1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lịch sử tư tưởng chính trị thuật trị quốc trong tư tưởng khổng tử và vận dụng tư tưởng lấy dân làm gốc trong quản lý nhà nước, trong công cuộc xây dựng XNCH ở n

36 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiên Vi Chính – Thuật Trị Quốc Trong Tư Tưởng Khổng Tử Và Vận Dụng Tư Tưởng Lấy Dân Làm Gốc Trong Quản Lí Nhà Nước Ta Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Lịch Sử Tư Tưởng Chính Trị
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 185 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ cách đây hơn 200 năm, Khổng Tử đó núi về điều này như một đạotrị quốc là phải dựa vào nhân tài thiên hạ, người nào việc ấy làm tốt phần việccủa mỡnh, đưa đất vào quỹ đạo tốt đẹp nhất,

Trang 1

TIỂU LUẬNMÔN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản Từmột xó hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp Đấtnước trải quả hàng mấy chục năm chiến tranh, hậu quả để lại cũn nặng nề.Trong khi đó, hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc Cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn húttất cả các nước ở mức độ khác nhau Nền sản xuất vật chất và đới sống xó hộiđang trong quá trỡnh quốc tế hoỏ sõu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ pháttriển lịch sử và cuộc sống các dân tộc Những xu thế đó vừa tạo thời cơ pháttriển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là vớinhững nước lạc hậu kinh tế Nói đũi hỏi chỳng ta phải tiếp tục nõng cao ýthức tự lực, tự cường, phát huy mọi tiềm năng vật chất và trí tuệ của dân tộcđồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tỡm tũi bước đi, hỡnh thức vàbiện phỏp thớch hợp để xây dựng thành công CNXH, Đảng ta đó xỏc định sựnghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vỡ nhõn dõn Chớnh nhândân là người làm nên thắng lợi lịch sử Toàn bộ hoạt động của Đảng là ở sựgắn bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ đưađến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước Do vậy,

xó hội xó hội chủ nghĩa mà nhõn dõn ta xõy dựng là một xó hội: Do nhõn dõnlao động làm chủ Điều này rất phù hợp với tư tưởng thiên vi chính, “dựngnước nhờ dân, trị chính nhờ dân” của Khổng Tử

Từ cách đây hơn 200 năm, Khổng Tử đó núi về điều này như một đạotrị quốc là phải dựa vào nhân tài thiên hạ, người nào việc ấy làm tốt phần việccủa mỡnh, đưa đất vào quỹ đạo tốt đẹp nhất, thiên hạ mới đại trị, trăm họ làcái gốc, của nước nhà, muốn nước giàu dân mạnh thỡ phải làm cho trăm họkhá giả Phải làm cho trăm họ no đủ rồi mới dạy bảo họ Trị lý tốt trăm họ làđiều cơ bản để dựng nước Muốn trị lý tốt dõn chỳng thỡ điều mấu chốt phảilàm cho dân chúng tin mỡnh Muốn thể phải trị chớnh bằng trớ, nhõn, trang,

lễ Tư tưởng lấy dân làm gốc của Khổng Tử đó được Mạnh Tử khái quátthành “dân là quý, thứ đến là xó tắc, vua là thường” Mạnh Tử kế thừa vấn đềdân là gốc của Khổng Tử, đưa nhân dân lao động động lên vị trí đầu tiên

Trang 3

trong học thuyết của mỡnh, để những người thống trị phải xem dân làm trọng.Xét vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.

Khổng Tử nói vương giả trị lý thiện hạ, ba mươi năm thiên hạ sẽ cónhân Người thiện trị nước, một trăm năm nước giàu, dân mạnh Điều nay phùhợp với chiến lược phát triển kinh tế nước ta trong từng thời kỳ Chúng ta có

kế hoạch mười năm, kế hoạch hai mươi năm, kế hoạch 50 năm…

Khổng Tử nói, có đức thỡ cú đạo, có dân thỡ đầy đủ Điều đó lại phùhợp với quan điểm lấy dân làm gốc của Đảng ta

Khổng Tử chủ trương, để cho trăm họ no đủ rồi mới dạy dỗ họ Đó làmột nội dung, là một đặc trưng mà Đại hội Đảng VIII đó đề ra: phấn đấu, dângiàu, nước mạnh xó hội cụng bằng, dõn chủ văn minh

Khổng Tử cũn chủ trương cải cách để có sức mạnh Ngày nay, chúng tacũng cải cách mở cửa để dân giàu, nước mạnh

Nghiờn cứu học thuyết của Khổng Tử cho ta những cỏch nhỡn nhận,nhưng kinh nghiệm hữu ích, để ứng dụng một cách linh hoạt trong công cuộc

xây dựng đất nước ngày nay Đó chính là lý do vỡ sao em chọn đề tài: “Thuật

trị quốc trong tư tưởng Khổng Tử và vận dụng tư tưởng lấy dân làm gốc trong quản lý nhà nước, trong công cuộc xây dựng XNCH ở nước ta hiện nay”.

Trang 4

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG I TèNH HèNH KINH TẾ - XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ

SỰ XUẤT HIỆN TƯ TƯỞNG THIÊN VI CHÍNH CỦA KHỔNG TỬ

1 Tỡnh hỡnh kinh tế - xó hội Trung Quốc cổ đại.

Các trường phái tư tưởng chính trị Trung Quốc xuất hiện chủ yếu trongthời Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 Trước Công Nguyên) Đây là giaiđoạn với những biến động xó hội to lớn, cú ý nghĩa vạch đường, đặt nềnmóng cho tư tưởng Trung Quốc phát triển

Thời kỳ này, Trung Quốc đang nằm trong sự chuyển giao hỡnh thỏikinh tế, xó hội từ chiếm hữu nụ lệ sang phong kiến, sự thống trị của chế độTông pháp nhà Chu đang suy tàn Chu Thiên tử trên danh nghĩa thống trị toànTrung Quốc nhưng đó mất hết thực quyền Cỏc nước chư hầu vốn được nhàChu lập nên đến lúc này quay sang chế độ cát cứ, thôn tính lẫn nhau, tranhgiành quyền bá chủ để thống trị các chư hầu khác Chiến tranh nổ ra liênmiên, đạo đức, trật tự xó hội bị suy thoỏi Tỡnh trạng “tụi giết vua, con giếtchưa, em giết anh…” trở nên phổ biến Nhân dân bị đói khổi vỡ chiến tranh,

vỡ bị ỏp bức, búc lột nặng nề Một nhu cầu xó hội bức thiết được đặt ra làphải có những học thuyết chính trị phản ánh được xu thế của thời cuộc, thoảmón được lợi ích của giai cấp, các tầng lớp khác nhau Vỡ vậy, nhưng người

có học đua nhau đưa ra học thuyết của mỡnh nhằm tỡm nguyờn nhõn loạn lạc

và đưa ra phương án giải quyết các mâu thuẫn trong xó hội Họ đi du thuyếtkhắp nơi với hy vọng được các nhà cầm quyền sử dụng để cứu vón tỡnh trạng

bi đát đương thời Từ đó tạo nên cao trào tư tưởng “trăm hoa đua nở, trăm nhàđua tiếng” Cũng chính trong giai đoạn này xuất hiện một số trường phái tiêubiểu, tư tưởng Nho gia, Mặc gia và Pháp gia

Trang 5

1 Nho gia.

1.1 Khổng Tử

Tư tưởng nho gia chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử tư tưởngchính trị Trung Quốc Nó đó ảnh hưởng sâu sắc mọi mặt đời sống xó hộiTrung Quốc và cỏc nước láng giềng trong suốt hơn hai nghỡn năm lịch sử.Hai nhân vật tiêu biểu của phái nho gia là Khổng Tử và Mạnh Tử

Khổng Tử là người sáng lập trường phái Nho gia Ông tên là Khâu, tự

là Trọng Ni, sinh ra trong một gia đỡnh quý tộc ở nước Lỗ Thời trẻ, ông đó

mở trường dạy học, sau đó làm chức quan nhỏ, quản lý kho và trụng coi trõu,

dờ, sau đó chu du các nước lớn 10 năm Cuối đời, ông trở về nước Lỗ tiếp tụcdạy học và chỉnh lý, sau định các thư tịch cổ như ngũ kinh: Thi, Thư, Lễ,Nhạc, Dịch và viết kinh Xuân Thu Luận ngữ là bộ sách do các học trũ củaKhổng Tử ghi lại Tư tưởng chính trị của Khổng Tử trước hết là vỡ sự bỡnh

ổn của xó hội, một xó hội “thỏi bỡnh thịnh trị” Theo ông, đạo của người làmchính trị phải ngay thẳng, phải lấy chính trị để dẫn dắt dân, nhà nho phải thamchính… Từ nhận thức đó, Khổng Tử cho rằng, xó hội loạn lạc là do mỗingười không ở đúng vị trí của mỡnh, Lễ bị xem nhẹ Để thiên hạ có “đạo”,quay về Lễ, phải củng cố điều Nhân, coi trọng Lễ nghĩa, mỗi người phải hànhđộng trong khuôn khổ của mỡnh, từ đó xó hội sẽ ổn định Để thực hiện lýtưởng chính trị của mỡnh, ụng đề ra học thuyết “Nhân – Lễ - Chính danh”

Nhõn

Nhõn là phạm trự trung tâm trong học thuyết chính trị của Khổng Tử

Nó là thước đo, là chuẩn mực quyết định thành hay bại, tốt hay xấu của chínhtrị Nội dung điều Nhân rất rộng, bao hàm các vấn đề về đạo đức, luân lý của

xó hội Trong chớnh trị, điều Nhân thể hiện ở các nội dung sau

Thương yêu người (ái nhân), trong đó thương yêu người thân của mỡnhhơn (thân nhân) và yêu người nhân đức hơn (thân nhân) Tu dưỡng bản thân,sửa mỡnh theo lễ và Nhõn (khắc phục lễ vi nhõn) Tụn trọng và sử dụngngười hiền tài Như vậy, nội dung của “Nhân là nhân đạo, thương yêu người,coi người như mỡnh, giỳp đỡ nhau”

Lễ

Lễ vốn là những quy định, nghi thức trong cúng tế Khổng Tử đó lýluận hoỏ, biến Lễ thành những quy định, trật tự phân chia thứ bậc trong xó

Trang 6

hội, được thể hiện trong phong cách sinh hoạt; hành vi, ngôn ngữ, trang phục,nhà cửa… Lễ là chuẩn mực đạo đức, là khuôn mẫu cho mọi hành động của cánhân và các tầng lớp trong xó hội Lễ tạo cho con người biết phân biệt trêndưới, biết thân phận, vai trũ, địa vị của mỡnh trong xó hội, biết phục tùng,làm theo điều lành (hợp lễ) và xa rời điều ác (trái lễ) Theo Khổng Tử, Lễ quyđịnh chuẩn mực cho các mối quan hệ cơ bản vua tôi, cha con, vợ chồng, anh

em, bạn bè Các quan hệ này đề có hai chiều, phụ thuộc vào nhau

Chớnh danh

Chớnh danh là phạm trù cơ bản trong học thuyết chính trị của Khổng

Tử Chính danh là xác định và phân biệt quan hệ danh phận, đẳng cấp giữacác giai cấp, thực chất là khẳng định tính hợp lý của giai cấp quý tộc trongvịờc thực thi quyền lực của mỡnh Nú vừa là điều kiện, vừa là mục đích củachính trị Chính danh thể hiện các nội dung sau:

Xác định danh phận, đẳng cấp và vị trí của từng cá nhân, từng lớp trong

xó hội Ai ở vị trớ nào thỡ làm trũn bổn phận ở vị trớ ấy “quõn quõn, thầnthần, phụ phụ, tử tử” (vua phải giữ đúng đạo vua, tôi phải giữ đúng đạo tôi,cha phải giữ đúng đạo cha, con phải giữ đúng đạo con, không được “việt vị”,làm vượt quá chức năng, bổn phận của mỡnh)

“Danh” phải phủ hợp với “thực”, nội dung phải phự hợp với hỡnh thức.Trong chớnh trị, lời núi phải đi đôi với việc làm Đặt con người vào đúng vịtrí và chức năng Phải xác định “danh” (tên gọi) trước khi có “thực” (thực tài)

vỡ “danh” là điều kiện để thi hành “thực” Khi có danh thỡ thực mới cú ýnghĩa Giữa chớnh danh và Lễ cú mối quan hệ chặt chẽ với nhau Muốn

“danh” được “chính” thỡ phải thực hiện “Lễ”

“Chính danh” là một biện pháp quy định và giúp mọi người nhận rừcương vị, quyền hạn và nghĩa vụ của mỡnh trong quan hệ với chức vụ vàđẳng cấp tương ứng Có xác định được danh phận thỡ mới điều hoà được cácmối quan hệ Đây là vấn đề căn bản của cách cư xử chính trị

1.2 Mạnh Tử (372 – 289 trước Công Nguyên)

Mạnh Tử là người nước Trâu Ông đó kế thừa và phỏt triển sỏng tạonhững tư tưởng của Khổng Tử, xây dựng học thuyết “nhân chính” của mỡnh

Thuyết tính thiện: Theo Mạnh tử, bản tính tự nhiên của con người làthiện con người có lũng trắc ẩn thỡ tự nhiờn cú lũng tu ố (biết xấu hổ) từ

Trang 7

nhượng (nhường nhịn), thỡ phi (biết phải trỏi) Lũng trắc ẩn là nhõn, lũng tu ố

là nghĩa, lũng từ nhượng là lễ, lũng thị phi là trí Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí là bốnđầu mối vốn có ở tâm ta Con người có thể trở thành ác vỡ khụng biết “tồntõm”, “dưỡng tính”, để cho vật dục chi phối, chạy theo lợi ích cá nhân

Quan niệm về quân tử và tiểu nhân: Quân tử là hạng người lao tâm, caitrị người và được người cung phụng Tiểu nhân là hạng người lao lực, bị caitrị và phải cung phụng người

Chủ trương vương đạo: Mạnh Tử kịch liệt phản đối “bá đạo” (chiếntranh, bạo lực), nguồn gốc của mọi rối ren, loạn lạc Chính trị “vương đạo” lànhân chớnh, lấy dõn làm gốc

Học thuyết “Nhân chính” của Mạnh Tử có nhiều nhân tố tiến bộ hơn sovới Khổng Tử Tuy vẫn đứng trên lập trường của giai cấp thống trị, nhưngông đó nhỡn thấy được sức mạnh của nhân dân, chủ trương thi hành nhânchính, vương đạo Đó là những yếu tố dân chủ, tiến bộ Điểm hạn chế của ông

là cũn tỡn vào mệnh trời và tớnh thần bớ trong lý giải vấn đề quyền lực

2 Mặc gia

Người sáng lập ra trào lưu tư tưởng Mặc gia là Mặc Tử (479 – 381trước Công Nguyên) Ông tên là Mặc địch, người nước Lỗ, sinh vào cuối thờiXuân Thu Tư tưởng chính trị của ông được thể hiện trong sách Mặc Tử gồmnhững nội dung chủ yếu sau đây:

- Thuyết yêu thương nhau và cùng có lợi Theo Mặc Tử, thiên hạ loạnlạc, đạo đức suy dồi là do mọi người không yêu thương nhau Để thủ tiêu tậngốc mọi tai họa gây nên đau khổ cho con người, ông chủ trương “kiêm ái”

- Mặc Tử cho rằng, mọi người sống phải lao động và tiết kiệm Ông phảnđối sự xa hoa, lóng phớ của giới quý tộc, phản đối các hỡnh thức tế lễ phiếnphức, tốn kộm, đấu tranh vỡ quyền lợi của tầng lớp bỡnh dõn, chống ỏp bức, búclột, đũi hỏi sự bỡnh đẳng và hưởng thụ trên cơ sở bỡnh đẳng về lao động

- Thượng hiền và thượng đồng:

Mặc Tử chủ trương tôn trọng người hiền (thượng hiền) và học tậpngười trên (thượng đồng) Đó là người hiền tài thỡ dựng, khụng phõn biệt thứbậc, đẳng cấp, thành phần xuất thân Thiên tử cũng phải là người hiền tài, dodân lựa chọn Vỡ thiờn tử là bậc “thỏnh nhõn” nờn dõn chỳng phải tuyệt đối

Trang 8

phục tùng Đồng thời người dân cũng có quyền phê phán, can ngăn nếu ngườitrên mắc sai lầm.

Trên cơ sở tư tưởng kiêm ái, ông kịch liệt phản đối chiến tranh (phicông) Cả cuộc đời ông lặn lộn nay đây mai đó để thuyết phục các nước chưhầu không nên gây chiến với nhau

Tư tưởng của Mặc Tử ôn hoà, ông mong muốn xõy dựng xó hội bỡnhđằng, bác ái, trong đó mọi người yêu thương và làm lợi cho nhau Phươngthức để đạt tới xó hội đó là chính trị “dân chủ” dựa trên tiêu chuẩn hiền tài,không dựa trên quan hệ thân thuộc, họ hàng

3 Phỏp gia.

Vào cuối thời Chiến quốc, tư tưởng Pháp gia ra đời đó đáp ứng đượcyêu cầu trong thời kỳ này: Tập trung kinh tế và quyền lực để kết thúc tỡnhtrạng phõn tranh cỏt cứ, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Tưtưởng pháp gia được áp dụng thành công và đưa nước Tần trở thành bá chủ,thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước Công Nguyên Phái Pháp gia gồmnhiều nhà tư tưởng, nhiều trường phái khác nhau, như phái trọng pháp, QuảnTrọng, Thương Ưởng, phái trọng thật Thân Bất Hại, phái trọng thế, ThậnĐạo, Hàn Phi Tử là người tổng kế và phát triển tư tưởng của những nhà Phápgia tiền bối, hoàn chỉnh học thuyết này

Hàn Phi Tử (khoảng 280 – 233 trước Công Nguyên) Hàn Phi Tử là như

tư tưởng cuối cùng của thời Tiên Tân, xuất thân trong một gia đỡnh khỏ giả ởnước Hàn Hàn Phi Tử cho rằng, xó hội loài người luôn biến đổi, phát triểntheo hướng đi lên Bản tính con người ta là ham lợi Điều lợi ảnh hưởng đếncác mối quan hệ trong xó hội Chớnh trị đương thời không nên bàn chuyệnnhân nghĩa cao xa mà nên có biện pháp cụ thể, cứng rắn và kiên quyết Từnhận thức đó, học thuyết chính trị của ông được xây dựng trên cơ sở thốngnhất – phỏp - thuật – thế

Pháp luật là những quy ước, khuôn mẫu, chuẩn mực do vua ban ra,được phổ biến rộng rói để nhân dân thực hiện Pháp luật phải công bằng để kẻmạnh không lấn át kẻ yếu, đám đông không hiếp đáp số ít

Thuật là thủ đoạn hay thuật cai trị của người làm vua để kiểm tra, giámsát, điều khiển bầy tôi Thuật là phương pháp tuyển chọn, sử dụng người đúng

Trang 9

chức năng, tạo cho họ làm trũn bổn phận của mỡnh Như vậy, thuật là yếu tốcần thiết, hỗ trợ cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh.

Thế là uy thế, quyền lực của người cầm quyền Quần thần phục tùngnhà vua không phải theo tỡnh cốt nhục mà bởi sự ràng buộc bởi quyền uy củanhà vua Yếu tố để quần thần buộc phải theo đó là thế Thế là quyền lực bảođảm cho việc thi hành pháp luật Thế phải tuân thủ theo nguyên tắc tập trung,không được chia sẻ, không được để rơi vào tay người khác

Tuy cũn mang tớnh sơ khai nhưng các trường phái tư tưởng chính trịTrung Quốc cổ đại đó đặt nền móng cho sự phát triển của các luồng tư tưởngsau này Tính đa dạng của các học thuyết nói lên tính phức tạp của thực tiễnchính trị, sự khốc liệt trong thời kỳ hỡnh thành và phỏt triển của chế độ phongkiến Cuộc đấu tranh gió chủ trương Đức trị và pháp trị phản ánh mâu thuẫngay gắt giữa hai giai cấp quý tộc bảo thủ, lạc hậu và giai cấp địa chủ mới có

tư tưởng cấp tiến Điểm chung nhất của các học thuyết chính trị là muốn cho

xó hội ổn định và phát triển nên những tri thức chính trị đó có những giá trịchung cho mọi thời đại Việc kế thừa có chọn lọc những tri thức đó là cầnthiết cho thực tiễn chính trị hôm nay

2 Thiên vi chính – một trong những thành tố cơ bản của học thuyết đức trị của Khổng Tử.

Mặc dù người đời tôn Khổng Tử là thánh nhân, là khuôn mẫu cho vạnđời sau bắt chước, nhưng ông tỏ ra thiết quả quyêt về khả năng toàn trí vàtoàn thân của chính ông với bản thể tuyệt đối của vũ trụ Ông chỉ nỗ lực thiếtlập một cơ cấu ý tưởng khá vững chắc để làm cơ sở xây dựng hạnh phúc vàđem lại tự do cho nhân loại Các cơ sở ấy không phải là những giáo điều thần

bí, cũng không phải là niềm hy vọng có tính tôn giáo, mà đó là nền tảng xâydựng con người và xó hội

Vậy bản tính con người và bản tính xó hội là gỡ? ễng khụng trả lời vộicõu hỏi này Ông không cho rằng, nhân sinh bản tính thiện (như Tuân Tử saunày đó núi) ễng quan sỏt cụ thể hơn, nhận xét quan trọng nhất chính là: Mọingười đều bỡnh đẳng như nhau, cũn thiện hay ỏc thỡ khụng khẳng định được.Bởi lẽ ông thường thấy có khi những kẻ con dũng chỏu dừi, những kẻ tự nhận

là cao sang, lại cư xử như loài cầm thú, trong khi những kẻ trong nghịch cảnhlại có tư cách hiết sức đáng tôn trọng

Trang 10

Dù con người có khác nhau thế nào, nhưng nguyện vọng chung của họvẫn là đạt được hạnh phúc Quần chúng đói khát, thống khổ vỡ chiến, vỡ bịbức hại dưới tay giới quý tộc Cho nờn cứu cỏnh đó rừ: Phải mưu cầu hạnhphúc cho nhân sinh Khổng Tử vỡ thế mà quan niệm về một chế độ tốt đẹpnhư sau: Người cầm quyền phải vỡ hạnh phỳc của dõn khiến kẻ trong nướcvui dạ, cũn những kẻ phương xa phấn khởi mà đến ở.

Bởi vỡ hạnh phỳc là điều tốt đẹp của con người, mà con người vốn dĩ làsinh vật xó hội, cho nờn cú một số nguyờn tắc hỗ tương giữa con người vớinhau trong xó hội Nếu mỗi người đều sống vỡ hạnh phỳc của mọi người thỡ

xó hội là một cừi hạnh phỳc vậy Cỏi nguyờn tắc hỗ tương này, ông nói nhưsau: Điều gỡ mỡnh khụng muốn người ta làm cho mỡnh, thỡ mớnh chớ làmcho người Ông nói rừ thờm: Người có lũng nhõn hễ muốn tự lập thỡ cũng lothành lập cho người, hễ muốn thông đạt thỡ cũng lo làm cho người thông đạt,

hễ xử với mỡnh thế nào thỡ cũng xử với người xung quanh thế ấy

Tuy nhiên, Khổng Tử không quá ngây thơ khi nghĩ rằng chỉ có mấyđiều đó có hạnh phúc Hầu hết chúng ta ai cũng mong muốn những kẻ xungquanh ta mớ ước có hạnh phúc Hầu hết chúng ta ai cũng mong muốn những

kẻ xung quanh ta cũng được hạnh phúc nữa Ấy vậy mà thực tế chúng ta lại

cư xử thiếu thân ái, chúng ta khư khư bảo vệ hạnh phúc riêng tư dù rằng điều

đó có thể phương hại đến hạnh phúc người khác Muốn chỉnh lý điều này, cầnphỉa giỏc ngộ quần chỳng, và xó hội hoỏ họ Vỡ vậy mà Khổng Tử chủtrương phải giáo dục quần chúng Giáo dục quần chúng để họ trở thành nhữngcông dân có ý thức chớnh là nền tảng thiết yếu của quốc gia Nếu khụng giỏodục họ mà chỉ dựng hỡnh phạt răn đê cưỡng bức, thỡ đó là hạ sách: Nếu nhàcầm quyền chuyên dùng pháp chế và hỡnh phạt để trị dân thỡ dõn sợ màkhụng phạm phỏp đó thôi, chứ thật lũng họ khụng biết xấu hổ (do ý thức đạođức) Vậy để trị dân, nhà cầm quyền phải dùng đức hạnh và lễ tiết Như vậy,dân không những biết hổ thẹn (không dám phạm pháp) mà cũn được cảm hoábởi đức độ của nhà cầm quyền, và rồi dân sẽ trở nên tốt lành

Nếu người ta đeo đuổi lý tưởng này, hoá ra chính quyền sẽ vô íchchăng? Khổng Tử không cực đoan như vậy Ông nhận thấy rằng cần phải cóchính quyền tốt Nhưng tại sao chính quyền tội tệ? Bởi lẽ theo Khổng Tử,

Trang 11

những kẻ thống trị chẳng qua là do chưa truyền con nối, nào phải làm vua là

do học vấn và tài đức đâu

Từ những lời núi rải rỏc của Khổng Tử về chớnh trị, triết lý về chớnhtrị của ụng cú thể túm tắt như sau: Chính quyền phải chăm lo phúc lợi chonhân dân Muốn vậy, người cai trị phải là người tài đức trong nước và đượctuyển chọn đơn thuần căn cứ vào đạo đức và trí tuệ của họ thôi, chứ khôngphải căn cứ vào thành phần xuất thân, gia sản, hay địa vị xó hội Như vậy cần

có một nền giáo dục thích hợp Giáo dục phải phổ cập mọi tầng lớp nhân dân,

để cho những nhân tài có thể tham gia việc nước

Ông khôi đũi hỏi nhà vua (do cha truyền con nối) phải phế ngôi Ông chỉ

cố thuyết phục vua nên ngự trị hơn là cai trị, và hóy giỏo quyền hành thực thụcho cỏc quan lại: Một lời núi dua nịnh của họ cú thể làm mất nước, một lời nóiđầy đạo lý của họ cú thể làm hưng thịnh đất nước Cái trọng trách đó chính làkhi vua vô đạo, càn quấy, quan phải có lời can gián Nếu vỡ sợ chết hay vỡ tưlợi mà a dua theo thói càn quấy của vua, đó là hiểm hoạ mất nước vậy

Trang 12

CHƯƠNG II THUẬT TRỊ QUỐC TRONG TƯ TƯỞNG KHỔNG TỬ

1 Vi chính – Mục tiêu theo đuổi suốt của Khổng Tử.

Trong bước đường đời, Khổng Tử trải qua nhiều thăng trầm khác nhau.Hai mươi tuổi làm uỷ lại (chức quan nhỏ trông coi kho tàng) Hai mươi mốttuổi là thừa điền (chức quan nhỏ trông coi về gia súc) Năm mươi mốt tuổi làTrung Đô Tề, năm mươi hai tuổi thăng làm tiểu tư không, năm mươi ba tuổi

là đại tư không Hai năm sau thỡ từ quan, bỏ Lỗ đến Vệ, bắt đầu chu du cácnước rũng ró 14 năm, vẫn không tỡm được nơi tin cậy Cuối cùng lại trở về

Lỗ hưởng lộc “quốc lóo” ngang chức uỷ viờn cố vấn ngày nay Trong lỳc chu

du các nước, nhiều người đó nhạo bỏng, khuyờn can, lừa dối, thậm chớ cúngười cũn võy khốn định trủ giết Khổng Tử Dù khó khăn gian khổi đến đâu,ông cũng không thay lũng đổi dạ Ông cũng không ham hố chức quyền Ôngquan niệm Trong thời loạn mà làm quan là vô nghĩa Ông tham gia chính trịchỉ đơn thuần là việc bắt buộc Chính vỡ thiờn hạ vụ đạo, ông mới phải vàoquan ra ải, chu du các nước, mong đem đạo, lễ của tiên vương cứu lấy xó tắc.ễng chỉ là kẻ tử vỡ đạo

Theo Khổng Tử: Cái đích của vi chính không nhất thiếtt là phải làmquan Nói đến chứ Hiếu, trong “thư” viết: “Phải hiếu thuận với cha mẹ, yêuthương anh em, và tinh thần đó, trong khi đó phải thể hiện ở mặt chính trịnữa” Đó chính là tham dự vào chính trị Vỡ vậy, thật phiến diện khi nghĩ rằnglàm quan là biểu chuẩn tham dự chính trị Như ông, mở trường tư, thu nạp đệ

tử, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, cho xó hội, đó cũng là một cách gián tiếptham dự chính trị Trong “thiên nhân luận”, ông cho rằng dùng đạo hiếu vàochính trị, thực chất là đại hiệu Hiếu thuận với cha mẹ, yêu thương anh emvốn là việc trong gia đỡnh Nhưng người biết hiếu thuận, thương yêu với cảtrăm họ trong thiên hạ thỡ lại là người biết trung với dân với nước Thực chấtngười đó đó tham dự chớnh trị

Tuy rằng chớnh kiến cựng những điều ấp ủ của Khổng Tử chưa đượcthể hiện trong thực tế, nhưng cái chỉnh thể trong lý tưởng của Khổng Tử là:Dùng pháp chế nhà Hạ, đi xe triều Ân, đội mũ triều Chu, dùng nhạc “Thiều”đời Thuấn Vứt bỏ nhạc khúc nước Trịnh, xó rời kẻ tiểu nhõn tàn ỏc Điều đó

Trang 13

có nghĩa là: Pháp chế nhà Hạ hợp với quy luật tự nhiên nhất, hoàn chỉnh nhất.

Xe của triều Ân thỡ bền chắc, phự hợp với lễ chế Mũ mang nhà Chu chế tạotinh xảo và đẹp đẽ Nhạc “Thiều” thỡ nâng cao tháo đạo đức của con người.Cũn nhạc khỳc nước trịnh dễ làm người ta uỷ mị Tiểu nhân thỡ núi hươu nóivượn, đem tai họa đến cho dân cho nước nên phải tránh xa Đó chính là đạicương, bài bản trị nước của Khổng Tử

Theo Khổng Tử, nền chính trị đáng được ông tôn sùng là thời NguThuấn Trị lý thiờn hạ thanh bỡnh, nhưng chỉ ngồi cung kính, trang nghiêm,mặt nhỡn về hướng nam Trên ngôi vị thiên tử Điều đó đồng nghĩa với việcông tán thành “trị mà không làm” – chủ trương vi chính của Lóo Tử Lóo Tử

đề xuất: “Trị mà không làm” là không nên can thiệp nhiều vào việc của chúngdân, người thống trị ít ban bố lệnh, sự việc được hoàn thành một cách tựnhiên Đồng thời tâm họ cũng không cảm thấy nặng nền, cho công việc hoànthành là việc tự nhiên Vỡ vậy, Lóo Tử mới chủ trương: “Ta không làm thỡdõn tự động Ta tĩnh thỡ dõn chớnh Ta vụ sự thỡ dõn giàu cú Ta khụng hammuốn thỡ dõn hiền lành” Đó chính là quá trỡnh từ “khụng làm” đến “cólàm”

“Trị mà khụng làm” của thời Ngu Thuấn là từ quỏ trỡnh “cú làm” đến

“không làm” Bởi vỡ Thuấn mở rộng chõn chớnh, trọng dụng hiền tài, làmcho dân chúng trong thiên hạ được như những dũng suối nhỏ thuận theo dũngchảy thẳng ra biển, luụn biết võng lời Thuấn Như vậy nền chính trị trở nêntrong sáng Cũn phải làm gỡ nữa Như vậy, theo Khổng Tử, mọi thành côngcủa Ngu Thuấn đều thuộc về nhõn chớnh Cỏi gọi là khụng làm mà trị củaLóo Tử chỉ là phương thức trị chính trong lý tưởng, không hiện thực trongthực tế xó hội Vỡ vậy, muốn trị lý một đất nước, phải như Ngu Thuấn, cai trịbằng đạo đức, từ chỗ có làm đến chỗ không làm

Đức phải sỏng tỏ, thận trọng về hỡnh phạt, coi đức là gốc, thỡ dõn mớikớnh, mới tin, trăm họ tự nhiên như muôn ngàn ngôi sao khác vây quanh saobắc đẩu, vô cùng uyển chuyển và sinh động

Có thể nói, tu nhân, tề gia, trị quốc không lúc nào Khổng Tử quên chữ

“Đức” lấy đức cảm hoá người, lấy đức để cuốn hút người, nguyên tắc có tínhphổ biến này là nhân tố chỉ đạo hết sức có ý nghĩa cho công việc của một giađỡnh, một đất nước Đương nhiên, chữ “Đức” nêu ra ở đây vốn là của phạm

Trang 14

trù văn minh tinh thần Đồng thời cũng không thể thiếu được văn minh vậtchất Phải năm bắt bằng cả hai tay, hay tay phải cứng mới là phương châm trịquốc một cách biện chứng.

2 Dựng nước nhờ dân – trị chính nhờ dân.

Theo Khổng Tử, Nhõn chớnh là một nền chớnh trị lý tưởng nhất.Nhưng thực hành nhân chính lại chẳng dễ dàng “Có vương giả tất có nhân”.Nếu vương giả trị lý đất nước với một chính sách liên tục thỡ nhất định trongvũng ba mươi năm thiên hạ sẽ bước vào một xó hội lý tưởng có nền văn minhtinh thần phát triển tới mức độ cao

Lại như người thiện trị nước hàng trăm năm thỡ tàn cũng hết, sỏt cũngchẳng cũn í muốn núi, cú người thiện trị lý hàng năm thỡ cú thể khắc phụcđược sự tàn bạo, vứt bỏ được tội tỡnh chết chúc, bước vào giai đoạn chânchính Muốn thực hành nhân chính, điều cơ bản nhất là lấy thành thực, tin cẩn

mà trị nước, vỡ chõn thành và chữ tớn là cỏi gốc của Đức Khổng Tử từngnói: “Người trị lý một đất nước có một ngàn cỗ binh xa phải biết chăm chỉ,chân thành, giữ chữ tín, không dối trá, biết tiết kiệm Thương yêu đồng liêu,

bộ thuộc, chọn lúc nông nhàn mà sai khiến trăm họ” (Thời cổ, lấy binh xamệnh danh cho cơ số của quân đội, Một chếin xa gọi là một “thừa” Mỗi thừagồm có bốn con ngựa kéo 1 xe, trên xe có 3 giáp sỹ, ở dưới có bảy mươi hai

bộ binh, hai nhăm nhân viên hậu cần, tất cả là một trăm người Nước có ngàn

cỗ binh xe là nước có đội quân mười vạn người Vào thời của Khổng Tử thỡ

đó là một nước cỡ lớn trên trung bỡnh)

Theo Khổng Tử thỡ trị lý một đất nước cỡ trên trung bỡnh phải nắmvững ba điều:

1 Cần mẫn chớnh sự, chõn thành giữ chữ tớn, khụng dối trỏ

2 Cần kiệm trị nước, yêu mến người dưới

3 Phải chời lỳc nụng nhàn mà sai khiến dõn chỳng

Trong ba điểm đó, điểm thứ ba là quan trọng nhất, vỡ đó cũng là nguồngốc tư tưởng “vương đạo” của Mạnh Tử Mạnh Tử cho rằng: Khụng vi phạmnụng vụ thỡ thúc gạo sẽ thừa thói Khụng giăng lưới bắt cá, cá sẽ nhiều vô kể.Không phá rừng thỡ rừng sẽ cho nhiều gỗ Khi cỏc cụ già sống thỡ nuụi, chếtthỡ chụn liệu cũn gỡ phải õn hận nữa Đó là sự mở đầu của vương đạo

Trang 15

Tư tưởng “không phạm nông vụ” để trăm họ được nghỉ ngơi của Mạnh

Tử ảnh hưởng lớn đến những người thống trị các đời sau Văn cảnh chi trị, thờiHán “Trịnh quan chi trị” đầu thời Đường, “Khang Càn thịnh thế” nhà Thanh,thiên hạ đều được đại tị vỡ trăm họ được nghỉ ngơi dưỡng sức Lấy nghĩ ngơidưỡng sức thực hành bước đầu của vương đạo là đúng Trăm họ là cái gốc củanước nhà, muốn nước giàu dân mạnh thỡ phải làm cho trăm họ khá giả

Lỗ Ai công từng hỏi Hữu Nhược: “Gặp lúc đói kém, ngân khố không

đủ dùng thỡ tớnh sao đây?” Hữu Nhược đáp: Sao không thu thêm, một phầntrong mười phân thuế ruộng? Lỗ Công nói: “Sao lại chỉ thu thêm một phần?thu thêm đến hai phần chắc gỡ đó đủ” Hữu Nhược đáp: “Trăm họ đủ rồi, ngài

là quân vương sao lại nói chuyện chưa đủ? Trăm họ cũn thiếu thốn, ngài làquân vương sao lại bảo là đủ rồi?” Như vậy, Hữu Nhược đó vận dụng tưtưởng dân là gốc của Khổng Tử rất xác đáng Vỡ vậy, Nhiễm Hữu hỏi KhổngTử: nờn trị lý thiờn hạ như thế nào? Khổng Tử trả lời: phải làm cho trăm họ

no đủ rồi mới dạy bảo họ

Theo Khổng Tử, giỏo hoỏ trị lý thiờn hạ nờn bắt đầu từ cả bốn điều;Trí, Nhân, Trang, Lễ

Trớ là thụng minh tài trớ, cú thể trị lý thiờn hạ, nhưng không có nhân đikèm thỡ cú thể được thiên hạ hoặc mất thiên hạ Thông minh tài trí đủ để trị lýtrăm họ, nhưng nếu không có nhân, không đối xử với trăm họ chân thành vànghiêm túc thỡ trăm họ không dễ kính trọng Thông minh, tài trí đủ để trị lýthiờn hạ, lại cú nhõn nữa, thỏi độ chân thành, nghiêm túc, trăm họ mừng rỡ,nhưng nếu không có lễ để ràng buộc trăm họ thỡ khụng thể hoàn mỹ được

Tóm lại, trong bốn mặt đó, không thể thiếu mặt nào Chúng hỗ trợ nhau

Và lễ là thống soái của ba mặt kia Một người thống trị muốn thành công phảilấy thông minh tài trí để trị lý trăm họ, lấy đạo đức, nhân từ để giữ trăm họ,nghiêm túc, chân thành đối xử với trăm họ, chế ngự trăm họ bằng lễ nghị Tất

cả những cái đó là phương sách trị chính hoàn hảo nhất Trị lý tốt trăm họ làđiều cơ bản để dựng nước Muốn trị lý tốt dõn chỳng thỡ điều mấu chốt phảilàm cho dân chúng tin mỡnh Muốn thể phải trị chính bằng trí, nhân, trang, lễ.Một lần Tử Cống hỏi trong ba thứ lương thực, quân bị, lũng tin thỡ cỏi nào làquan trọng nhất Khổng Tử núi: “Từ xưa, dân không tin thỡ khụng theo”

Trang 16

Tư tưởng dân là gốc của Khổng Tử đó được Mạnh Tử khái quỏt thành

“dõn lỳ quý, thứ đến là xó tắc, vua là thường” Mạnh muốn nói tới trăm họ làquan trọng bậc nhất, xó hội là thứ yếu, vua khụng phải là truyện lớn Dõn làquý, phải giải quyết vấn đề lũng dõn là trước hết

Nghệ thuật cai trị cũng được Khổng Tử viết trong các sách, mà khôngkhác mấy với các giáo điều và nguyên tắc về đạo đức vừa nói trên

Kể từ khi nước Trung Quốc thống nhất và thiết lập nên quân chủ đầy uyquyền, Khổng giáo trở thành một hệ thống triết lý chủ đạo và một vũ khí đầyhiệu năng để củng cố quân quyền cũng như duy trỡ trật tự xó hội Nú cũngtừng trải qua những phỏt triển, chấn chỉnh, và được tái định trong thế kỷ thứ

10 Từ đó, Khổng giáo được dạy chính thức trong các trường học toàn nướcTrung Quốc Sau khi Mao Trạch Đông cướp chính quyền năm 1949, Đảngcộng sản Trung Quốc đó phỏt động chiến dịch Đại cách mạng văn hoá để tiêudiệt Nho giáo và thay thế bằng lý thuyết cộng sản Nhưng trong hơn 50 nămqua, đó chứng minh rằng chủ nghĩa cộng sản khụng cú khả năng thay thế Nhogiáo bởi Nho giáo đó thấm nhuần vào trong mọi lónh vực đời sống của ngườidân Trung Quốc

Ngày nay, Khổng giáo trở nên quen thuộc với thế giới phương Tây.Ngoại trừ những điều được coi là có tính chất phong kiến và lỗi thời, triết lýNho giáo – sau khi được nhuận chính do sự thay đổi của hoàn cảnh – vẫn cũnđáng trân trọng và bền vững Khổng giáo vẫn cũn là kim chỉ nam cho những

ai muốn đem tài sức mỡnh phụng sự những mục tiờu cao quý cho xó hội, đemlại an bỡnh cho nhõn loại, cổ vũ lũng trung tớn giữa bạn bố, và tỡnh cảm yờuthương trân trọng của những người trẻ dành cho các bậc trưởng thượng

Học thuyết của Khổng Tử đó thất bại, bởi lẽ xưa nay vua chúa thườngchỉ định quần thần Cho nên phương pháp tuyển cử do Khổng Tử đề xướng khó

mà thực hiện được Tại Trung Quốc ngày xưa, bầu cử và tuyển chọn là điều kỳquặc không nghe ai nói bao giờ Hơn nữa, người dân thuở ấy thất học và không

có ý thức chớnh trị Tất cả những gỡ Khổng Tử làm được là tác động vào thanhniên, giáo dục họ để mai sau có thể tham chính Nhờ đó họ có thể tạo áp lựccông luận để đặt nhân tài đất nước vào những địa vị lónh đạo đúng chỗ

Mạnh Tử kế thừa vấn đề dân là gốc của Khổng Tử, đưa nhân dân laođộng lên vị trí đầu tiên trong học thuyết của mỡnh, để những người thống trị

Trang 17

phải xem dân làm trọng Tư tưởng đó mang ý nghĩa tích cực vô cựng quantrọng Trong xó hội phong kiến vài ngàn năm sau, những người thống trị sángsuốt chịu ảnh hưởng của tư tưởng này, đều nhấn mạnh về vấn đề dân sinh:

“Nước lấy dân làm gốc, dân coi miếng ăn như trời” là một chân lý vĩnh hằng

3 Người cầm quyền đoan chính thỡ khụng bảo dõn cũng làm.

Khi bàn về “vi chính”, Khổng Tử cho rằng “tư tưởng không tà” là cáiđạo của vi chính Đạo của vi chính là bỏ tà quy chính Nếu bản thân ngườithống trị mà đoan chính thỡ dự khụng ra lệnh, dõn tỡnh cũng đi đúng đường.Ngược lại, người thống trị chẳng ra gỡ thỡ dự lệnh cú ban như nước dân cũngchẳng theo Ông nhấn mạnh người thống trị luôn phải là người mẫu mực, làmgương cho người hơn là dạy người Đó chính là nguyên tắc mà mỗi ngườithống trị cần đạt tới, Nhiều bài học trong lịch sử lưu lại thật sâu sắc ThượngTrụ vương bạo ngược, Trần hậu chủ đâm đóng đều mất nước Đúng như Tuân

Tử nói mỡnh ỏc cũn oỏn người Phải ngược lại chăng?

Khi Quý Khang Tử hỏi Khổng Tử về chính sự, Khổng Tử đó núi:

“Chính sự tức là chính thôi Nếu ta dẫn đầu mọi người bằng chính đạo, thỡliệu cũn ai khụn chớnh nữa đây?” Nước Lỗ đạo tặc như châu chấu, QuýKhang Tử lấy làm lo lắng, lại đến hỏi Ông nói: “Nếu anh không tham lam thỡ

cú cỏc vàng trăm họ cũng chẳng đi trộm”

Cho đến lần thứ ba khi Quý Khang Tử hỏi con đường chính trị để trị quốc,ông vẫn nói chuyện người thống trị phải là tấm gương, quanh quẩn chỉ có thế.Quý Khang Tử hỏi: “nếu đem giết hết những kẻ vô đạo, thỡ liệu những ngườiquân tử thân cận sẽ ra sao?” Ông nói: “Trị nước làm chính thỡ hà tất phải dựngthủ đoạn giết chóc Anh cứ hướng thiện, trăm họ sẽ hướng thiện Đức người quân

tử ví như gió, đức trăm họ ví như cỏ, gió chiều nào cỏ theo chiều ấy”

Thực ra, trong cõu chuyện với Quý Khang Tử, hết lần này đến lần khácKhổng Tử phải nhấn mạnh “mỡnh phải làm gương” là bởi vỡ: ở Quý Khang Tử

cú hiện tượng bất chính Họ quý tiếm dụng Chu lễ, vượt trên vua Lỗ, vỡ thế ễngmới khuyờn Quý phải đoan chính, lấy mỡnh làm gương cho người khác

Mặc khỏc, “lấy mỡnh làm gương” cũn cú ý nghĩa cực kỳ quan trọngđối với những người thống trị biết đoan chính thỡ liệu việc trị quốc cũn cúkhú khăn gỡ nữa đây? Mỡnh khụng nghiờm sao lại nghiờm được với ngườikhác? Tuy nhiên, để có thể đoan chính được thỡ khụng cú cõu trả lời chung

Trang 18

chung mà phải tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của từng người Như Quý Khang Tửtừng hỏi: “Muốn cho trăm họ cung kính, trung thành và cần mẫn thỡ phải làmthế nào?” Khổng Tử nói: “Nét mặt phải trang trọng trước trăm họ thỡ trăm họthỡ trăm họ phải kinh trọng Phải hiếu thuận với cha mẹ, yêu thương mọingười thỡ trăm họ sẽ trung thành Phải trọng dụng người tốt và giáo dục lũngười ác thỡ trăm họ sẽ tự bảo nhau mà gắng sức” Tóm lại là mọi thứ phảibắt đầu từ mỡnh Mỡnh phải làm tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Đối với Tử Trương “ít nói thỡ khụng sai, thận trọng thỡ khỏi hối” Tức

là lỳc thường thỡ nờn nghe nhiều, đặt nghi vấn, thận trọng khi nói chuyện thỡ

ớt mắc sai lầm Phải xem nhiều, đặt nghi vấn, cẩn thận khi làm việc thỡ ớtphải hối hận Cứ như vậy, bản thân sẽ trở nên đoan chính

Đối với Tử Lộ: “Làm việc phải đi đầu, làm cho người khác cũng hănghái như mỡnh” Tử Lộ muốn hiểu rừ thờm, Khổng Tử bổ sung một cõu:

“Khụng được tỏ ra mệt mỏi trong khi làm việc”

Đối với Quý Khang Tử, Tử Trương, Tử Lô, mỗi người mỗi thân phận,mỗi tính cách, tuỳ người Khổng Tử có những yêu cầu riêng tuy cùng một vấn

đề, Như vậy, mới thấy Khổng Tử vận dụng thật nhuần nhuyễn phương phápgiáo dục “tuỳ người mà dạy” Tóm lại, muốn vi chính thỡ bản thõn phải mẫumực, lấy mỡnh mà dạy thỡ hơn dạy bằng lời Chỉ cần khổ thỡ đi trước, hưởnglạc thỡ theo sau, trăm họ trong thiên hạ tất phải răm rắp tuân theo Đối vớingười thống trị mà nói, hành vi của họ vô cùng quan trọng Một lời nói làmcho nước thịnh, một lời nói cũng có thể làm cho nước suy

Một lần, Phàn Trỡ hỏi Khổng Tử về cụng việc nhà nụng, ụng bảo ụngkhụng bằng người cày ruộng Phàn Trỡ lại hỏi về việc trồng rau ễng núi: “Takhụng bằng người làm vườn” Sau khi Phàn Trỡ lại lui ra ngoài, ụng liềnmắng: “Phàn trỡ thực là tiểu nhân! Người bề trên mà súng bái lễ nhạc thỡtrăm họ ai ai cũng phải cung kính Người bề trên mà biết giữ lễ thỡ trăm họlàm gỡ cũn cú ai khụng chõn thành Cứ như vậy, thỡ thiờn hạ, khắp nơi sẽ chocon em theo về, làm gỡ cũn ai phải học trồng trọt nữa”

Cõu nói trên của Khổng Tử đó bị phờ phỏn rất mạnh trong thời kỳ “đạicách mạng văn hoá” Như vậy là ông xem nhẹ nông nghiệp, xem nhẹ nhữngngười lao động trên mặt trận này Nhưng trên thực tế, ông chỉ muốn khuyênPhàn Trỡ phải nõng cao trỏch nhiệm của mỗi người đọc sách, muốn cho

Ngày đăng: 18/06/2022, 14:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Báo Lâm Đồng – bài học “lấy dân làm gốc để chỉnh đốn Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: lấy dân làm gốc để chỉnh đốn Đảng
10. Ban tư tưởng văn hoá trung ương “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”đăng trên báo Hà Nội mới.net ngày 1/3/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
1. Hồ Văn Phi: Đàm đạo với Nxb văn hoỏ thụng tin Khác
2. Nguyễn Hiến Lê: Khổng Tử Nxb văn hoá thông tin năm 2006 Khác
3. PGS. PTS. Dương Xuân Ngọc (chủ biên) Chính trị học đại cương Nxb – chính trị quốc gia – 1999 Khác
5. PGS. PTS. Lờ Doón Tá: Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh – tư tưởng bất diệt – đăng trên báo điện tử Việt Nam. Nét Khác
6. Hải Âu – luụn phải lấy lũng dõn làm thước đo của mỡnh đăng trên báo điện tử Việt Nam nét ngày 30/8/2006 Khác
8. Khổng Giáo, một triết lý về cách xử thế - ThS Đỗ Văn Phúc Khác
9. Hiểu thực để làm theo lời Bác – Sơn Tùng (Lê Nhung ghi trên báo Việt Nam net này 19/5/2006) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w