58 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH THƯƠNG MẠI –ĐIỆN TỬ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4 0 2 1 Giới thiệu vài nét về trường ĐHCN TP HCM và ngành TMĐT của trường 2 1 1 Vài nét về Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh Tiền thân của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh là Trường Huấn nghiệp Gò Vấp do các tu sĩ dòng Don Bosco thành lập 11111956 tại xã Hạnh Thông, Quận Gò Vấp, Tỉnh Gia Định Trường được nâng cấp thành Trường.
Trang 1CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN NGÀNH
THƯƠNG MẠI –ĐIỆN TỬ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP 4.0
2.1.Giới thiệu vài nét về trường ĐHCN TP HCM và ngành TMĐT của trường
2.1.1.Vài nét về Trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
Tiền thân của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh là Trường Huấn nghiệp Gò Vấp do các tu sĩ dòng Don Bosco thành lập 11/11/1956 tại xã Hạnh Thông, Quận
Gò Vấp, Tỉnh Gia Định Trường được nâng cấp thành Trường Đại học Công nghiệp thành phố
Hồ Chí Minh theo quyết định số 214/2004/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ năm 2004 và Trường được Thủ tưởng Chính phủ phê duyệt thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động giai đoạn 2015-2017 theo quyết định số 902/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2015, bắt đầu thực hiện từ năm học 2015 - 2016 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh là một trong những cơ sở giáo dục đại học lớn tại Việt Nam
Hiện nay ngoài cơ sở chính tại 12, nguyễn Văn Bảo, phường 4, quận Gò Vấp, Tp Hồ Chí Minh, trường còn có 1 phân hiệu ở Quảng Ngãi và 1 cơ sở Tại Thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Với số lượng khoảng 40 ngàn sinh viên thuộc 18 khoa và 2 Viện: Khoa học Công nghệ & Quản lý Môi trường; Viện CNSH & Thực phẩm Đào tạo 35 ngành khác nhau cho thấy sự lớn mạnh về nhiều phương diện của một trường đại học đa ngành có chất lượng tại Việt Nam hiện nay
Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, tập thể lãnh đạo Nhà trường đã nắm bắt thời cơ, xác định Tầm nhìn - Sứ mạng - Mục tiêu từ nay đến 2020, tầm nhìn đến 2025 với
phương châm: “Đổi mới, nâng tầm cao mới - Năng động, hội nhập toàn cầu”
* Mục tiêu chiến lược
Xây dựng công nghệ quản lý hiện đại, hoàn thành cơ bản các điều kiện đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đóng góp cho xã hội, tạo ra giá trị thực tiễn và hiệu quả
từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế
Bên cạnh việc chú trọng nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ - giảng viên, đầu tư trang thiết bị tốt nhất cho giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, Nhà trường còn quan tâm tới việc cung cấp các dịch vụ đào tạo có chất lượng cao cho hàng chục ngàn sinh viên từ khắp mọi miền trong cả nước Sinh viên của Trường được trang bị năng lực ngoại ngữ
Trang 2và tin học cũng như các kiến thức bổ trợ: kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng làm chủ bản thân,
kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng làm việc nhóm, phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu khoa học Nhờ vào mối quan hệ gắn kết giữa Nhà trường và doanh nghiệp, sinh viên luôn
có cơ hội thực hành tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đặc biệt tại các công ty, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để tận mắt chứng kiến các công nghệ mới được ứng dụng trong sản xuất nhằm rèn luyện các kỹ năng thực tiễn và năng lực làm việc trong môi trường hiện đại [56]
2.1.2 Giới thiệu về khoa Thương mại – Du lịch
Khoa Thương mại du lịch trường ĐHCN TP HCM (Faculty of Trade and Tourism) được thành lập và đi vào hoạt động kể từ ngày 1/7/2005 theo quyết định số 428/QĐ-TCHC ký ngày 19/6/2005 bởi Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM Chức năng của khoa
là quản lý, tổ chức giảng dạy chuyên ngành Thương mại Du lịch cho hệ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trong trường và các hệ liên kết ngoài trường Ở thời điểm ban đầu khoa có đào tạo đại học 4 ngành: Kinh doanh quốc tế, Khách sạn, Nhà hàng, Lữ hành Hiện nay Khoa đào tạo
5 ngành: Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản trị khách sạn, Quản trị nhà hàng, Kinh doanh quốc tế, Thương mại điện tử với hơn 4.500 sinh viên theo học
Phương châm hoạt động của Khoa: “GẮN VIỆC HỌC LÝ THUYẾT VỚI THỰC TIỄN XÃ
HỘI”
2.1.2.1 Mục tiêu đào tạo
100% sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm phù hợp với ngành được đào tạo và thăng tiến trong tương lai
2.1.2.2 Chức năng - Nhiệm vụ
Khoa Thương mại du lịch trường ĐHCN TP HCM đào tạo 5 ngành: Quản trị dịch vụ
du lịch và lữ hành, Quản trị khách sạn, Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống, Kinh doanh quốc tế, Thương mại điện tử
Các ngành đào tạo cung cấp cho sinh viên kiến thức và kỹ năng chuyên môn cao, ngoại ngữ và tin học thông thạo, khả năng làm việc độc lập, tự học, tự nghiên cứu, sáng tạo, có sức khỏe, kỹ năng giao tiếp tốt và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các tổ chức tiếp nhận
Khoa Thương mại du lịch tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh viên:
- Cơ hội việc làm có thu nhập cao, thăng tiến chức vụ
- Trình độ ngoại ngữ cao, học tập kinh nghiệm quản lý của các chuyên gia và cán bộ quản lý cấp cao trong và ngoài nước
Trang 3- Có nơi thực hành nghiệp vụ khách sạn, nhà hàng, chế biến món ăn- thức uống, khu công nghiệp, công ty xuất nhập khẩu để nâng cao kỹ năng, kỹ xảo trong nghề nghiệp
2.1.2.3.Tầm nhìn, sứ mạng của khoa Thương mại – Du lịch
2.1.3 Giới thiệu về ngành Thương mại Điện tử
Ngày 30/12/2012: Bộ GD & ĐT quyết định chấp thuận việc thành lập ngành TMĐT của trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM Đại học Công nghiệp Tp.HCM và Đại học Thương mại Hà Nội là 2 trường đại học đầu tiên trong cả nước được phép đào tạo ngành TMĐT
Năm 2013 khoa TMDL trường Đại học Công Nghiệp Tp.HCM tuyển sinh khóa đại học đầu tiên trong cả nước ngành TMĐT Đến thời điểm tháng 11/2020, khoa TMDL đã tuyển sinh được 8 khóa đại học ngành TMĐT (DHTMDT 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16), tổng số sinh viên hiện là: 1.309 sinh viên (Trong đó, có 110 sv đang ở trạng thái "Thôi học")
Trang 4Tổng số sinh viên ngành TMDT đã tốt nghiệp (Từ Khóa 9): 335 sinh viên
*Mục tiêu đào tạo của ngành Thương mại điện tử là:
Sau 3-5 năm làm việc, sinh viên tốt nghiệp sẽ có khả năng:
- Mục tiêu 1: Áp dụng những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực Thương mại điện tử
- Mục tiêu 2: Sử dụng có hiệu quả kiến thức chuyên môn và chuyên sâu trong hoạt động
Thương mại điện
- Mục tiêu 3: Vận dụng thành thạo các kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng mềm để có thể làm
việc trong môi trường hiện đại, đa ngành và đa văn hóa
- Mục tiêu 4: Thực hiện ở mức độ cao đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và thể hiện
khả năng học tập suốt đời
Vị trí việc làm sau khi tốt nghiệp
Sau khi tốt nghiệp ngành Thương mại điện tử, sinh viên có thể dễ dàng ứng cử vào những công việc với mức lương hấp dẫn ở những vị trí sau:
- Chuyên gia marketing số;
- Chuyên gia thiết kế website và hệ thống giao dịch TMĐT cho những doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực thương mại điện tử;
- Chuyên gia bảo trì website và công nghệ thông tin cho doanh nghiệp liên quan đến hoạt động TMĐT;
- Chuyên gia phân tích dữ liệu cho doanh nghiệp TMĐT;
- Quản lý trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu trong kinh tế và quản lý;
- Trợ lý, thư ký cho các quản lý mọi cấp bậc trong doanh nghiệp;
- Chuyên viên trong các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại điện tử
tự học cho sinh viên trong thời kỳ công nghiệp 4.0
2.2.1.2 Nội dung nghiên cứu thực trạng
Đánh giá được thực trạng phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT, chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng và khảo nghiệm một số biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh
Trang 5viên ngành TMĐT, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0
2.2.2 Mẫu nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu thực trạng kỹ năng tự học và đưa ra biện pháp hữu hiệu phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT, trường Đại học Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0 Chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phiểu hỏi trên:
- 20 giảng viên dạy các môn ngành TMĐT thuộc 2 khoa Thương Mại - Du lịch và Công
nghệ thông tin
- 8 cán bộ quản lý ( 3 CB thuộc khoa TM-DL; 3 CB thuộc khoa CNTT; 2 CB Thư viện)
- 80 sinh viên hệ đại học năm nhất ngành TMĐT ( K16)
- 80 sinh viên hệ đại học năm 4 ngành TMĐT ( K13)
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.2.3.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Được thiết kế bới 3 mẫu:
- Mẫu 1: Khảo sát trên sinh viên
- Mẫu 2: Khảo sát trên giảng viên
- Mẫu 3: Khảo sát trên cán bộ quản lý
+ Mục đích thu thập thông tin điều tra về các đối tượng cần hỏi liên quan đến nội dung
đề tài
+ Các câu hỏi tập trung vào một số nội dung chính sau:
- Tầm quan trọng và sự cần thiết của kỹ năng tự học và phát triển kỹ năng tự học
- Mức độ quan trọng và mức độ nhận biết của kỹ năng tự học
- Mức độ thực hiện và kết quả phát triển của kỹ năng tự học
- Đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố tới sự phát triển kỹ năng tự học
- Các biện pháp phát triển kỹ năng tự học
+ Cách thức tiến hành điều tra qua bảng hỏi:
- Bước 1: Đọc tài liệu tham khảo, sau đó trao đổi với các đối tượng khảo sát
- Bước 2: Trao đổi trong nhóm và với chuyên gia để hình thành bảng hỏi
- Bước 3: Soạn bảng hỏi lần 1
- Bước 4: Lấy thêm ý kiến chuyên gia và điều tra thử trên mẫu nhỏ, kiểm tra độ tin cậy
- Bước 5: Chỉnh lý bảng hỏi và biên soạn chính thức
- Bước 6: Chọn mẫu điều tra chính thức
Trang 6- Bước 7: Tiến hành điều tra: Trước tiên tiến hành trao đổi cụ thể về mục tiêu của việc khảo sát để làm gì, giúp đối tượng hình dung được vấn đề và cách thực hiện, đề cao tính trung
thực của thông tin Sau đó mới phát phiếu điều tra
- Bước 8: Xử lý thông tin từ các bảng hỏi bằng phần mềm SPSS 23.0 và công thức tính giá
trị trung bình, độ lệch chuẩn, thống kê %
+ Ta sẽ dùng phần mềm SPSS để kiểm định ý nghĩa giá trị trung bình (Mean) của thang
đo sử dụng (thường là thang đo khoảng – interval scale)
+ Tính điểm trung bình theo công thức x n i. i
X
n
Trong đó X : là điểm trung bình, xi là điểm đạt được ở mức i, ni số lượt chọn của mức
i, n là tổng số lượt người tham gia chọn đánh giá về tính cấp thiết và tính khả thi của các nhóm biện pháp
Đối với các thang đo trong đề tài nghiên cứu được quy ước và ý nghĩa các giá trị như sau:
+ Với thang đo 2 mức độ:
- Khi đó giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (2-1)/2 = 0.5
- Chúng tôi quy ước mức điểm và tính điểm trung bình như sau:
+ Thang đo về 3 mức độ:
- Khi đó giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (3-1)/3 = 0.67
- Chúng tôi quy ước mức điểm và tính điểm trung bình như sau:
Mức độ Điểm quy gán Điểm trung bình
Không bao giờ/Không phù hợp 1 1.00 – 1.67
+ Thang đo 4 mức độ ảnh hưởng:
- Khi đó giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (4-1)/4 = 0.75
- Chúng tôi quy ước mức điểm và tính điểm trung bình như sau:
gán
Điểm trung bình
Rất cần thiết/Rất thường xuyên/Rất ảnh
Cần thiết/Thường xuyên/Ảnh hưởng/Khá/
Trang 7Ít cần thiết/Thỉnh thoảng/Ít ảnh hưởng/Trung bình/ Ít khả thi 2 1.76 – 2.51 Không cần thiết/Không bao giờ/Không
ảnh hưởng/Yếu/ Không khả thi 1 1.00 – 1.75
+ Với thang đo 5 mức độ:
- Khi đó giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum) / n = (5-1)/5 = 0.8
- Chúng tôi quy định mức điểm và tính điểm trung bình như sau:
Thông qua phần mềm SPSS ta tính được độ lệch chuẩn của giá trị trung bình
(Std.Deviation) Độ lệch chuẩn là mức độ dao động của các biến xung quanh giá trị trung bình
Trong đó:
x i là giá trị của điểm i trong tập dữ liệu
x̄ là giá trị của tập dữ liệu
n là tổng số quan sát trong tập dữ liệu
Giá trị x trung bình được tính bằng cách tổng tất cả các quan sát và chia cho số quan sát
Phương sai cho mỗi điểm dữ liệu được tính bằng cách trừ giá trị của quan sát với giá trị trung bình Kết quả sau đó được bình phương và được chia cho số quan sát trừ một Căn bậc hai của phương sai để tìm độ lệch chuẩn
Độ lệch chuẩn càng lớn thì quan điểm của người trả lời càng khác nhau, ngược lại độ
lệch chuẩn càng nhỏ cho thấy đáp viên trả lời các con số đáp án không chênh lệch nhau nhiều
2.2.3.2 Phương pháp trao đổi, trò chuyện theo chủ đề
- Mục đích: Chính xác hóa thêm số liệu điều tra ở trên ở một vài nội dung chuyên sâu
mà trong các câu hỏi điều tra không thể hiện hết được
Trang 8- Đối tượng trao đổi: Sinh viên, giảng viên, cán bộ quản lý khoa, doanh nghiệp, chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu
- Nội dung trao đổi: Tập trung vào các kỹ năng tự học liên quan đến kỹ năng nhận diện vấn đề tự học trong thời kỳ công nghiệp 4.0, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng độc lập, hợp tác trong làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp ngoài xã hội, các chuẩn đầu ra và yêu cầu của các doanh nghiệp sử dụng nhân lực TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.0
- Các bước tiến hành:
+ Bước 1: Xác định đối tượng để trao đổi, trò chuyện;
+ Bước 2: Thông báo cho đối tượng về nội dung, thời gian, địa điểm;
+ Bước 3: Tiến hành trao đổi, hỏi ý kiến về các nội dung cần hỏi;
+ Bước 4: Ghi chép, lưu trữ thông tin;
+ Bước 5: Xử lý các thông tin thu thập được sau trao đổi,trò chuyện
2.2.3.3 Phương pháp quan sát, phỏng vấn
- Mục đích của phương pháp:
Nhằm thu thập thêm những thông tin sâu về các nội dung nghiên cứu mà phương pháp bảng hỏi còn chưa rõ, thông qua dự giờ giảng viên; quan sát việc học tập trên lớp, hoạt
động ngoại khóa ngoài lớp, ngoài trường của sinh viên
- Đối tượng: Sinh viên TMĐT năm nhất và năm 4, giảng viên dạy TMĐT, cán bộ
quản lý khoa,
- Nội dung:
*Với phỏng vấn:
Nội dung phỏng vấn sẽ tập trung vào:
+ Vai trò người giảng viên đối với sự phát triển kỹ năng tự học
+ Thực trạng việc phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên TMĐT
+Yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT
+ Biện pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên TMĐT
+ Những đánh giá về sự cần thiết và tính khả thi của biện pháp phát triển kỹ năng tự
học cho sinh viên TMĐT
*Với dự giờ:
Nội dung dự giờ sẽ tập trung vào:
+ Khảo sát về thái độ, ý thức, thực trạng của các kỹ năng tự học trên lớp chủ yếu: Ghi chép, phản biện, giao tiếp và làm việc nhóm, sử dụng công nghệ trong học tập, tư duy
Trang 9sáng tạo, đổi mới PPDH của giảng viên, việc chọn và giao nội dung tự học, cách kiểm tra đánh giá việc tự học của sinh viên ở giảng viên, cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy học trên
lớp của nhà trường
- Cách tiến hành
*Với phỏng vấn:
+ Bước 1: Xác định đối tượng cần phỏng vấn
+ Bước 2: Thông báo trước cho đối tượng về nội dung, thời gian, địa điểm phỏng vấn + Bước 3: Tiến hành phỏng vấn theo các chủ đề đã chọn
+ Bước 4: Ghi chép, lưu trữ thông tin
+ Bước 5: Xử lý các thông tin thu thập được sau phỏng vấn
*Với dự giờ:
+ Bước 1: Chọn tiết, môn, giảng viên dự giờ
+ Bước 2: Báo cho giảng viên biết trước 1 tuần
+ Bước 3: Ghi chép thông tin dự giờ theo mẫu đã thiết kế
+ Bước 4: Xử lý thông tin sau khi dự giờ
2.3 Thực trạng phát triển kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT, trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp 4.0
2.3.1.Thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT trường ĐH Công nghiệp TP
Trang 10Biểu đồ 2.1: Nhận thức chung về tầm quan trọng, sự cần thiết của kỹ năng tự học đối với
sự phát triển bản thân và nghề nghiệp của sinh viên TMĐT
Từ biểu đồ 2.1 cho ta thấy 100% cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên nhận thức rõ ràng về vai trò của kỹ năng tự học là rất quan trọng, rất cần thiết đối với sinh viên ngành TMĐT trong bối cảnh hiện nay Từ đó sẽ ý thức tốt hơn trong học tập, rèn luyện để có được sự toàn diện trong về học vấn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, có được bản lĩnh trong sự cạnh tranh nghề nghiệp rất khốc liệt ở thời kỳ cách mạng 4.0.
Kết quả này cũng được kiểm chứng qua trao đổi, trò chuyện với giảng viên, sinh viên Khi được hỏi về tầm quan trọng và sự cần thiết của kỹ năng tự học với sinh viên tất cả ý kiến đều nhất trí là rất quan trọng và rất cần thiết
2.3.1.2 Mức độ quan trọng của kỹ năng tự học đối với sinh viên ngànhTMĐT
Để tìm hiểu nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng tự học đối với sinh viên TMĐT Chúng tôi đưa ra những kỹ năng cụ thể để sinh viên đánh giá qua 4 tiêu chí: Rất quan trọng, quan trọng, bình thường, không quan trọng Kết quả thể hiện ở bảng số liệu 2.1:
Bảng 2.1 Mức độ quan trọng của kỹ năng tự học đối với sự phát triển bản thân và nghề
nghiệp của sinh viên TMĐT
Mức độ quan trọng (%) ( SV năm 1)
Mức độ quan trọng (%) ( SV năm 4)
Rất Quan Bình Không Rất Quan Bình Không
Trang 11quan trọng
trọng thường Quan
trọng
quan trọng
Sự khác biệt lớn nhất giữa sinh viên năm 1 và năm 4 thể hiện ở:
+ Hình thành kỹ năng học tập suốt đời (Năm 1: 12,5% Rất quan trọng, 31,25% Quan trọng, 56,25% bình thường Trong khi đó SV năm 4: 68,75% rất quan trọng, 31,25% quan trọng, 0% bình thường)
+ Giúp bạn thuận lợi và tự tin khi xin việc: Năm nhất lần lượt là: 37,5% rất quan trọng, 18,75% quan trọng, 43,75% bình thường Trong khi SV năm 4 là: 81,25 %rất quan trọng, 18,75% quan trọng
+ Giúp bạn thích nghi tốt với yêu cầu ngày càng cao của tổ chức và xã hội: : Năm nhất lần lượt là: 25,00% rất quan trọng, 15,00% quan trọng, 60,00% bình thường Trong khi SV năm 4 là: 62,50% rất quan trọng, 37,50% quan trọng
- Các mức độ quan trọng lại tương đồng ở: Giúp bạn phát huy tính tích cực trong học tập và phát triển tư duy sáng tạo, giúp đạt kết quả cao trong học tập, nhớ lâu, sâu, mở rộng kiến thức
Trang 12Có sự khác biệt này chứng tỏ sinh viên năm nhất TMĐT mới nhập học, bước chân vào giảng đường đại học còn rất nhiều bỡ ngỡ, có nhiều điều mới lạ Mặt khác sinh viên năm nhất chưa nắm được cách học đại học khác xa nhiều so với cách học ở phổ thông, mặc dù kỹ năng
tự học của các em cũng đã hình thành và phát triển ở một mức độ nhất định Tuy nhiên, mục tiêu của sinh viên năm nhất vẫn tập trung vào là phải học tích cực để điểm cao, để hiểu biết nhiều, học sao cho nhớ nhanh Chủ yếu tập trung vào các kỹ năng tự học để có kiến thức Còn sinh viên năm 4 đã trải qua 3 năm học tập với rất nhiều môn khác nhau, nhất là được trải nghiệm thực tế ngoài doanh nghiệp, học các môn về chuyên ngành sâu nên ý thức rõ rệt và sâu sắc việc có được kỹ năng tự học có ảnh hưởng to lớn tới sự hình thành kỹ năng nghề nghiệp, giúp các em có nhiều cơ hội về xin việc làm cũng như tự tin khi đi xin việc, là nền tảng quan trọng để đi làm việc tại doanh nghiệp và giao tiếp xã hội thuận lợi, có kết quả cao Qua đó khẳng định chất lượng của ngành, trường đại học bạn đã chọn và khẳng định năng lực bản thân
có phù hợp với doanh nghiệp sử dụng TMĐT trong thời kỳ công nghiệp 4.0 và nhiều biến
động như hiện nay
Song song với kết quả điều tra trên, chúng tôi có trò chuyện, phỏng vấn thêm sinh viên năm nhất và năm 4 ngành TMĐT, các em nói lên rất nhiều suy nghĩ về tự học và kỹ năng tự học của bản thân khi vào học ở đại học Kết quả tương đồng với các số liệu điều tra Đặc biệt
là khi nói đến việc hình thành kỹ năng học tập suốt đời và giúp thích nghi với yêu cầu ngày càng cao của tổ chức và xã hội sinh viên năm nhất khá mơ hồ, nên cho là bình thường với tỷ lệ
còn cao( 56.25%; 60,00%)
2.3.1.3 Mức độ nhận biết về các kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT Trường
ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh
Để tìm hiểu nhận thức về kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT Chúng tôi đưa ra những kỹ năng cụ thể để sinh viên đánh giá về mức độ biết ở 4 tiêu chí: Biết rất nhiều, biết nhiều, biết ít, không biết Kết quả thể hiện ở bảng số liệu 2.2:
Bảng 2.2 Mức độ nhận biết về các kỹ năng tự học của sinh viên ngành TMĐT
STT CÁC KỸ NĂNG
Mức độ nhận thức ( SV năm 1)
Mức độ nhận thức ( SV năm 4)
Biết rất nhiều
(%)
Biết nhiều
(%)
Biết rất nhiều
(%)
Biết nhiều
Trang 13+ Mức không biết: Với sinh viên năm nhất ở các kỹ năng như: Kỹ năng tư duy sáng tạo
và phát triển các ý tưởng sáng tạo là 71,25%; Tự đánh giá kỹ năng tự học: 56,25%; Kỹ năng tự học ngoài lớp: 52,5%; Kỹ năng khai thác tài liệu học tập 45,00%; Kỹ năng lập kế hoạch đạt mục tiêu tự học: 35.00% Trong khi đó các chỉ số này ở sinh viên năm 4 là: Kỹ năng tư duy sáng tạo và phát triển các ý tưởng sáng tạo là 10,00%; Tự đánh giá kỹ năng tự học: 12,5%; Kỹ năng tự học ngoài lớp: 8,75%; Kỹ năng khai thác tài liệu học tập 7,5%; Kỹ năng lập kế hoạch đạt mục tiêu tự học: 16,25%
+ Với mức biết nhiều: Tỉ lệ thấp ở sinh viên năm nhất, thậm chí có vài kỹ năng không
được các em biết nhiều như: Kỹ năng tư duy sáng tạo và phát triển các ý tưởng sáng tạo; Kỹ năng lập kế hoạch đạt mục tiêu tự học Trong khi đó sinh viên năm 4 các kỹ năng này các em
nhận diện ở mức khá cao (43,75% và 32,5%)
+ Với mức biết rất nhiều: 100% sinh viên năm nhất cho rằng mình chưa thể có được,
với sinh viên năm 4 các chỉ số này khá cao và có ở tất cả 8 kỹ năng tự học cụ thể Trong đó kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm đạt mức 40%; Kỹ năng khai thác tài liệu học tập và kỹ năng
tự học trên lớp là 38, 75%; Kỹ năng tư duy sáng tạo và phát triển các ý tưởng sáng tạo 33,75%; Tự đánh giá kỹ năng tự học 32,5%
+ Với mức biết ít: Thể hiện sự chênh lệch khá lớn qua các kỹ năng cụ thể ở năm 1 và năm 4 Ví dụ như: Kỹ năng giao tiếp và làm việc nhóm 62,5% ở năm nhất; năm 4 là 15%; Kỹ năng tự học trên lớp 46,25% năm nhất, năm 4 là 13,75%
Sự khác biệt này theo chúng tôi là hợp lý với thời gian và quá trình thích nghi với môi trường đại học Sinh viên năm nhất còn có nhiều kỹ năng về tự học mơ hồ, tính cụ thể chưa
Trang 14cao Thứ nhất, sinh viên năm nhất còn học các môn chung, các em mới gia nhập môi trường học tập mới, chưa thể có nhiều trải nghiệm cũng như chưa định hình rõ về ngành TMĐT cũng như các kỹ năng tự học cần thiết phù hợp với ngành của mình đã chọn Thứ hai, sinh viên năm nhất chưa thích nghi với phương pháp dạy của giảng viên đại học, chưa tự tin trong giao tiếp, chưa hoạch định được các mục tiêu tự học rõ ràng, cần tự học những gì? Tự học bằng cách nào khi trên lớp, ngoài lớp? Làm thế nào để trình bày được những ý tưởng sáng tạo, ý tưởng mới trong học tập để Thầy Cô, bạn bè đánh giá được chính xác mình Điều đó còn rất hạn chế và gặp nhiều rào cản
Còn với sinh viên TMĐT năm 4, các em có nhiều trải nghiệm bằng sự đa dạng về: Số lượng môn học cơ sở chung, cơ sở ngành, chuyên sâu ngành TMĐT; được đi thực tế tại doanh nghiệp vài lần; đôi khi đi làm thêm vài năm; Cọ sát nhiều giảng viên ở những yêu cầu tự học
và phương pháp giảng dạy khác nhau; Trao đổi, gặp gỡ nhiều bạn bè cùng chuyên ngành, khác chuyên ngành.Rồi thất bại có, thành công có, lo lắng bất an cũng có, căng thẳng cũng có Chính điều đó đã tôi luyện và là môi trường giúp sinh viên năm 4 nhận diện rõ hơn về mức độ hiểu biết về các kỹ năng tự học cụ thể của mình
Khi trao đổi với sinh viên năm nhất về sự hiểu biết về kỹ năng tự học các em cũng cho rằng ở phổ thông không được nhà trường, thầy cô dạy cụ thể về tự học, chưa có chuyên đề hay tham gia hội thảo về tự học Khi lên đến đại học thì mới năm nhất cũng chưa được tập huấn gì thêm, lại mới tiếp cận môi trường học tập mới nên mọi hiểu biết về tự học đều do tự học và rút
ra từ thực tiễn học tập của cá nhân Còn sinh viên năm 4 cũng cho thấy rất ít có chuyên đề hay hội thảo về tự học, phần lớn các em tự học và rút ra từ thực tiễn trải nghiệm cá nhân
2.3.2 Thực trạng về sự phát triển kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh trong thời kỳ công nghiệp 4.0
Để đánh giá sự phát triển của kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT tại trường ĐH Công nghiệp TP Hồ Chí Minh chúng tôi khảo sát thực trạng từng kỹ năng tự học cụ thể qua các thang đo với ở các mức độ khác nhau Số liệu được xử lý trên phần mềm SPSS 23.0 và các công thức tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn nêu trên Kết quả thể hiện ở các bảng số liệu dưới đây
2.3.2.1 Kỹ năng xây dựng mục tiêu tự học
Mục tiêu là cái đích mà bạn muốn đạt được trong một khoảng thời gian nhất định về bất cứ một công việc nào đó Mục tiêu có thể hướng đến nhận thức, hành vi hoặc là một con số Kỹ
Trang 15năng xác định mục tiêu là khả năng con người có thể đưa ra những điều họ mong muốn đạt được trong khoảng thời gian nhất định và lập kế hoạch để đạt được nó
Mục tiêu tự học sinh viên TMĐT đặt ra có thể trong một khoảng thời gian dài, gọi là mục tiêu dài hạn Với mục tiêu tự học dài hạn, sinh viên TMĐT cũng có thể chia thành các giai đoạn ngắn hơn với những mục tiêu ngắn hạn Việc này giúp sinh viên TMĐT dễ dàng thực hiện mục tiêu tự học dài hạn cũng như biết mình đã đạt được bao nhiêu so với mục tiêu tự học dài hạn đã hoạch định
Kỹ năng xây dựng mục tiêu tự học không chỉ giúp sinh viên TMĐT định hướng cuộc sống mà còn là thước đo xem bạn có là người thành công hay không? Thêm vào đó nếu không
đề ra được những mục tiêu tự học cụ thể, sinh viên có thể không tìm ra hướng đi phù hợp trong quá trình học tập trên giảng đường, thiếu kết nối với bên ngoài, với doanh nghiệp Cơ hội việc làm tốt sẽ mất đi
Khảo sát kỹ năng xây dựng mục tiêu tự học của sinh viên TMĐT, chúng tôi thu được kết quả ở bảng 2.3 a và 2.3 b:
Bảng 2.3 a: Về mức độ và kết quả việc xây dựng mục tiêu tự học theo thời gian của sinh
độ thực hiện
Độ lệch chuẩn
ĐTB của kết quả thực hiện
Độ lệch chuẩn
ĐTB của mức
độ thực hiện
Độ lệch chuẩn
ĐTB của kết quả thực hiện
Độ lệch chuẩn
Từ bảng 2.3a cho thấy:
- Sinh viên năm nhất việc xây dựng mục tiêu tự học theo ngày, tuần, tháng rất không
thường xuyên ( ĐTB: 1.28-1.73) Mục tiêu toàn khóa đạt ở thỉnh thoảng ĐTB: 1.82 Trong
khi đó sinh viên năm 4 xây dựng mục tiêu tất cả các mốc thời gian đều chỉ ở mức thỉnh
thoảng ( ĐTB: 2.08-2.28)
Trang 16- Lý giải kết quả trên chúng tôi kết hợp trò chuyện với sinh viên Đa số sinh viên năm nhất mới nhập học còn nhiều bỡ ngỡ với môi trường sống, phương pháp học đại học khác lạ
so với phổ thông Sinh viên chưa hình dung được học ở đại học và sống xa nhà ở môi trường mới nhiều khó khăn đến vậy Do đó chưa biết cách xây dựng mục tiêu cụ thể theo một thời gian biểu hợp lý với yêu cầu mới, nên còn tự do, tùy thích
- Sinh viên năm 4 khá dạn dày với môi trường sống và học tập ở đại học Sự trải nghiệm nhiều kết hợp với yêu cầu chưa cao đối với bản thân nên cũng không quá coi trọng việc cần phải xây dựng thời gian biểu, mục tiêu cụ thể cho việc tự học của mình ở các giai đoạn khác nhau trong học tập các năm ở đại học
- Đánh giá về kết quả thực hiện các mục tiêu tự học của sinh viên năm 4 (ĐTB: 2.98) cao hơn hẳn sinh viên năm nhất (ĐTB: 1.58-2.45) Như vậy, sinh viên năm nhất tự
2.18-đánh giá kỹ năng xây dựng mục tiêu tự học còn yếu Sinh viên năm 4 tự 2.18-đánh giá đa số ở mức trung bình Riêng xây dựng mục tiêu tự học theo ngày vẫn yếu Kết quả khá hợp lý với thực tiễn khi trò chuyện và trao đổi với sinh viên Sinh viên cho rằng mục tiêu tự học theo ngày của sinh viên năm nhất và cả năm 4 đều dễ bị xáo trộn bởi nhiều yếu tố khách quan, bên cạnh đó thói quen tạo lập thời gian biểu cụ thể cho mục tiêu tự học đặt ra và phải đạt bằng được hầu như ít khi thực hiện được
-Xem xét độ lệch chuẩn cũng cho ta thấy có sự khác biệt rõ nét khi xây dựng mục tiêu
tự học theo năm và toàn khóa ở sinh viên năm 4 so với năm nhất Sự khác biệt này mang ý nghĩa nhất định trong việc đào tạo sinh viên TMĐT ở trường đại học
Xây dựng được mục tiêu cá nhân nói chung và xây dựng được những mục tiêu tự học nói riêng cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi cao không hề đơn giản đối với mọi người trong đó có
cả sinh viên Bản thân sinh viên nói chung và sinh viên TMĐT phải định vị bản thân tốt, từ đó mới đưa ra được những tiêu chí cụ thể, phù hợp bối cảnh xã hội, đặc điểm của đối tượng, phù hợp yêu cầu của nghề nghiệp trong thời kỳ công nghiệp 4.0 Vì vậy, chúng tôi khảo sát thêm mức độ mục tiêu tự học ở 2 tiêu chí: Rất rõ ràng và không rõ ràng Kết quả thu được bảng 2.3b:
Bảng 2.3b Mức độ rõ ràng về mục tiêu tự học của sinh viên TMĐT
( SV năm nhất)
Mức độ ( SV năm 4)
Rất rõ
ràng (%)
Không rõ
ràng (%)
1 Phù hợp với đặc điểm, khả năng của
Trang 17Theo nguyên tắc” SMART”
(Cụ thể; đo được; có thể đạt được;
thực tế; thời gian hoàn thành)
28,75 71,25 68,75 31,25
5 Phù hợp yêu cầu trong thời kỳ công
Từ bảng 2.3b có thể biểu diễn bằng biểu đồ:
Biểu đồ 2.2 Mức độ phù hợp về mục tiêu tự học của sinh viên ngành TMĐT
Từ bảng 2.3b và biểu đồ 2.2 chúng tôi thấy:
Mức độ nhận biết rất rõ ràng qua các tiêu chí khi xây dựng mục tiêu tự học của sinh
viên năm 4 cao hơn sinh viên năm 1 Đặc biệt ở tiêu chí:
+ Phù hợp với các tiêu chí của ngành TMĐT:SV năm 1: 43,75%; Sinh viên năm 4: 75,00%
+ Theo nguyên tắc” SMART”: SV năm 1: 28,75%; Sinh viên năm 4: 68,75%
+ Phù hợp yêu cầu của thời kỳ cách mạng 4.0: SV năm 1: 25,00%; Sinh viên năm 4:
81,25%
- Kết quả đó được lý giải như sau:
+ Sinh viên năm nhất:
*Môi trường học tập mới, nghề mới
Trang 18*Chưa nắm được nhiều yêu cầu đặc trưng của nghề TMĐT mà mình đã chọn Đôi khi còn khá mơ hồ về nghành TMĐT Vì vậy tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường đúng hạn chưa cao
* Chưa được học về lý thuyết về mục tiêu, kỹ năng xây dựng mục tiêu nói chung
* Chưa quan tâm đến thông tin liên quan đến cách mạng 4.0 chi phối đến việc làm liên quan đến TMĐT
*Mới học các môn chung cơ bản
+ Sinh viên năm 4:
* Học nhiều môn hướng dẫn về kỹ năng xây dựng mục tiêu, cách kiểm soát mục tiêu đã
- Đặc biệt khi trò chuyện, trao đổi và cả phỏng vấn một số sinh viên năm nhất hiểu biết
về sử dụng nguyên tắc ” SMART” trong xây dựng mục tiêu tự học hay hỏi về cách mạng
công nghiệp 4.0 Nhận thức của các em còn chưa thể hiện sự rõ ràng so với sinh viên năm 4
2.3.2.2 Về kỹ năng lập kế hoạch thực hiện mục tiêu tự học đã đặt ra
Thực tiễn cho thấy việc xây dựng mục tiêu tự học đã khó, việc lập kế hoạch cụ thể cho việc thực hiện các mục tiêu tự học đã xác lập còn khó khăn hơn rất nhiều Bởi vì đạt được các tiêu chí, chỉ số mong muốn theo đúng mốc thời gian thường phụ thuốc rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan Do vậy, kỹ năng lập kế hoạch cho mục tiêu tự học sẽ giúp sinh viên TMĐT chọn đúng phương pháp thực hiện mục tiêu, chọn đúng đối tác hỗ trợ, đo được kết quả theo từng mốc thời gian có thể điều chỉnh hành động phù hợp, thuận lợi cho ra kết quả tự học tốt Kết quả thể hiện ở bảng 2.4:
Bảng 2.4 Về mức độ và kết quả kỹ năng lập kế hoạch thực hiện mục tiêu tự học của sinh
viên TMĐT
ĐTB của mức
độ thực
Độ lệch chuẩn
ĐTB của kết quả thực
Độ lệch chuẩn
ĐTB của mức
độ thực
Độ lệch chuẩn
ĐTB của kết quả thực
Độ lệch chuẩn
Trang 19hiện hiện hiện hiện
4 Kế hoạch theo năm 1.42 0.61 1.91 0.78 2.65 1.11 3.01 1.40
5 Kế hoạch toàn khóa 1.45 0.50 1.80 0.77 2.75 0.90 3.67 1.19
- Với sinh viên TMĐT năm nhất kỹ năng lập kế hoạch để thực hiện mục tiêu tự học còn
yếu
- Với sinh viên TMĐT năm 4 đa số cũng chỉ đạt mức trung bình, chỉ có mốc kế hoạch
thực hiện toàn khóa là kết quả khá
Mức độ lập kế hoach thực hiện mục tiêu tự học đặt ra một cách rất thường xuyên đến không thường xuyên ở sinh viên năm 1 và năm 4 ngành TMĐT thể hiện sự khác biệt rất rõ ràng ở tất cả các loại kế hoạch theo mốc giai đoạn thời gian
- Điểm TB sinh viên năm 1 từ: 1.27 – 1.61 (Mức độ không thường xuyên)
- Điểm TB sinh viên năm 4 đa số lại từ: 2.57 – 2.86 (Mức thường xuyên)
Giải thích kết quả như trên là:
+ Sinh viên TMĐT năm 4 học nhiều môn chuyên ngành sâu, sự đòi hỏi chuẩn đầu ra của các môn chuyên ngành cũng như yêu cầu của giảng viên cao hơn rất nhiều Sinh viên phải đan xen giữa thời gian học tập, thời gian đi thực tế, thực hành Chủ yếu phải tự học nhiều hơn,
Trang 20tốc độ, cường độ giải quyết các bài tập chuyên ngành, các báo cáo thực tế, thực tập nhiều hơn Đây chính là lý do sinh viên TMĐT năm 4 buộc phải lập kế hoạch cụ thể và khả thi tốt hơn
+ Có một bộ phận sinh viên TMĐT đã nhận việc làm thêm bên ngoài, nên bố trí thời gian cần chính xác, cụ thể, chi tiết để có thể hoàn thành các mục tiêu tự học trong trường hiệu quả, ít ảnh hưởng đến việc ra trường, cũng như chất lượng tay nghề ngành TMĐT mà bạn đã chọn
+ Ngành TMĐT mà sinh viên chọn là ngành thay đổi cũng như phát triển rất nhanh, đồng thời nhu cầu của xã hội về ngành này chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố khách quan, do
đó nhận diện cần phải học những gì, học như thế nào trong suốt cả khóa đào tạo là yêu cầu rất cần thiết với sinh viên TMĐT Đây cũng là lý do để tiêu chí này với sinh viên năm 4 luôn là
mức cao nhất so với các tiêu chí mốc thời gian kế hoạch khác (kết quả loại Khá)
+ Xem xét ở độ lệch chuẩn cũng cho thấy sinh viên năm 4 do trải nghiệm và cọ sát thực
tiễn nhiều, các mục tiêu trong học tập ở năm cuối rất cụ thể và khá căng thẳng do tính chất của quá trình đào tạo cũng làm cho sinh viên có nhiều hơn sự lo lắng khi thực hiện các kế hoạch tự
học để sao cho tính khả thi và thực tiễn cao nhất
+ Tóm lại, kỹ năng lập kế hoạch thực hiện các mục tiêu tự học đặt ra của sinh viên năm
4 thể hiện ở mức độ thường xuyên và mức độ tự đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch mục tiêu tự học cũng tăng hầu hết ở các mốc thời gian so với sinh viên năm nhất
2.3.2.3 Về kỹ năng tự học trên lớp của sinh viên TMĐT
Chất lượng tự học trên lớp có ý nghĩa rất to lớn trong việc giúp sinh viên TM ĐT có được kiến thức sâu, rộng và mang ý nghĩ thực tiễn nghề nghiệp Sự hình thành và phát triển kỹ năng tự học của sinh viên TMĐT nhanh hay chậm, mức độ ra sao cũng phụ thuộc vào việc các
kỹ năng tự học trên lớp của sinh viên được quan tâm, hướng dẫn như thế nào? Chất lượng kỹ năng tự học trên lớp của sinh viên sẽ còn hình thành thái độ học tập, động cơ học tập đúng đắn
và là cơ sở then chốt có được kỹ năng nghề nghiệp thích ứng yêu cầu cuộc cách mạng 4.0 đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay
Có rất nhiều kỹ năng tự học trên lớp mà sinh viên ngành TM ĐT cần phải có và phát triển Số liệu này chúng tôi mô tả ở bảng 2.5:
Bảng 2.5 Thực trạng mức độ và kết quả phát triển kỹ năng tự học qua học tập trên lớp của
sinh viên TMĐT
Trang 21ĐTB của mức
độ thực hiện
ĐLC
ĐTB của kết quả thực hiện
ĐLC
ĐTB của mức
độ thực hiện
ĐLC
ĐTB của kết quả thực hiện
ĐLC
1 Đọc trước giáo trình,
tài liệu liên quan đến
bài trước khi lên lớp
cho việc tự học trên
lớp được thuận lợi,
tâm dưới dạng biểu
đồ, sơ đồ tư duy…
Trang 22Sinh viên năm nhất TMĐ các kỹ năng như: Nhận diện vấn đề trọng tâm và phân loại
các nội dung tự học một cách chính xác theo thứ tự mục tiêu đã xây dựng; Chuẩn bị đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho việc tự học trên lớp được thuận lợi, hiệu quả; Đọc trước giáo trình, tài liệu liên quan đến bài trước khi lên lớp chỉ ở mức không thường xuyên ( ĐTB: 1.60 – 1.68) Các kỹ năng về tập trung nghe giảng và ghi tốc ký; phản biện và tương tác bằng các câu hỏi,
sử dụng sơ đồ tư duy ghi chép; vận dụng vào thực tiễn; Sử dụng CNTT, máy tính, smarphone
hỗ trợ việc nghe giảng và ghi chép trong học trên lớp đạt mức thường xuyên; (ĐTB: 2.68 –
3.23)
Với sinh viên năm 4: Việc thực hiện các kỹ năng tự học trên lớp ở mức thường xuyên
và rất thường xuyên là phổ biến (ĐTB: 2.81- 3.75) Kỹ năng về nhận diện vấn đề trọng tâm và phân loại các nội dung tự học một cách chính xác theo thứ tự mục tiêu đã xây dựng và kỹ năng chuẩn bị đầy đủ các phương tiện hỗ trợ cho việc tự học trên lớp được thuận lợi, hiệu quả vẫn
chỉ còn thi thoảng (ĐTB: 2.16, 2.37)
+ Kết quả thực hiện các kỹ năng tự học trên lớp ở mức tốt đến kém thể hiện:
Với sinh viên năm nhất: Kỹ năng phản biện và tương tác tích cực bằng cách đặt câu hỏi
với giảng viên, bạn bè trong nhóm, lớp; Sử dụng CNTT ( Laptop, smarphone…) hỗ trợ việc nghe giảng và ghi chép; Vận dụng lý thuyết khi nghe giảng giải quyết các tình huống, các vấn
đề thực tiễn của nghề nghiệp ngay trên lớp một cách hiệu quả; Biết ghi chép và kết nối ý chính, ý trọng tâm dưới dạng biểu đồ, sơ đồ tư duy…đạt mức khá (ĐTB: 3,53 -3.91) Nhận diện vấn đề trọng tâm và phân loại nội dung tự học và chuẩn bị đủ đồ dùng học tập luôn là kỹ năng khó đối với sinh viên nói chung và sinh viên năm nhất nói riêng, vì vậy các em chỉ đạt
loại yếu ( ĐTB: 1.92-1.96)
Với sinh viên năm 4: Đa số là đạt mức khá tốt (ĐTB: 3.5 – 4.56), vẫn lại là nhận diện
vấn đề trọng tâm và phân loại nội dung tự học chỉ đạt mức trung bình (ĐTB: 2.93)
+ Kết hợp với quan sát qua dự giờ và sản phẩm học tập của sinh viên trong tiết học trên lớp
Chúng tôi lý giải kết quả trên như sau:
Sinh viên năm nhất mới nhập học, chưa quen cách học ở đại học, chưa quen với các phương pháp dạy học của giảng viên đại học vì thế gặp rất nhiều khó khăn ngay từ việc đọc tài liệu trước ở nhà như thế nào, đến nhận diện vấn đề cần tự học, việc đặt câu hỏi phản biện thầy
cô, bạn bè, cách ghi chép sao cho hiệu quả Đặc biệt là việc sử dụng máy vi tính và vận dụng
lý thuyết vào nghề TMĐT còn rất nhiều bỡ ngỡ đối với sinh viên Vì vậy sự thiếu tự tin cũng
làm cho sinh viên ít mạnh dạn thể hiện mình trước đám đông