Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, các tác giả thực hiện đề tàiKX02 – 07 do Phó giáo sư Phùng Hữu Phú chủ biên đã nghiên cứu và khảosát một cách hệ thống và khá toàn diện về nguồn gố
Trang 1TIỂU LUẬNMÔN: LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lý luận xuất sắc và cũng là nhà hoạt độngthực tiễn với nhiều trải nghiệm và kinh nghiệm lớn Người được thế giới tônvinh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn Thấm nhuần sâu sắcquan điểm của Mác – Lênin: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng và từkinh nghiệm thực tiễn của cách mạng Việt Nam người sớm chỉ rõ: Cách mạngkhông chỉ là việc của một, hai người, mà là của cả dân tộc, phải đoàn kết toàndân đưa cách mạng vượt qua khó khăn thử thách để cập bến vinh quang
Đoàn kết là truyền thống vô cùng quý báu của dân tộc ta, trong suốtquá trình lịch sử dụng nước và giữ nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa vànâng truyền thống quý báu đó của dân tộc lên một tầm cao mới, coi đó là tưtưởng, chiến lược của cách mạng Việt Nam Bác Hồ luôn nhấn mạnh: “Đoànkết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công” Trong
Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân, Người dặn: “Điều mong muốn cuốicngf của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng mộtnước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và gópphần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạngViệt Nam, Đảng ta đã kiên trì những nguyên tắc về Đại đoàn kết các dân tộc,đồng thời đã vận dụng phát triển sáng tạo tư tưởng của Người cho phù hợpvới thời đại Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết làđường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của hệthống chính trị xã hội”
Đất nước ta hiện nay không có chiến tranh, nhưng cuộc đấu tranh đểthực hiện dân giàu, nước mạnh, đưa đất nước theo con đường xã hội chủ
Trang 3khăn Chỉ có huy động lực lượng toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước vàsức mạnh đoàn kết dân tộc mới có thể vượt qua được thách thức của thời đạihiện nay.
Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng Đại đoàn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh và
sự thể hiện tư tưởng đó vào điều kiện xây dựng vào bảo vệ đất nước ta tronggiai đoạn hiện nay là điều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Với những lý do trên mà tôi quyết định chọn đề tài “Đảng cộng sảnViệt Nam vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội và trong công cuộc đổi mới hiện nay” làm đề tài tiểuluận của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài.
Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, các tác giả thực hiện đề tàiKX02 – 07 do Phó giáo sư Phùng Hữu Phú (chủ biên) đã nghiên cứu và khảosát một cách hệ thống và khá toàn diện về nguồn gốc và nội dung tư tưởng đạiđoàn kết của Hồ Chí Minh trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam.Các tác giả Nguyễn Khánh Bật – Bùi Đình Phong “Một số nội dung cơ bảntrong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh” đã đi sâu nghiên cứu làm rõ nhữngđiều kiện và cơ sở hình thành tư tưởng đại đoàn kết, cũng như nội dung và giátrị trường tồn của tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh Ngoài hai nhóm tácgiả trên, cần phải kết đến các giáo sư: Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm… đã
có nhiều bài viết khá sâu sắc về một số khía cạnh, một số nội dung tư tưởngđại đoàn kết Hồ Chí Minh
Như vậy là, những vấn đề cơ bản về nguồn gốc, cơ sở hình thành và nộidung tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh đã dần dần được sáng tỏ Tuyvậy, việc nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện hệ thống tư tưởng Hồ ChíMinh nói chung và tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh nói riêng vẫn tiếptục được đặt ra, tiếp tục đi sâu hơn nữa trong tình hình mới Mặc dù vậy dohạn chế về thời gian và trình độ, trong tiểu luận nhỏ này, tôi chỉ đặt ra nhiệm
vụ tìm hiều và trình bày lại dưới hình thức cô đọng vận dụng của Đảng cộng
Trang 4sản Việt Nam về đại đoàn kết trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trongtình hình mới.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu,
Tiểu luận nghiên cứu quá trình Đảng cộng sản Việt Nam vận dụng tưtưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết thông qua giai đoạn lịch sử cụ thể Từ đórút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thiết thực với việc củng cố vàxây dựng khối Đại đoàn kết hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu.
Ngoài việc sử dụng phương pháp lịch sử và logic là chủ yếu, tác giảcòn sử dụng một số phương pháp khác như: Phân tích tổng hợp, thống kê sosánh… để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
5 Kết cấu của tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận Tiểu luận được kết cấu thành 2 chương tiết
Trang 5NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là tấm gương, là di sản vôgiá cho giai cấp công nhân và dân tộc ta Trong đó, mọi thế hệ người ViệtNam và bạn bè gần xa trên khắp hành tinh đề có chung một cảm nhận Tưtưởng đại đoàn kết của người là ngọn cờ tập hợp các lực lượng yêu nước,yêu hoà hình và tiến bộ xã hội Trong suốt cuộc đời cách mạng oanh liệtcủa mình, Hồ Chí Minh luôn luôn nêu cao tư tưởng đại đoàn kết, xây dựngmặt trận dân tộc thống nhất và kết gắn dân tộc Việt Nam với khối đoàn kếtnhân dân toàn thế giới Nhiều người khẳng định đại đoàn kết không chỉ là
tư tưởng lớn, nổi bật của Hồ Chí Minh, mà đã trở thành một chiến lượccách mạng Đồng chí Đỗ Mười viết: “Đại đoàn kết là chiến lược cơ bản,xuyên suốt của chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách mạng dân tộc dân chủcũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa”
1 Cơ sở hình thành tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.
Nói về cơ sở hình thành tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh phântích tư tưởng của Người với tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng là truyềnthống của dân tộc Việt Nam Nhưng đến “Cụ Hồ thì đại đoàn kết được xâydựng trên cả một lý luận chứ không còn đơn thuần là tình cảm tự nhiên của:
“Người trong một nước phải thương nhau cùng” Sự thật, tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết được hình thành và hoàn thiện trên một nền tảng lýluận, thực tiễn rất phong phú và vững chắc
Trước hết là truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồngcủa dân tộc Việt Nam, là kinh nghiệm và tư tưởng tập hợp lực lượng dân tộc
để cứu nước, dựng nước của các thế hệ yêu nước, cách mạng tiền bối Có thểnói đây là cơ sở đầu tiên sâu xa cho sự hình thành tư tưởng đại đoàn kết của
Hồ Chí Minh
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là sự nối tiếphàng ngàn năm những cuộc đấu tranh không mệt mỏi chống thiên tai, địchhọa Từ những cuộc đấu tranh trường kỳ đó đã sớm nảy sinh và định hình ýthức cộng đồng, ý thức tập thể cao hơn là ý thức dân tộc, ý thức này thấm sâuvào máu của con người Việt Nam và được trao truyền từ thế hệ này sang thế
Trang 6hệ khác, để tạo thành truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa trên nền tảng chủnghĩa yêu nước Thực tế lịch sử cho thấy rằng, cuộc đấu tranh dựng nước vàgiữ nước càng quyết luệt thì lại càng tôi luyện cho dân tộc Việt Nam một sựđoàn kết thống nhất chặt chẽ.
Với người Việt Nam, yêu nước – đoàn kết – nhân nghĩa đã trở thànhmột tình cảm tự nhiên: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nướcphải thương nhau cùng” thành một triết lý nhân sinh: “Một cây làm chẳng lênnon, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” thành phép ứng xử và tư duy chính trị:
“Tình làng, nghĩa nước”, “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” Nhữnggiá trị nhân bản sâu sắc và quý giá này đã được những người anh hùng dântộc (Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…) đúc kết, nâng lênthành kinh nghiệm, thành phép trị nước và đánh giặc: “Trên dưới đồng lòng,
cả nước chung sức…” Hồ Chí Minh sớm hấp thụ những giá trị nhân bản củatruyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa đó và cảm nhận sâu sắc sứcmạnh vô biên của truyền thống này: “Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bịxâm lăng thì tinh thần (yêu nước) ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vôcùng mạnh mẽ, to lớn (đoàn kết), nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nónhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”
Bên cạnh những giá trị truyền thống dân tộc mà trong đó truyền thốngyêu nước đứng ở vị trí hàng đầu của bậc thang giá trị và truyền thống đoànkết khá nổi trội, độc đáo và xuyên suốt thì cần phải kể đến một số nhân tố tưtưởng lý luận khác đã tác động và ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh
Đó là những giá trị văn hoá phương Đông, Tây phương và tư tưởngtập hợp lực lượng của các nhà cách mạng lớn ở khu vực, trên thế giới cũng
là những cơ sở quan trọng giúp Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng đại đoànkết dân tộc
Trên bước đường hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã có dịp tiếpxúc với nhiều nhà ái quốc, cách mạng tiêu biểu của các quốc gia Ngườithường nhắc tới hai nhà cách mạng lớn: Tôn Dật Tiên (Trung Quốc) vàGandhi (Ấn Độ) Tư tưởng cách mạng nói chung, tư tưởng tập hợp lực lượngyêu nước tiến bộ của hai nhà cách mạng lớn này nói riêng, cũng là những cơ
sở lý luận mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu, chọn lọc để hình thành tư tưởng đạiđoàn kết
Trang 7Mặc dù vậy, có thể khẳng định, cơ sở lý luận quan trọng nhất đối vớiquá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết chính là nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có những quan điểm:cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử
và những khẩu hiệu chiến lược: “Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại”, “Vô sảntoàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” của chủ nghĩa Mác –Lênin Người cho rằng: các dân tộc thuộc đại và phụ thuộc có sức mạnh,nhưng đấu tranh giải phóng dân tộc, họ chưa biết đoàn kết lại, chưa có tổchức và chưa biết tổ chức, họ rơi vào thế “đơn độc” Trong khi chủ nghĩa
đế quốc lại thực hiện nhất quán chính sách “chia để trị” trên bình diện từngnước và toàn thế giới Hồ Chí Minh kết luận: Dù màu da có khác nhau,nhưng trên thế giới này chỉ có hai giống người, giống người bóc lột vàgiống người bị bóc lột, mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi.Tình hữu ái vô sản Người nhắc nhở những người bị áp bức ở chính quốc
và nhân dân thuộc địa: “Đứng trước chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc,quyền lợi của chúng ta là thống nhất, các bạn hãy nhớ lời kêu gọi củaC.Mác: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Lao động tất cả các nước, đoàn kết lại”
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tin theo Quốc tế Cộngsản (Quốc tế III) trước hết là vì, Lênin là “hiện thân của tình anh em bốn bể”
là chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra sự cần thiết và con đường tập hợp, đoànkết các lực lượng cách mạng trong phạm vi từng nước trên toàn thế giới vàocuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Một mặt, cần nhấn mạnh rằng, chínhnhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin mà Hồ Chí Minh có cơ sởkhoa học để đánh giá chính xác những yếu tố tích cực, những hạn chế trongcác di sản truyền thống và văn hoá nhân loại, trong tư tưởng tập hợp lựclượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và các nhà cách mạng lớn trênthế giới, từ đó, hình thành, hoàn thiện tư tưởng đại đoàn kết Song, mặt kháclại phải thấy một sự thật, với Hồ Chí Minh, trước sau, chủ nghĩa Mác - Lênin
dù vô cùng quan trọng, dù là “Kim chỉ nam” là “Cẩm nang thần kỳ” nhưngkhông bao giờ và chưa bao giờ là một giáo điều, một công thức dập khuôn, sơcứng Vì thế việc tiếp thu, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin của HồChí Minh là cả một quá trình gắn với hoạt động thực tiễn trên cơ sở yêu cầu
Trang 8của thực tiễn, là quá trình vừa nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và hoạtđộng thực tiễn.
Phẩm chất và năng lực Hồ Chí Minh, có thể nói chủ nghĩa nhân vănđạo đức trong sáng là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành nên tưtưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh Thể hiện ở chỗ: Người đã kết hợp hài hoàchủ nghĩa yêu nước, truyền thống dân tộc với tinh hoà văn hoá phương Đông,phương Tây và đặc biệt chủ nghĩa Mác - Lênin Tư tưởng đại đoàn kết củangười không chỉ dừng lại ở tư tưởng mà biến thành hiện thực, thành sức mạnhvật chất Hồ Chí Minh là một tấm gương về đạo đức, nhân văn nên có sức quy
tụ tư tưởng tình cảm đạo đức của người hoà quyện vào nhau Tư tưởng soisáng tình cảm và đạo đức, tình cảm đạo đức tôn cao sức hấp dẫn cuốn hút tưtưởng Vì thế tư tưởng của người đã trở thành ngọn cờ lôi cuốn tập hợp lựclượng, hướng dẫn quần chúng hành động
Về mặt thực tiễn, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh được hìnhthành trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm và nắm bắt những đòi hỏi kháchquan của phong trào cách mạng Việt Nam, phong trào cách mạng thế giới,trực tiếp là phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
Thực tiễn hào hùng và bi thương của phong trào yêu nước chống Phápcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng minh rằng, tinh thần yêu nước,chống ngoại xâm của nhân dân ta đời nào cũng có, rằng sức mạnh đoàn kếtđánh giặc luôn tiềm ẩn trong mỗi người Việt Nam, song, bước vào thời đạimới, để có thể đánh bại các thế lực đế quốc chủ nghĩa xâm lược không chỉdựa vào sức mạnh đoàn kết tự phát Thời đại mới, cuộc chiến đấu mới đòi hỏiphỉa có một sức mạnh đoàn kết tự giác, có tổ chức của cả một dân tộc Bi kịchcủa đất nước, của dân tộc ta lúc này là ở chỗ thiếu một giai cấp, một vĩ nhân
đủ tầm, đủ sức xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, chiến đấu chống kẻ thùdưới ngọn cờ của một tư tưởng tiên tiến Hồ Chí Minh ở thời điểm đầu thế kỷ
XX chưa có đủ khả năng để lý giải thấu đáo nguyên nhân thành bại của phongtrào yêu nước chống Pháp, song bằng sự mẫn cảm chính trị đặc biệt, người đãcảm nhận được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng, tìm chọnđồng minh của các nhà yêu nước tiền bối, những nhu cầu khách quan mới củalịch sử dân tộc Đây chính là điểm xuất phát để người “Muốn đi ra ngoài, xem
Trang 9nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở
về giúp đồng bào chúng ta”
Như vậy, thực tiễn đất nước những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XXvới sự hào hùng, bi tráng, với những bế tắc và đòi hòi… Chính là cơ sở quantrọng cho sự hình thành chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Trong quá trình đi tìm chân lý cứu nước, Hồ Chí Minh đã tiến hànhkhảo sát tỉ mỉ, toàn diện tình hình của các nước tư bản chủ nghĩa và các nướcthuộc địa ở hầu khắp các châu lục Từ vốn hiểu biết hết sức phong phú về đờisống chính trị - xã hội quốc tế, Hồ Chí Minh đã rút ra những nhận thức quantrọng
Thế giới dù hết sức đa dạng, nhân loại dù vô cùng đông đảo, song suycho cùng, chỉ có hai loại người: Bóc lột và bị bóc lột Những người bị bóc lột
dù màu da khác nhau, ở những quốc gia khác nhau, đều có chung cảnh ngộđói khổ, lầm than và do vậy, họ có nhu cầu, nguyện vọng chung – đó là cơ sở
để liên hiệp lại
Nguyên nhân thất bại của phong trào cách mạng thuộc địa, suy chocùng, theo nhận thức của Hồ Chí Minh là do các dân tộc bị áp bức, bóc lột ởcác nước thuộc địa chưa có lý luận tiên tiến soi đường, chưa có chính đảngtiên phong của giai cấp vô sản đứng ra tập hợp, tổ chức
Các dân tộc bị áp bức, bóc lột ở các nước thuộc địa chưa có sự liên kếtvới nhau trên phạm vi quốc tế để tiến hành cuộc đấu tranh chung chống chủnghĩa thực dân
Giữa phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa vớiphong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa còn thiết sự phối hợp, gắn kết, hỗtrợ lẫn nhau, làm hạn chế sức mạnh của trận tuyến đấu tranh chống chủ nghĩa
đế quốc
Những nhận thức quan trọng đúc kết từ thực tiễn phong trào cách mạngthế giới chính là cơ sở vững chắc để Hồ Chí Minh hình thành tư tưởng chiếnlược đoàn kết quốc tế - một bộ phận hữu cơ trong chiến lược đại đoàn kết HồChí Minh, trong đó có những luận điểm nỗi bật về “Con đỉa hai vòi” về “Đôicánh chim” của phong trào cách mạng thế giới, về khả năng thắng lợi trước
và vai trò chủ động của cách mạng thuộc địa đối với cách mạng vô sản ởchính quốc… có thể nó, đó là những phát kiến, những bổ sung có giá trị của
Trang 10Hồ Chí Minh vào lỳ luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin về thuộc địa vàcách mạng giải phóng dân tộc, mà những phát kiến này là sản phẩm trực tiếpcủa quá trình phân tích, tổng kết thực tiễn phong trào cách mạng thế giớinhững thập niên đầu thế kỷ XX.
Tư tưởng đại đoàn kết là tư tưởng lớn, nhất quán, xuyên suốt trong tưtưởng lý luận và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh Nó là sự phát triển caotruyền thống đoàn kết dân tộc trong điều kiện lịch sử mới Với tư tưởng này,
Hồ Chí Minh đã khơi lại nguồn và phát huy thành công sức mạnh vô địch củakhối đại đoàn kết toàn dân tộc Vì mục tiêu độc lập thống nhất dân tộc, vì sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Tư tưởng đại đoàn kết Hồ ChíMinh là bộ phận hữu cơ cấu thành đường lối, chiến lược của Đảng ta trongsuốt tiến trình cách mạng Việt Nam Tư tưởng ấy đã và đang phát huy tácdụng to lớn trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Từ những luận điểm về đoàn kết, đại đoàn kết được Hồ Chí Minh trìnhbày trong các bài viết, bài nói của Người, từ cuộc đời hoạt động cách mạng vôcùng phong phú và cao thượng của lãnh tụ, từ thực tiễn cách mạng Việt Nammấy chục năm qua có thể đi đến những nhận thức chung nhất về nội dung cơbản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
a Phân biệt rõ bạn – thù.
Vấn đề trước tiên, chung nhất của nội dung tư tưởng đại đoàn kết của
Hồ Chí Minh, cả trong đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế và kết hợp sứcmạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là cần phân biể rõ ai là bạn, ai là thù củacách mạng Trong hoạt động lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh luôn luôn đỏihỏi cần xác định rõ ai, lực lượng nào phải đoàn kết, ai, lực lượng nào phảichống lại Chính xuất phát từ yêu cầu cách mạng phải xác định rõ bạn thù màtrong tác phẩm Đường cách mệnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Mục đích sách này
là để nói cho đồng bào ta biết rõ… ai là bạn? Ai là thù ta?” Tư tưởng nàykhông chỉ cần thiết trong đấu tranh giành chính quyền mà xuyên suốt cả quátrình cách mạng Việt Nam Năm 1962, khi đất nước thực hiện đồng thời hainhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hoàn thànhcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất đấtnước, Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin dạy chúng ra
Trang 11rằng: Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù,phải thực hiện them bầu bạn, bớt kẻ thù”
Phân biệt rõ bạn thù trong quá trình đấu tranh cách mạng là một cống hiếnxuất sắc của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và thế giới Đây lànguyên nhân đưa cách mạng Việt Nam đi từ thứng lợi này đến thắng lợi khác
đề sống còn của cách mạng
- Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không đơn thuần lànhững luận điểm về phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng, là caohơn, đó là những luận điểm có ý nghĩa nền tảng, xuyên suốt trong cương lĩnhchính trị của Đảng cộng sản – Bộ tham mưu của cách mạng Như vậy, tư tưởngđại đoàn kết dân tộc phải là điểm xuất phát, và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cácđường lối, chủ trương của lực lượng lãnh đạo cách mạng của Đảng cộng sản
- Đại đoàn kết dân tộc, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không phải là mộtchủ trương, một ý đò xuất phát từ sự cần thiết, từ ý muốn chủ quan của lựclượng lãnh đạo cách mạng, mà là sự đúc kết những nhu cầu khách quan của
sự nghiệp cách mạng do quần chúng tiến hành Đúng như sinh thời, Hồ ChíMinh thường căn dặn: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải làmột thủ đoạn chính trị”
Chỉ có quán triển sâu sắc những quan điểm có ý nghĩa nền tảng nàymới có cơ sở vững chắc để tiếp cận và hiểu thấu đáo những nội dung cơ bảncủa tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
b Những nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Trang 12Từ năm 1930 đến năm 1969, ở cương vị người lãnh đạo cao nhất củaĐảng, của dân tộc, Hồ Chí Minh đã không ngừng bổ sung, hoàn thiện tưtưởng đại đoàn kết dân tộc cho phù hợp với sự vận động, phát triển của thựctiễn cách mạng qua các giai đoạn Xét trên những nội dung cụ thể tư tưởngđại đoàn kết dân tộc của người có những điểu chỉnh nhất định, song trước sau,trong tư tưởng của người vẫn nhất quán những nguyên tắc bất di, bất dịch và
đó chính là những nguyên tắc “bất biến” mà Hồ Chí Minh đã sử dụng để “ứngvạn biến” của thời cuộc
Trước hết, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc hang đầu là: đạiđoàn kết dân tộc phải được xây dựng, củng cố trên nền tảng thống chủ nghĩayêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, lợi ích tối cao của dân tộc với quyềnlợi của nhân dân lao động và quyền thiên liêng của con người Thực chất,nguyên tắc này là sự kết tinh tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ biệnchứng giữa Dân tộc – giai cấp – nhân loại
Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân là một nguyêntắc cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Dân, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là một khái niệm để chỉ mọi “condân đất Việt” để chỉ “mỗi một người con Rồng cháu Tiên”, không phân biệt
“già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện” với người, khái niệm dân được mởrộng biên độ đến tất cả những ai còn thừa nhận mình là con dân nước Việt.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng,vừa được hiểu là một con người Việt Nam cụ thể, và cả hai đều là chủ thể củađại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh nói và viết về dân trong khối đại đoàn kết dân tộc Nhữngluận điểm về nguyên tắc tin dân, dựa vào dân, vì dân có khi được người trìnhbày rất giản dị: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhândân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhândân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền nhà,gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt còn phải đoàn kết các tầng lớpnhân dân khác” Cũng có khi những luận điểm này được người khái quát ởmột tầm rất cao sâu: “Trong bầu trời không có gì quý giá bằng dân Trong thếgiới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và “gốc cóvững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân…”
Trang 13Có thể nói, nguyên tắc tin dân, vì dân là hạt nhân cơ bản trong tư tưởngđại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh, và thông qua cuộc đời tranh đấu caođẹp vì dân, vì nước của Người, nguyên tắc đó đã thẩm thấu, hoá thân vào thựctiễn cách mạng, liên kết triệu, triệu người Việt Nam yêu nước vào cuộc đấutranh vì độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dânđiệp điệp, trùng trùng như đại ngàn trường xuân bất lão.
- Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, đại đoàn kếtlâu dài, bền vững là một nguyên tắc nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc không phải là mộttập thể hỗn loạn, tuỳ tiện, lỏng lẻo, mà là một khối đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ,một tập hợp có tổ chức, tính chất của khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện quaviệc mở rộng biên độ tập hợp mọi giai tầng xã hội, mọi ngành giới, lứa tuổi,tôn giáo, dân tộc, cá nhân… vào Mặt trận dân tộc thống nhất
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề đại đoàn kết dân tộc gắn liềnvới vấn đề vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Một mặt, Đảng cộng sản làmột bộ phận hữu cơ của khối đoàn kết dân tộc, mặt khác, Đảng cộng sản lại
là lực lượng lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc Hồ ChíMinh thường căn dặn: “Để làm tròn trách nhiệm lãnh đạo cách mạng, chúng
ta phải dựa vào giai cấp công nhân, lấy liên minh công – nông làm nền tảngvững chắc để đoàn kết các tầng lớp trong nhân dân Có như thế mới pháttriển và củng cố được lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợicuối cùng”
Đồng thời với việc nhận thức, giải quyết đúng quan hệ giai cấp – dântộc, trong nguyên tắc chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh còn bao hàm sựkết hợp chặt chẽ đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế
c Đại đoàn kết quốc tế.
cũng như việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc, mục tiêu đoàn kết quốc
tế trước hết và trên hết nhằm phục vụ mục tiêu đấu tranh cho độc lập tự docủa tổ quốc Vượt qua sự hạn chế của các bậc tiền bối, Hồ Chí Minh đã đặtViệt Nam trong bối cảnh chung của tình hình thế giới và coi cách mạng ViệtNam là một bộ phận của cách mạng thế giới
Xác định đối tượng đoàn kết chủ yếu là ba lực lượng, phong trào cộngsản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào hoà
Trang 14bình thế giới, trước hết là phòng trào chống chiến tranh của nhân dân các nướcđang xâm lược chúng ta Từ năm 1920, Hồ Chí Minh đã lên tiếng: “Nhân danhtoàn thể loài người, nhân dân tất cả các đảng viên xã hội, cả phái hữu lẫn phái
tả, chúng tôi kêu gọi: Các đồng chí, hãy cứu chúng tôi”, và trên thực tế, lịch sử
đã ghi nhận sự ủng hộ lớn lao của Liên Xô, của các nước xã hội chủ nghĩa, củacác đảng cộng sản và công nhân thế giới đối với hai cuộc kháng chiến trường
kỳ của nhân dân ta Lịch sử ngày nay đã có nhiều biến đổi, song sự đồng tìnhvới sự nghiệp chống đế quốc, sự viện trợ về vật chất của các nước xã hội chủnghĩa và của các lực lượng cộng sản và công nhân là điều không thể phủ nhận
Nó đã thực sự là một nhân tố rất quan trọng góp phần vào thắng lợi cuối cùngcủa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam
Trong mối quan hệ đối ngoại, Hồ Chí Minh kết hợp chặt chẽ việc giữvững độc lập tự chủ với việc tăng cường đoàn kết quốc tế
Ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng, người đã sớm xác định
“muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã” Trongcác tình huống phức tạp của thế giới, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đề ra mộtcách chính xác đường lối cách mạng phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn ViệtNam Năm 1945, khi thời cơ đến, người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãyđứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” Khẳng định quyết tâm tựgiải phóng, cách mạng tháng Tám đã thành công trước bao âm mưu của cácthế lực đế quốc cùng bọn tay sai phản động Trong những năm đầu của cuộckháng chiến, Việt Nam hầu như bị cách biệt với bên ngoài, Hồ Chí Minh khaithác mọi khả năng để liên hệ với quốc tế, đồng thì vạch ra đường lối khángchiến chống Pháp Một mặt, nhân dân ta quyết tâm chiến đấu kháng chiến đếncùng, mặt khác vẫn bày tỏ thiện chí với chính quyền Pari với yêu cầu cơ bản:Công nhận nền độc lập và thống nhất của Việt Nam Từ đầu năm 1950, quan
hệ quốc tế được mở rộng, cách mạng Việt Nam giành được sự đồng tình ủng
hộ của bầu bạn trên thế giới đã từng bước đạt đến thắng lợi Điện Biên Phủ vàHiệp định Giơnevơ Cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra trong một thế chênhlệch khắc nghiệt hơn về tương quan lực lượng, lại vào lúc xuất hiện mối quan
hệ bất hoà trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Hồ Chí Minh kiêntrì đường lối chống Mỹ, cứu nước, ra sức tranh thủ sự đồng tình và sự viện trợcủa các nước xã hội chủ nghĩa và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, đồng