Nhưng trên thực tế, sức lao động không phải là hàng hóa, nên tiền lương không phải là giá trị hay giá cả của sức lao động Tức là nó không có giá trị nội tại Hơn

Trang 8

nữa, đó là lao động mà nhà tư bản mua của công nhân chứ không phải sức lao động Bởi vì lao động chỉ xảy ra sau khi mua bán giữa hai bên nhà tư bản và công nhân Ngoài ra, lực lượng lao động được mua và bán bằng tín dụng Đặc điểm của lực lượng lao động hàng hoá là không bao giờ tách rời người bán và chỉ nhận được giá

cả nếu người mua đã tạo ra giá trị sẵn có Nói cách khác, bạn chỉ có thể nhìn bề ngoài giá trị thanh toán của tác phẩm Mặt khác, làm việc toàn thời gian là một cách gần như tự nhiên để người lao động kiếm sống Do đó, chính người lao động cũng tưởng rằng mình đã bán sức lao động Và đối với các nhà tư bản, tiền được sử dụng

để có được việc làm, vì vậy họ cũng nghĩ rằng họ đang mua việc làm Đồng thời, do cách trả lương mà người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá cả của công việc

Rõ ràng tiền công đã che đậy mọi dấu vết của sự phân chia thời gian ngày lao động thành thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư; lao động được trả công và lao động không được trả công; theo đó đã che đậy quan hệ bóc lột của tư bản và lao động

 Vậy, trong chủ nghĩa tư bản bản chất của tiền công là hình thức phản ánh giá

trị sức lao động, hay giá cả của sức lao động nhưng lại biểu hiện ra bề ngoài thành giá cả của lao động

1.3 Phân biệt tiền công tính theo thời gian và tính theo sản phẩm:

1.3.1 Tiền công tính theo thời gian:

Tiền công mà có tính chất ít/ nhiều tuỳ theo thời gian lao động của công nhân (tính theo giờ, ngày, tháng, quý…) dài hay ngắn có thuật ngữ chuyên ngành là tiền công theo thời gian

Cần phải phân biệt giữa công việc hàng giờ, hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng Tuy có thể vẫn chưa rõ lương cao hay thấp bởi lương hàng ngày và hàng tuần phụ thuộc vào thời gian làm việc của ngày làm việc dài hay ngắn Tuy vậy, nó không chỉ dựa trên mức lương hàng ngày mà còn dựa trên số ngày công nhất định, thời gian tối thiểu của ngày làm việc và cường độ quá trình làm việc để có thể ước tính chính xác mức lương phù hợp với công sức của người lao động Thước đo chính xác tiền lương theo thời gian có thể xem như là giá của giờ làm việc

1.3.2 Tiền công tính theo sản phẩm:

Tiền công mà có số lượng nhiều hay ít bị phụ thuộc vào số lượng sản phẩm hay

số lượng bộ phận sản phẩm mà công nhân đã sản xuất ra hoặc là số lượng công việc

mà công nhân đó đã hoàn thành sẽ được gọi là tiền công tính theo sản phẩm

Trang 9

Mỗi sản phẩm khác nhau sẽ được thanh toán theo một mức giá cụ thể nhất định

Vì đơn giá tiền lương được xác định bằng thương số giữa tiền lương bình quân của một công nhân trong một ngày và sản lượng bình quân mà một công nhân sản xuất ngày đó, nên đơn giá tiền lương đó về cơ bản được trả tại thời điểm sản xuất các loại tiền công được nhắc đến ở trên Chính vì vậy, tiền lương tính bằng sản phẩm là hình thức quy đổi của tiền lương theo giờ Mặt khác, việc tính tiền công cho từng sản phẩm giúp cho nhà tư bản dễ dàng quản lý và theo dõi quá trình lao động của công nhân Ngoài ra còn khuyến khích người lao động tích cực, khẩn trương sản xuất nhiều sản phẩm, tăng thêm năng suất cho doanh nghiệp để tăng được mức lương ban đầu của người lao động

1.4 Phân biệt tiền công danh nghĩa và thực tế:

1.4.1 Tiền công danh nghĩa:

Số tiền mà những người lao động nhận được do bán sức lao động của mình cho các nhà tư bản chính là tiền công danh nghĩa Chúng được sử dụng để tái sản xuất sức lao động nên phải được chuyển hóa thành tiền công thực tế

1.4.2 Tiền công thực tế:

Tiền công mà được biểu hiện bởi số lượng hàng hóa tiêu dùng cũng như dịch vụ thiết yếu mà những người lao động mua được bằng tiền công danh nghĩa của họ thì chính là tiền công thực tế

Tiền là giá cả của sức lao động, vì vậy sự vận động của nó gắn liền với sự thay đổi giá trị của sức lao động Các nhân tố có tác động ngược chiều nhau có thể tác động rất lớn đến giá trị của sức lao động Các yếu tố làm tăng giá trị của lực lượng lao động,có một số ví dụ như: chú trọng vào trình độ chuyên môn của ngườ lao động, cường độ lao động ngày càng cao, nhu cầu thiết yếu ngày càng nhiều cùng với

sự phát triển của xã hội Năng suất lao động tăng cũng là một yếu tố làm giảm giá trị sức lao động và cũng làm cho giá cả hàng hóa tiêu dùng của người dân giảm xuống Sự tác động qua lại và song hành nhau của các yếu tố này dẫn đến quá trình biến đổi phức tạp của giá trị sức lao động và từ đó dẫn đến sự biến đổi phức tạp của tiền công trong thực tế

Trang 10

Tuy nhiên, Marx chỉ ra rằng xu hướng chung của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là tăng tiền lương bình quân mà là giảm nó xuống Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, tiền lương danh nghĩa có xu hướng tăng lên, nhưng thường không đi đôi với sự tăng giá của hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng; Đồng thời, thất nghiệp là một hiện tượng thường xuyên, làm cho cung lao động được trả công vượt quá cầu, cho phép nhà tư bản mua sức lao động dưới giá trị của nó Từ những điều đó, tiền lương thực tế của giai cấp công nhân có xu hướng giảm xuống

Nhưng trên thực tế, xu hướng về việc cắt giảm quy mô hàng hóa không qus ảnh hưởng trên cục diện chung, vì có những yếu tố phản đối việc cắt giảm quy mô Một mặt, đó là cuộc đấu tranh đòi tăng lương của giai cấp công nhân Mặt khác, do tác động của cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt ở trong điều kiện tư bản chủ nghĩa hiện nay – sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, các nhu cầu ngày càng lớn về lao động trình độ cao đã buộc giai cấp tư sản phải cải tiến và tổ chức lực lượng lao động một cách toàn diện và khoa học, vì quyền lợi vật chất được coi là nghĩa vụ để kích thích

nó Nó cũng là một trở ngại cho xu hướng giảm giá của cổ phiếu

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền công:

1.5.1 Nhân tố thị trường lao động: Quan hệ cơ bản là cung- cầu lao động Tương quan cung cầu lao động trong các ngành công nghiệp không giống nhau Nhìn chung, các ngành sử dụng phần lớn lao động phổ thông có xu hướng cung lao động nhiều hơn cầu, do đó tiền lương trong các ngành đó luôn có xu hướng thấp hơn Ngược lại, những ngành sử dụng lao động trí óc thì phần lớn lại sử dụng lao động có trình độ tay nghề cao, cung lao động thường ít hơn cầu lao động nên tiền lương có xu hướng tăng Quan hệ cung cầu lao động cũng thay đổi ở các giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau

Ví dụ, khi nền kinh tế suy thoái, tiền lương có xu hướng giảm, và khi nền kinh

tế đang bùng nổ, tiền lương có xu hướng tăng khi đầu tư tăng và nhu cầu lao động tăng.Tỷ lệ cung cầu lao động cũng có sự khác biệt giữa các vùng miền đất nước và các nước có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên tiền lương cũng có sự khác biệt

1.5.2 Nhân tố môi trường doanh nghiệp:

Chính sách của Công ty: Khuyến khích làm việc để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và trực tiếp tăng thu nhập bằng cách áp dụng triệt để và phù hợp các chính sách như tiền lương, phụ cấp và chi phí Nó là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương

Ngày đăng: 18/06/2022, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w