DÂN SỰ 3 1 Trình bày khái niệm nghĩa vụ dân sự và bình luận Điều 274 BLDS 2015 Điều 274? Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định về nghĩa vụ dân sự (NVDS) tại Điều 274 như sau “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)” Từ quy định.
Trang 1DÂN SỰ 3
1.Trình bày khái niệm nghĩa vụ dân sự và bình luận Điều 274 BLDS 2015
Điều 274?
Bộ luật Dân sự (BLDS) quy định về nghĩa vụ dân sự (NVDS) tại Điều 274 như sau:
“Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên cónghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiệncông việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiềuchủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”
Từ quy định trên có thể thấy: NVDS là một loại quan hệ, trong đó phải có ít nhất là hai bên(bên có quyền, bên có nghĩa vụ) mỗi bên có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia Bên cónghĩa vụ phải thực hiện yêu cầu của bên có quyền, nếu không thực hiện, thực hiện khôngđúng yêu cầu thì phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định.Tiếp đó, NVDS là một loại quan
hệ pháp luật dân sự, do vậy cũng mang những đặc điểm chung của loại quan hệ này Bêncạnh đó, NVDS vẫn có những nét đặc thù, riêng biệt cụ thể:
Thứ nhất, NVDS là một loại quan hệ tài sản: Quan hệ tài sản được hiểu là mối quan hệgiữa các bên thông qua một lợi ích vật chất cụ thể mà các bên cùng hướng tới Từ Điều 274BLDS có thể thấy hành vi thực hiện nghĩa vụ có thể là sự chuyển dịch tài sản (vật, tiền, giấy
tờ có giá, quyền tài sản) giữa các bên hoặc là một loại quan hệ mà trong đó có ít nhất một bênđược hưởng lợi (vd: Bồi thường thiệt hại, thực hiện công việc ủy quyền…) Tuy nhiên dù có
là một quan hệ chuyển dịch tài sản hay là quan hệ mà trong đó có ít nhất một bên được hưởnglợi thì về bản chất NVDS là một quan hệ tài sản
Thứ hai, NVDS là mối quan hệ pháp lý ràng buộc giữa các bên chủ thể: Đặc điểm trên chothấy tính cưỡng chế thi hành của loại quan hệ này NVDS khác với Nghĩa vụ tự nhiên ở chỗ
nó được Nhà nước công nhận và được đảm bảo thi hành bởi pháp luật Mặc dù nghĩa vụ dân
sự là quan hệ giữa các bên nhằm hướng tới một lợi ích nhất định, tuy nhiên lợi ích mà các bênhướng tới không được trái với ý chí của nhà nước và nhà nước sẽ kiểm soát việc sự thỏathuận cũng như việc thực hiện NVDS thông qua việc quy định những quyền và nghĩa vụ cụthể đối với từng loại NVDS
Trang 2Thứ ba, hành vi thực hiện NVDS của chủ thể có nghĩa vụ luôn mang lại lợi ích cho chủ thể
có quyền:Xuất phát từ mục đích của các bên chủ thể khi tham gia quan hệ NVDS là hướngtới một lợi ích nhất định (vật chất hoặc tinh thần) do đó, thông qua hành vi thực hiện NVDS
mà lợi ích của các chủ thể sẽ đạt được
Thứ tư, NVDS là một loại quan hệ đối nhân (quyền đối nhân): Quan hệ đối nhân là quan
hệ mà trong đó một bên chủ thể có quyền đối với một bên xác định , hoặc cả hai bên đều cónhững quyền và nghĩa vụ nhất định đối với nhau Quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thểtrong quan hệ NVDS vừa đối lập lại vừa có mối quan biện chứng với nhau
2 Phân biệt nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ tự nhiên, nghĩa vụ đạo đức
- Nghĩa vụ dân sự có hiệu lực pháp lý được NN công nhận và bảo đảm thi hành thôngqua pháp luật Người có nghĩa vụ nếu như ko thực hiện hoặc thực hiện ko đúng thì sẽ phảichịu hậu quả pháp lý nhất định
- Nghĩa vụ đạo đức không có hiệu lực pháp lý mà chỉ đơn thuần là nghĩa vụ lươngtâm Chẳng hạn một người làm từ thiện đóng góp tiền nuôi những đứa trẻ mồ côi Khoản tiềnđóng góp hay thời gian đóng góp hoặc chính sự đóng góp phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng
và lòng hảo tâm của người làm từ thiện
- Đối với loại nghĩa vụ nghĩa vụ tự nhiên, nếu người thụ trái đã tự nguyện thực hiệnthì không thể đòi lại Điều đó có nghĩa là sự tự nguyện thực hiện đó đã ràng buộc về mặt pháp
lý đối với người thụ trái Từ đó có thể hiểu pháp luật đã cấp hiệu lực cho trường hợp này vìkhi nghĩa vụ đã được thực hiện thì người thụ trái không thể nói ra rằng không có một nghĩa
vụ để đòi lại những gì mà mình đã thực hiện (Trong khi đó, trái quyền, còn gọi là quyền đốinhân, là quyền cho phép một người gọi là trái chủ đòi hỏi một người khác, gọi là thụ trái,thực hiện một việc.)
3 Trình bày đặc điểm pháp lý của nghĩa vụ
Nếu nhìn nhận nghĩa vụ ở trạng thái là một quan hệ pháp luật dân sự thì so với các quan hệpháp luật dân sự khác, quan hệ nghĩa vụ có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, nghĩa vụ là sự ràng buộc pháp lý giữa ít nhất là hai người đứng về hai phía
chủ thể khác nhau
Trang 3Dù được hình thành theo thoả thuận hay theo luật định thì nghĩa vụ luôn là sự ràng buộcgiữa các bên về việc phải làm hay không được làm một việc nhất định Bên phải làm mộtcông việc nếu không làm sẽ phải gánh chịu chế tài của luật Tùy từng trường hợp, mỗi bêntrong nghĩa vụ có thể có nhiều người hoặc nhiều chủ thể khác tham gia nhưng cũng có thểmỗi một bên chỉ có một người tham gia.
Thứ hai, quyền và nghĩa vụ dân sự của hai bên chủ thể đối lập nhau một cách tương ứng
và chỉ có hiệu lực trong phạm vi giữa các chủ thể đã được xác định
Nghĩa vụ và quyền luôn đi đôi với nhau, nói đến quyền là nói đến nghĩa vụ Tuy nhiên, nóiđến quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ là nói đến sự đối lập, tính tương ứng về quyền
và nghĩa vụ giữa các bên Nói một cách cụ thể hơn, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bênkia và ngược lại Bên này có bao nhiêu quyền với phạm vi bao nhiêu thì bên kia sẽ có bấynhiêu nghĩa vụ với phạm vi tương ứng Mặt khác, trong quan hệ nghĩa vụ, cả chủ thể mangquyền, cả chủ thể mang nghĩa vụ luôn luôn được xác định một cách cụ thể nên quyền của bênnày chỉ là nghĩa vụ của bên kia Nói cách khác, mối quan hệ về quyền và nghĩa vụ trong quan
hệ này không liên quan đến người khác ngoài các chủ thể đã được xác định cụ thể Trong một
số trường hợp, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ này có thể liên quan đếnngười thứ ba nhưng người thứ ba đó phải là người đã được xác định cụ thể trước
Ví dụ, trong quan hệ cho vay, bên có quyền đòi nợ là người đã cho vay, bên có nghĩa vụ trả
nợ là người vay nhưng cũng có thể người phải trả khoản nợ đó lại là người thứ ba (là ngườibảo lãnh đã được các bên xác định trước).Chính từ đặc điểm này mà quan hệ pháp luật vềnghĩa vụ được coi là loại quan hệ pháp luật tương đối Đồng thời cũng qua đặc điểm này,chúng ta thấy rằng quan hệ pháp luật về nghĩa vụ hoàn toàn khác với quan hệ pháp luật về sởhữu Trong quyền sở hữu, chỉ có chủ thể mang quyền là được xác định cụ thể nên tất cả cácchủ thể khác đều phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền dân sự của chủ thể mang quyền đó.Chủ sở hữu tự thực hiện các quyền đối với tài sản để đáp ứng các nhu cầu của mình, vì vậyquyền dân sự trong quan hệ pháp luật về sở hữu là quyền tuyệt đối
Thứ ba, quan hệ nghĩa vụ là quan hệ trái quyền nên quyền của các bên chủ thể là quyền
đối nhân
Nếu trong quan hệ sở hữu, quyền của chủ thể mang quyền được thực hiện bằng hành vicủa chính họ thì trong quan hệ nghĩa vụ dân sự quyền của bên này lại được thực hiện thôngqua hành vi của chủ thể phía bên kia Nói cách khác, quyền của bên này chỉ được đáp ứng khi
Trang 4bên kia đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ.Mặt khác, nếu việc thực hiện quyền trong quan
hệ sở hữu là việc tác động trực tiếp đến vật thì trong nghĩa vụ dân sự người mang quyền dân
sự không được tác động trực tiếp đến tài sản của người mang nghĩa vụ Khi người mangnghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đó, người mang quyền chỉ có thể sử dụng các phươngthức mà pháp luật đã quy định để tác động và yêu cầu người đó phải thực hiện nghĩa vụ chomình Nói cách khác, trong nghĩa vụ, quyền của người này là đối với người có nghĩa vụ bênkia chứ không đối với tài sản của họ
4 So sánh đặc điểm pháp lý của trái quyền và vật quyền
Đưa ra khái niệm?
- Vật quyền là quyền cho phép chủ thể chi phối trực tiếp lên vật mà ko phải thông qua
1 hành vi của ng khác (quyền đối vật)
- Trái quyền là quyền yêu cầu chủ thể khác thực hiện một công việc (quyền đối nhân)Đặc điểm pháp lý
Vật quyền là quyền tuyệt đối, có tính chất đối kháng, có tính loại trừ, có tính chất chi phốinên vật quyền do luật định cụ thể trên mọi khía cạnh: các loại vật quyền, nội dung, hiệu lựccủa vật quyền và cách thức công khai vật quyền => nếu ko tuân theo nguyên tắc luật định thìtrật tự XH và trật tự giao dịch có thể bị xáo trộn làm ảnh hưởng đến lợi ích chung và lợi íchcủa chính chủ thể
Trái quyền để phát huy cao nhất năng lực của các chủ thể thì tự do ý chí, tự do thỏa thuậnphải là nguyên tắc cơ bản miễn sao ý chí của chủ thể ko vi phạm điều cấm, đạo đức XH Bênthụ trái phải đảm bảo sử dụng tài sản thuê theo đúng công dụng của tài sản và đúng mục đích
đã thoả thuận và phải trả đủ tiền thuê đúng thời hạn đã thỏa thuận; nếu không có thoả thuận
về thời hạn trả tiền thuê thì thời hạn trả tiền thuê được xác định theo tập quán nơi trả tiền; nếukhông thể xác định được thời hạn theo tập quán thì bên thuê phải trả tiền khi trả lại tài sảnthuê
5 Phân biệt khái niệm quyền yêu cầu và trái quyền
Khái niệm quyền yêu cầu: Trong giao dịch dân sự, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa
vụ với bên có quyền Tuy nhiên, bên có nghĩa vụ không phải lúc nào cũng thực hiện đầy đủ
Trang 5nghĩa vụ đúng hạn Để bên có nghĩa vụ có thể chủ động trong hơn, và nhanh chóng hoànthành nghĩa vụ, pháp luật đã trao cho bên có quyền quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ Khiđến hạn mà bên có nghĩa vụ vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ của mình thì bên có quyền yêu cầu
họ phải thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ Quyền yêu cầu là sự đôn đốc, nhắc nhở thực hiệnnghĩa vụ, tránh việc chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ
Khái niệm trái quyền: Trái quyền hay còn được gọi là trái vụ là quyền của một người,được phép yêu cầu một người khác thực hiện một nghĩa vụ tài sản đối với mình Đó có thể lànghĩa vụ làm hoặc không làm một việc hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản Nói cách khác tráiquyền là quyền cho phép một người gọi là trái chủ đòi hỏi một người khác, gọi là thụ trái,thực hiện một việc Điều đó có nghĩa rằng, để quan hệ trái quyền vận hành hoàn hảo, nhấtthiết phải có sự hợp tác của cả trái chủ và thụ trái
6 Phân tích các căn cứ phát sinh nghĩa vụ
Điều 275?
- Hợp đồng, là sự thỏa thuận của các bên qua đó làm phát sinh, thay đổi, chấm
dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Thông thường, trong quan hệ hợp đồng quyền và nghĩa vụ củacác bên có tính đối xứng nhau, quyền của bên này tương đương với nghĩa vụ của bên kia vàngược lại Nghĩa vụ dân sự phát sinh tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực Điều đó đồng nghĩavới việc chỉ khi hợp đồng có hiệu lực mới làm phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa các bên.Trong trường hợp, nếu hợp đồng bị vô hiệu thì tức là hợp đồng không có hiệu lực pháp luật,nên không được coi là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ của các bên Trên thực tế, khi hợp đồng
vô hiệu các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận Tuy nhiên, nghĩa vụ hoàntrả này là nghĩa vụ phát sinh từ quy định của pháp luật về giải quyết hậu quả của hợp đồng vôhiệu, hoàn toàn không phải là sự thỏa thuận của các bên Do đó, đây không được xem lànghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng
- Hành vi pháp lý đơn phương, là hành vi thể hiện ý chí của một bên chủ thể, qua
đó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Đây là một quan hệ dân sự thểhiện ý chí của một bên chủ thể, do đó nó có làm phát sinh nghĩa vụ dân sự hay không còn phụthuộc vào ý chí tiếp nhận của những chủ thể khác Như vậy, chỉ khi có chủ thể khác tiếp nhận
Trang 6và thực hiện yêu cầu từ chủ thể thực hiện yêu cầu, thì hành vi pháp lý đơn phương mới là căn
cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự
- Thực hiện công việc ko có ủy quyền, là việc một người không có nghĩa vụ thực
hiện công việc nhưng đã tự nguyện thực hiện công việc đó vì lợi ích của người khác, khingười có công việc được thực hiện không biết hoặc biết mà không phản đối Thực hiện côngviệc không có ủy quyền làm phát sinh nghĩa vụ cho cả người thực hiện công việc và người cócông việc được thực hiện Người thực hiện công việc phải thực hiện các nghĩa vụ như: thựchiện công việc phù hợp với mong muốn của người có công việc được thực hiện; thực hiệncông việc phù hợp với khả năng, điều kiện của mình,… Người có công việc được thực hiện
có nghĩa vụ thanh toán chi phí thực hiện công việc và tiền thù lao cho người thực hiện côngviệc thay mình,…Tuy nhiên nếu người đã thực hiện công việc không yêu cầu thanh toán cáckhoản chi phí, thù lao thì sẽ không làm phát sinh nghĩa vụ của người có công việc được thựchiện
- Chiếm hữu, sử dụng TS và được lợi từ TS mà ko có căn cứ pháp luật, là việc
chiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản mà không có cơ sở chứng minh mình là là người cóquyền với tài sản, việc nắm giữ, khai thác tài sản đó là không hợp pháp Pháp luật chỉ thừanhận và bảo vệ cho việc chiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản nếu người đó là chủ sở hữucủa tài sản đó, hoặc là người được pháp luật chuyển giao quyền Vì vậy, đối với trường hợpchiếm hữu, sử dụng, được lợi từ tài sản mà không có căn pháp luật sẽ làm phát sinh nghĩa vụdân sự của họ đối với chủ sở hữu tài sản hợp pháp, bao gồm: nghĩa vụ hoàn trả lại tài sản,nghĩa vụ bồi thường thiệt hại
- Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật, là việc một người bằng hành vi củamình xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của ngườikhác Đây là căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự của người gây thiệt hại, cụ thể là tráchnhiệm bồi thường thiệt hại Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là: cóthiệt hại thực tế xảy ra và thiệt hại đó hoàn toàn do lỗi của một bên gây ra Quan hệ bồithường thiệt hại là một nghĩa vụ dân sự vì có sự dịch chuyển lợi ích từ chủ thể này sang chủthể khác, mà lợi ích đó được xác định dưới dạng một khoản vật chất là tiền hoặc vật chấtkhác Quan hệ bồi thường là một dạng của trách nhiệm pháp lý nói chung, do đó trách nhiệmbồi thường được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước
Trang 7- Các căn cứ khác do pháp luật quy định, ngoài các căn cứ cụ thể trên pháp luật
còn quy định nghĩa vụ dân sự được phát sinh từ những căn cứ khác, tùy vào từng trường hợpnhất định Ví dụ: nghĩa vụ phát sinh từ một quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
7 Chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa căn cứ phát sinh nghĩa vụ là hành vi pháp
lý và sự kiện pháp lý
https://phapluatdansu.edu.vn/2008/06/12/05/13/126008/
Sự kiện pháp lý (sự vi phạm)- Nguyên nhân bất hợp pháp: Thời điểm xảy ra sự kiệnpháp lý là căn cứ pháp lý để xác định thời điểm quan hệ pháp luật phát sinh, thay thay đổihoặc chấm dứt, nói cách khác đó là căn cứ pháp lý xác định thời điểm phát sinh, thay đổi,chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ pháp luật đối với nhau Sự kiện baogồm cả hành vi
Hành vi pháp lý (hay còn gọi là hợp đồng) - Nguyên nhân hợp pháp: Sau khi đã thựchiện hành vi, hành vi đó phù hợp với các tiêu chí luật định tùy theo từng trường hợp thì sẽlàm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ pháp luậtđối với nhau
8 Phân tích và nêu ý nghĩa phân loại nghĩa vụ thành quả và nghĩa vụ công đoạn
Nghĩa vụ thành quả, người thụ trái cam kết về 1 kết quả xác định Trong loại nghĩa vụnày người thụ trái phải chứng minh sự không thực hiện được nghĩa vụ là do 1 sự kiện ngẫunhiên hoặc do 1 nguyên nhân được miễn giảm trách nhiệm nào khác
=> Đảm bảo thành quả công việc thực hiện theo đúng ý của trái chủ => Phân loại theo mứcđộ
Nghĩa vụ công đoạn, là người thụ trái chỉ thực hiện 1 hoặc 1 số công đoạn của công việc
và cam kết về việc thực hiện công đoạn của công việc, không nói đến thực hiện nghĩa vụ đó
có trung thực hay không, hay không cam kết về thành của của nghĩa vụ
Nhận xét, giống như các thụ trái liên đới đang thực hiện nghĩa vụ có thể phân chia theophần
9 Phân tích và nêu ý nghĩa phân loại nghĩa vụ chuyển giao vật và nghĩa vụ hành vi
Trang 8 Dựa theo cách thức phân chia nghĩa vụ theo đối tượng, có sự phân chia của loại Nghĩa
vụ chuyển giao vật Trong đó nghĩa vụ chuyển giao là nghĩa vụ buộc người thụ trái chuyểngiao vật, và được chia thành 2 loại là chuyển giao vật cả về mặt chất liệu và về mặt pháp lýcho trái chủ
Ví dụ trong trường hợp mua bán, người bán phải chuyển giao vật quyền sở hữu chongười mua
Hoặc chỉ chuyển giao vật về mặt chất liệu cho trái chủ Ví dụ trong trường hợp thuê,người cho thuê phải phải chuyển giao quyền chiếm hữu vật cho người thuê
Nghĩa vụ hành vi, ở đây được hiểu là Nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thựchiện một công việc, việc phân chia này dựa theo sự phân chia theo theo đối tượng
Trong đó nghĩa vụ hành động là loại nghĩa vụ buộc thụ trái phải thực hiện 1 việc gì đócho trái chủ Loại nghĩa vụ này thường thấy trong các loại hợp đồng dịch vụ
Nghĩa vụ không hành động là loại nghĩa vụ buộc ng thụ trái kiềm chế không làm 1 việc
gì đó Có thể tìm thấy loại nghĩa vụ này trong các vấn đề như bảo mật thông tin, hạn chế cạnhtranh, không vi phạm dịch quyền
=> Ý nghĩa, trong khi nghĩa vụ chuyển giao vật thì đối tượng chuyển giao lại là vật, nghĩa
là mua bán hàng hóa, trong khi đó nghĩa vụ hành vi lại thực hiện hành vi là đối tượng của loạinghĩa vụ này, làm hay không làm
10 Phân tích và nêu ý nghĩa phân loại nghĩa vụ chính và nghĩa vụ bổ sung
Nghĩa vụ chính: là nghĩa vụ được ghi nhận trong hợp đồng Nhiệm vụ chính này dựatrên sự thỏa thuận của các bên dựa theo sự bảo hộ của pháp luật (không trái với pháp luật)
Nghĩa vụ bổ sung: là nghĩa vụ được ghi nhận thông qua phụ lục hợp đồng, nghĩa vụ nàyđược thiết lập song song với nghĩa vụ chính Đây là kết quả của sự dụ liêu trước trong trườnghợp nghĩa vụ chính không thực hiện được
=> Nghĩa là khi nghĩa vụ chính không được thực hiện thì nghĩa vụ bổ sung mới được đưa
ra để thực hiện Cả 2 loại nghĩa vụ này đều được ghi nhận từ sự tự nguyện thỏa thuận của cácbên
VD: A vay tiền tiền của B Giữa A và B có xác lập 1 hợp đồng thế chấp căn nhà của B
để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ Trong TH trên nghĩa vụ chính của A là đưatiền cho B, còn B có nghĩa vụ trả số tiền vay đúng hạn Nghĩa vụ bổ sung là: khi B k trả nợ
Trang 9đúng hạn, hay có hành vi trốn nợ thì căn nhà thế chấp của B sẽ được giao cho A, và B cónghĩa vụ phải giaogiao
11.Khái niệm và phân loại nghĩa vụ dân sự có điều kiện
có thể mang tính khách quan hoặc chủ quan phụ thuộc vào tính chất của hợp đồng Ví dụtrong hợp đồng bảo hiểm hàng hóa, các bên thỏa thuận công ty bảo hiểm chỉ phải chi trả tiềnbảo hiểm khi hàng hóa bị hư hỏng, mất mát do các yếu tố tự nhiên mang tính khách quan nhưbão, gió, lốc… Hay trong hợp đồng giữ tài sản, các bên thỏa thuận bên nhận gửi giữ chỉ phảichịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản bị mất mát, hư hỏng do lỗi bất cẩn của nhânviên bên nhân gửi giữ
Do quy định của pháp luật Trong 1 số trường hợp nhất định, pháp luật quy định điềukiện làm phát sinh nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ Bên có nghĩa vụ chỉ phải thực hiện khi điềukiện mà pháp luật quy định xảy ra Ví dụ Khoản 3 Đ30 BLDS 2015: “Trẻ em sinh ra mà sốngđược từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra màsống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đe, mẹ đẻ
có yêu cầu.” Như vậy, nghĩa vụ khai sinh, khai tử của bố mẹ cho con cái chỉ phát sinh khi đứatrẻ sinh ra và sống được từ 24 giờ trở lên
Tuy nhiên, khi điều kiện xảy ra do sự cố ý của các bên thì việc thực hiện nghĩa vụ cóđiều này không được chấp nhận Khoản 2 Đ120 BLDS 2015 Ví dụ khi điều kiện xảy ra là dotác động chủ quan của bên có quyền thì bên có nghĩa vụ kp thực hiện, ngược lại điều kiện xảy
Trang 10ra hoặc ngăn chặn xảy ra do tác động chủ quan của bên có nghĩa vụ thì bên có nghĩa vụ vẫnphải thực hiện những gì mình đã cam kết
12 Trình bày các điều kiện để trở thành đối tượng nghĩa vụ.
Có 4 điều kiện để trở thành đối tượng của nghĩa vụ (Đ2766 BLDS 2015):
Đối tượng là tài sản: Theo quy định tại Đ105 BLDS 2015 bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ cógiá và quyền tài sản Đây sẽ là những gì các bên chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ tác động tới
để qua đó thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình
Công việc phải thực hiện được: Không có văn bản quy phạm pháp luật giải thích thuậtngữ “công việc phải thực hiện là gì Tuy nhiên bản thân thuật ngữ “công việc” có thể hiểu là
1 dạng hoạt động động cụ thể mà 1 bên mong muốn xác lập quan hệ nghĩa vụ để bên còn lạithực hiện hoạt động này Hoạt động này có thể thông quan hoặc không thông qua hành vi cụthể Và qua hoạt động này, bên yêu cầu có thể thỏa mãn được các nhu cầu về lợi ích vật chấthoặc lợi ích tinh thần Do đó, công việc phải thực hiện được hiểu là những hoạt động thể hiệnthông qua hành vi cụ thể, Ví dụ hoạt động tư vấn pháp ký trong hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp
lý, hoạt động gửi giữ gia công, vận chuyển…
Công việc không được thực hiện: Như cách lý giải trên, công việc không được thực hiện
là những hoạt động không thông qua hành vi - tức là thể hiện dưới dạng không hành động cụthể Hoạt động này cũng sẽ là đối tượng của quan hệ nghĩa vụ khi các bên có thỏa thuận hoặcpháp luật có quy định mà thông qua hoạt động này, 1 trong các bên có được những quyền vàlợi ích của mình, Ví dụ A thỏa thuận với B Theo đó, B sẽ không được xây dựng bức tườngrào bên phía nhà B để tránh trường hợp tầm nhìn nhà A bị che khuất, thay vào đó, A chấpnhận bỏ chi phí để hoàn thiện hàng rào dây thép gai để xác định ranh giới giữa 2 nhà
Phải xác định trước: Một trong những nguyên tắc để thực hiện được quyền và nghĩa vụ
từ sự thỏa thuận hoặc pháp luật của các bên, đối tượng là tài sản, công việc phải thực hiệnhoặc không được thực hiện cần phải xác định đc 1 cách rõ ràng Điều này hoàn toàn là sự phùhợp, khi đối tượng không thể xác định các bên chủ thể không thể tác động vào đó để thỏamãn các nhu cầu, lợi ích của mình, Đồng thời các bên chủ thể càng không thể tạo ra cácquyền và nghĩa vụ 1 cách cụ thể, Qua đó, pháp luật không thể đảm bảo thực hiện quyền vànghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ
13.Nêu các vấn đề pháp lý căn bản xoay quanh hiệu lực của nghĩa vụ
Trang 11 Hiệu lực của nghĩa vụ có thể phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên bên chủ thể, cũng
có thể phụ thuộc vào quy định của pháp luật
Hiệu lực của nghĩa vụ được xem là căn cứ để xác định thời điểm kết thúc nghĩa vụ,đồng thời cũng là căn cứ để xác định của nghĩa vụ khác tiếp tục xảy ra
14.Nêu một số vấn đề pháp lý liên quan đến thực hiện nghĩa vụ
Việc thực hiện nghĩa vụ xảy ra dự trên nhiều yếu tố
Địa điểm thực hiện nghĩa vụ Đ277:
Các bên có thể căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện mà thỏa thuận địa điểm thực hiện nghĩa
vụ là nơi ở của bên này hay bên kia hoặc tại một nơi bất kì nào đó Người có nghĩa vụ phảithực hiện nghĩa vụ đúng nơi mà hai bên đã xác định
Trường hợp các bên không có thỏa thuận thì người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụtại nơi có bất động sản nếu đối tượng của nghĩa vụ là bất động sản; hoặc tại nơi cứ trú hay trụ
sở của người có quyền nếu đối tượng của nghĩa vụ dân sự không phải là bất động sản
Việc quy định địa điểm thực hiện nghĩa vụ có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng đối với cácbên trong quan hệ nghĩa vụ vì nó là căn cứ để xác định ai là người phải chịu chi phí vậnchuyển cũng như ai là người phải chịu chi phí tăng lên do việc thay đổi nơi cư trú hoặc trụ sởcủa bên có quyền Không những vậy, địa điểm thực hiện nghĩa vụ còn là căn cứ để giải quyếttranh chấp nếu có tranh chấp xảy ra; giúp cho các bên xác định rõ ràng nơi mà cần phải thựchiện nghĩa vụ
Tuy nhiên Điều 274 BLDS 2015 quy định khẳng định đối tượng của quan hệ nghĩa vụbao gồm: tài sản, công việc phải thực hiện hoặc công việc không được thực hiện Do đó Điều
274 BLDS 2015 vẫn chưa giúp được xác định nơi thực hiện nghĩa vụ khi đối tượng của nghĩa
vụ là công việc phải làm hoặc không được làm là nơi nào khi các bên không có thỏa thuận Vìvậy, pháp luật cần phải bổ sung quy định về vấn đề này
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ Đ278Đ278
Tùy thuộc vào tính chất, nội dung của quan hệ nghĩa vụ cũng như điều kiện, hoàn cảnhcủa mình mà các bên có thể thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ Khi thời hạn đã xácđịnh theo thỏa thuận thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn đó
Tuy nhiên, trong trường hợp pháp luật quy định hoặc quyết định cư cơ quan có thẩmquyền ấn định khoảng thời gian này, các bên chủ thể sẽ phải thực hiện theo VD: Theo Điểm
Trang 12a Khoản 2 Điều 85 Luật Nhà ở 2014 quy định việc bảo hành đối với nhà chung cư thì tốithiểu là 60 tháng kể từ khi hoàn thành việc xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Về nguyên tắc, bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trừ trườngBLDS hoặc luật khác có liên quan quy định khác Điều này có nghĩa là, khi pháp luật quyđịnh bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ trước hoặc sau thời hạn nhất định thì lúc đó cácbên trong quan hệ nghĩa vụ phải thực hiện theo ngoại lệ nguyên tắc này VD: Khoản 3 Điều
296 BLDS 2015 quy định khi một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ mà mộtnghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác mặc dù chưa đến hạn nhưng đều được coi là đã đếnhạn
Nếu người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn đã được xác định mà người cóquyền đồng ý và đã tiếp nhận sự thực hiện thì nghĩa vụ được xem như đã thực hiện đúng thờihạn Mặt khác, khi bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, các bên cóthỏa thuận để hoãn thực hiện nghĩa vụ (thực chất là kéo dài thời hạn) thì nghĩa vụ được hoànthành trong thời hạn kéo dài đó cũng được coi là thực hiện đúng thời hạn
Trong trường hợp các bên không xác định về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ sẽđược thực hiện vào bất cứ lúc nào khi một trong hai bên có yêu cầu Tuy nhiên, để tạo điềukiện cho các bên thực hiện nghĩa vụ một cách thuận lợi thì khi yêu cầu thực hiện nghĩa vụ,các bên phải thông báo cho nhau biết trước trong một thời gian hợp lí Vì vậy, trong nhữngtrường hợp này khoảng thời gian hợp lí đó được coi là thời hạn thực hiện nghĩa vụ VD: Acho B vay 100 triệu không thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ trả nợ A có thể yêu cầu B trả nợ bất
cứ lúc nào và chỉ cần thông báo cho B trước một khoản thời gian hợp lí
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ cũng có ý nghĩa quan trọng, Trong nhiều trường hợp, hợpđồng dân sự chỉ đáp ứng được quyền lợi cho các bên nếu nó được người có nghĩa vụ thựchiện đúng thời hạn Đồng thời, thời hạn thực hiện nghĩa vụ còn là mốc thời gian để xác địnhthời hạn khởi kiện của các bên khi có tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ Ngoài ra, thôngquan thời hạn thực hiện nghĩa vụ để xem xét hành vi vi phạm và xác định trách nhiệm dân sựđối với người vi phạm nghĩa vụ
Các cách thức thực hiện nghĩa vụ: Bao gồm từ Đ279 đến Đ291Đ291
15.Trình bày khái quát các trường hợp không thực hiện nghĩa vụ
Do sự kiện bất khả kháng
Trang 13 Sư kiện hoàn thành thay đổi
Không thực hiện do bên còn lại chậm thực hiện nghĩa vụ
Không thực hiện nghĩa vụ do không có khả năng thực hiện
16.Điều kiện cấu thành và hậu quả pháp lý không thực hiện nghĩa vụ do chậm thực hiện nghĩa vụ
có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn Việc thông báo này sẽ giúp chobên có quyền kịp thời xử lý, giải quyết nhằm sử dụng mọi biện pháp khắc phục tối đa nhữngthiệt hại có thể xảy ra
Vi phạm về thời hạn thực hiện nghĩa vụ là vi phạm nghĩa vụ và bên có nghĩa vụ sẽ phảichịu một hậu quả bất lợi đó là một trách nhiệm dân sự Trách nhiệm dân sự có thể là tiếp tụcthực hiện nghĩa vụ nếu nghĩa vụ vẫn có thể được thực hiện và bên có quyền yêu cầu hoặctrách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra
Hậu quả: Đ359:Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là khi đến thời hạn tiếp nhậnviệc nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện nhưng bên có quyền không tiếp nhận việcthực hiện nghĩa vụ đó Theo đó, chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ sẽ làm phát sinhtrách nhiệm pháp lý sau đây:
Bồi thường thiệt hại: Là một loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với bên vi phạmnghĩa vụ gây thiệt hại cho bên kia Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có thiệthại thực tế xảy ra và nguyên nhân gây ra thiệt hại là do hành vi chậm tiếp nhận thực hiệnnghĩa vụ gây ra
Phải chịu rủi ro: Thực ra rủi ro thường được áp dụng đối với đối tượng của nghĩa vụhoặc kết quả của đối tượng của nghĩa vụ là tài sản Về nguyên tẳc, chủ sở hữu của tài sản sẽphải chịu rủi ro đối với tài sản đó Tuy nhiên, trong trường hợp này, bên có quyền chậm tiếp
Trang 14nhận việc thực hiện nghĩa vụ nên lỗi thuộc về chính họ và pháp luật quy định họ phải gánhchịu rủi ro xảy ra đối với tài sản cho dù tài sản này có thuộc sở hữu của họ hay không Chịurủi ro ở đây thực chất không phải là một loại trách nhiệm pháp lý bởi lẽ ở đây rủi ro xảy rakhông phải là kết quả trực tiếp của một hành vi vi phạm nghĩa vụ Chịu rủi ro chỉ là hậu quảbất lợi mà bên chậm tiếp nhận phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra đối với tài sản vì một lý
do khách quan nào đó
Phải thanh toán các chi phí phát sinh kể từ thời điểm chậm tiếp nhận việc thực hiệnnghĩa vụ: Thực chất, việc thanh toán các chi phí hợp lý này cũng chính là trách nhiệm bồithường thiệt hại Bởi lẽ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ được đặt ra đối với cácthiệt hại trực tiếp từ hành vi gây thiệt hại mà còn bao gồm các thiệt hại gián tiếp đó chính làcác chi phí hợp lý để khắc phục thiệt hại Ngoài ra, thiệt hại còn bao gồm những tổn thất khác
mà bên bị vi phạm chứng minh được đó là kết quả tất yếu do hành vi chậm tiếp nhận việcthực hiện nghĩa vụ gây ra
17.Điều kiện cấu thành và hậu quả pháp lý không thực hiện nghĩa vụ do nghĩa vụ không có khả năng thực hiện
Hủy bỏ hợp đồng, thỏa thuận (Đ425)
18.Phân loại biện pháp cưỡng chế với tư cách là chế tài đối với bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
Huỷ bỏ hợp đồng
Yêu cầu bồi thường thiệt hại
19.Chức năng và bản chất pháp lý của bồi thường thiệt hại với tư cách là trách nhiệm dân sự trong hợp đồng
Chế tài phạt vi phạm hợp đồng có mục đích chủ yếu là trừng phạt, tác động vào ý thứccủa các chủ thể nhằm giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật, phòng ngừa vi phạm hợp đồng.Với mục đích như vậy, phạt vi phạm được áp dụng một cách phổ biến đối với các vi phạmhợp đồng Khác với phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại là hình thức áp dụng nhằmkhôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng mua bán Đ305
Tương tự như trên, thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dàicủa người gây thiệt hại là cơ sở để giảm mức bồi thường Khái niệm quá lớn không thể quy
Trang 15định cụ thể bởi cùng thiệt hại vói đại lượng không đổi, đối với cá nhân này là rất lớn nhưngvới người khác lại không coi là lớn Mặt khác, cũng cần phân biệt việc giảm mức bồi thườngvới việc tạm hoãn thi hành án vì trong khi thi hành án, người không có khả năng kinh tế trướcmắt có thể được tạm hoãn thi hành án.
Chức năng: Hoàn trả giá trị, thay thếthế
20.Phân loại thiệt hại trong bồi thường thiệt hại với tư cách là chế tài khi không thực hiện nghĩa vụ
Thiệt hại do tài sản bị xâm hại Đ589 BLDS 2015
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm Đ590
Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm Đ591
21.Phân tích các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
* Trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường do thỏa thuận của các bên
Hợp đồng về bản chất là thỏa thuận của hai bên, do đó pháp luật Hợp đồng rất tôn trọngquyền thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng Hai bên trong hợp đồng có thể tự do thỏa thuậnđiều khoản miễn trách nhiệm Tuy nhiên cần lưu ý các vấn đề sau:
Thỏa thuận miễn trách nhiệm có thể được ghi trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng.Thỏa thuận miễn trách nhiệm cũng có thể được ghi nhận bằng lời nói, hành vi Tuy nhiên,việc chứng minh sự tồn tại của thỏa thuận miễn trách nhiệm bằng lời nói và hành vi là rất khókhăn trên thực tế
* Trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả kháng
Khoản 2 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “2 Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân
sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.
Hiểu một cách đơn giản, sự kiện bất khả kháng là các sự kiện xảy ra ngoài tầm kiểm soátcủa bên vi phạm, không thể lường trước được và không thể khắc phục được cho dù bên bị viphạm đã áp dụng mọi biện pháp khắc phục, bao gồm nhưng không giới hạn các trường hợpnhư bão lụt, hạn hán, đình công, bạo loạn… Khi xảy ra các trường hợp bất khả kháng bên viphạm có trách nhiệm thông báo cho bên kia trong một thời hạn hợp lý
Trang 16Các bên có thể kéo dài thêm thời gian thực hiện hợp đồng, tuy nhiên nếu quá thời hạn nêutrên mà vẫn không thể thực hiện hợp đồng thì các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng
và không phải bồi thường thiệt hại
* Trường hợp miễn trách nhiệm do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Về bản chất, hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lýnhà nước là hành vi vi phạm do sự kiện bất khả kháng về sự biến pháp lý
Quyết định của cơ quan nhà nước phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên vi phạm, tức là phảithực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định nào đó dẫn tới hành vi vi phạm hợpđồng Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể là quyết định hành chính(quyết định xử phạt vi phạm, quyết định trưng thu,…) hoặc quyết định của cơ quan tư pháp(bản án, quyết định) Miễn trách nhiệm chỉ được áp dụng khi các bên không thể biết được vàothời điểm giao kết hợp đồng sẽ xảy ra hành vi vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quanquản lý nhà nước có thẩm quyền Nếu các bên đã biết về việc thực hiện quyết định của cơquan quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng mà vẫn đồng ý giaokết hợp đồng thì không được áp dụng miễn trách nhiệm
22.Hậu quả pháp lý trong trường hợp không thực hiện nghĩa vụ do bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ
Xét về hành vi, có 2 chủ thể thực hiện
Bên có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ, đây là hành động xảy ra trước
Bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ, đây là hành vi khi bên có nghĩa vụ thấy bên
có quyền chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ
Khái niệm: Chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là chưa tiếp nhận hoặc chỉ tiếp nhậnđược 1 phần khi thời hạn giao kết đã hết (dựa tương đương vào Đ353 để suy ra)
Trang 17=> Người có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự, Theo K3 Đ351 BLDS20152015
23 Nêu các phương thức bảo vệ trái quyền của bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa
vụ trước nguy cơ bị xâm hại
Đ11Đ11
Dấu hiệu: Khi người có quyền thấy rằng trái quyền của họ có nguy cơ bị xâm hại, nghĩa
là chưa có thiệt hại xảy ra, nhưng có dấu hiệu chắc chắn điều đó sẽ xảy ra
Bên có quyền có thể: Cảnh cáo, thông báo về các hành vi đang có nguy cơ xâm hại vàđưa ra các chế tài nếu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện
Buộc bên có nghĩa vụ Công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của mình
Buộc thực hiện theo đúng nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thỏa thuận với bên có quyền
24.Lấy ví dụ mối quan hệ nghĩa vụ nhiều bên (nghĩa vụ có thể phân chia)
có nghĩa vụ có thể chia công việc đó để thực hiện
Ví dụ: bên vận chuyển tài sản có nghĩa vụ vận chuyển cho bên thuê vận chuyển 100 tấnhàng hóa từ A đến B trong thời hạn 5 ngày thì công việc vận chuyển có thể thực hiện theotừng ngày với một số lượng hàng hóa nhất định được vận chuyển
25.Lấy ví dụ mối quan hệ nghĩa vụ nhiều bên (nghĩa vụ không thể phân chia)
Đ291
Nghĩa vụ dân sự không phân chia được theo phần: Nghĩa vụ không phân chia được theo
phần là nghĩa vụ mà đối tượng của nghĩa vụ phải được thực hiện cùng một lúc
Đối tượng của nghĩa vụ dân sự hết sức đa dạng, mỗi loại đối tượng cụ thể có những đặcđiểm và tính chất khác nhau Do đó tùy thuộc vào đối tượng như thế nào mà nghĩa vụ dân sự
Trang 18đó có thể là nghĩa vụ phân chia được theo phần hoặc là nghĩa vụ không phân chia được theophần Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một vật được xác định và vật đó là một vật chia đượchoặc đối tượng là một công việc mà theo tính chất công việc đó phải được thực hiện cùngmột lúc thì được gọi là nghĩa vụ không phân chia được theo phần Ngược lại, nếu đối tượngcủa nghĩa vụ là một vật chia được hoặc công việc có thể thực hiện theo từng phần khác nhauthì được gọi là nghĩa vụ phân chia được theo phần.
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ thông thường là một khoảng thời gian nhất định do các bênthỏa thuận hoặc pháp luật quy định mà trong khoảng thời gian đó bên có nghĩa vụ phải hoànthành nghĩa vụ của mình Thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự trong quan hệ nghĩa vụ có thểphân chia được theo phần cũng có thể là một khoảng thời gian nhưng do tính chất của đốitượng nên người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ này vẫn phải thực hiện nghĩa vụ vào mộtthời điểm mà không được kéo dài trong suốt thời hạn đó nếu nghĩa vụ đó là nghĩa vụ giaovật
Nếu đối tượng của nghĩa vụ là một công việc phải thực hiện thì người có nghĩa vụ phảithực hiện công việc đó một cách liên tục cho đến khi hoàn thành công việc theo thỏa thuận
A ủy quyền cho B ký kết hợp đồng với công ty C, công việc mà B phải thực hiện là gặp
gỡ và ký kết hợp đồng với công ty C, đó là công việc mang tính chất liền mạch không thể chia làm nhiều giai đoạn khác nhau để thực hiện.
26.Phân biệt nghĩa vụ riêng rẽ (nghĩa vụ theo phần) và nghĩa vụ liên đới
Khái niệm Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ nhiều
người cùng phải thực hiện và bên có quyền
có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người
có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ
Khi nhiều người cùng thực hiện mộtnghĩa vụ dân sự, nhưng mỗi người cómột phần nghĩa vụ nhất định và riêng
rẽ với nhau thì mỗi người chỉ phải thựchiện phần nghĩa vụ của mình
Trách nhiệm
thực hiện nghĩa
vụ
Bất cứ ai cũng có thể thực hiện nghĩa vụnếu bên có quyền yêu cầu
– Một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ
có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ liên đới
Có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụđộc lập với nhau Mỗi người chỉ cầnthực hiện phần nghĩa vụ của mình
Trang 19khác thực hiện phần nghĩa vụ của họ phải
thực hiện đối với mình
– Trường hợp bên có quyền đã chỉ địnhmột trong số những người có nghĩa vụ liên
đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó
miễn cho người đó thực hiện nghĩa vụ, thì
người còn lại cũng được miễn thực hiện
nghĩa vụ
– Nếu chỉ miễn cho một người thì nhữngngười có nghĩa vụ liên đới vẫn phải thực hiện
nghĩa vụ
Ví dụdụ A, B, C cùng vay của D 100 triệu trong đó
B, C bảo lãnh cho A Nếu đến hạn A không
trả tiền cho D trong trường hợp này B C A
cùng có nghĩa vụ liên đới đứng ra trả nợ cho
D
A, B, C cùng nhận trang trí một cănnhà trong đó A sửa đèn, B sơn nhà, Cnội thất Nếu như có thiệt hại với cănnhà, đối với phần nghĩa vụ của ai thìngười đó phải có trách nhiệm
27.Phân tích quyền của trái chủ trong trường hợp nghĩa vụ nhiều bên (nghĩa vụ có thể phân chia)
Quyền: Yêu cầu bên thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện đúng theo những thỏa thuậnđúng hạn
Yêu cầu thực hiện phần nghĩa vụ nào trước, nghĩa vụ nào sau
28.Phân tích quyền của trái chủ trong trường hợp nghĩa vụ nhiều bên (nghĩa vụ không thể phân chia)
Yêu cầu các bên có nghĩa vụ thực hiện cùng lúc
Yêu cầu nghĩa vụ hoàn thành phải đảm bảo hoàn chỉnh
29.Phân tích nghĩa vụ của từng thụ trái đối với yêu cầu của trái chủ trong trường hợp nghĩa vụ có thể phân chia
Giống câu 31
Trang 2030.Phân tích nghĩa vụ của từng thụ trái đối với yêu cầu của trái chủ trong trường hợp nghĩa vụ không thể phân chia
Lúc này các bên có cùng nghĩa vụ như 1 tổ chức, tập thể, họ cùng nhau thực hiện nghĩa
vụ đối với trái chủ Những quyền của trái chủ đối với tổ chức tập thể đó đều áp dụng đồngloại có các bên cùng có nghĩa vụ
=> Quyền hạn của trái chủ với các bên là như nhau, nhưng không ngược lại Các bên cùng
có nghĩa vụ chỉ ngang nhau ở phương diện: phải cùng thực hiện 1 lúc và phải cùng hoànthành nghĩa vụ đúng hạn
33 Phân tích quyền của từng trái chủ trong trường hợp tồn tại trái quyền nhiều bên đối với một bên có nghĩa vụ duy nhất
Đ289
Mỗi người đều có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nghĩa vụ
Khi 1 trái chủ miễn phần nghĩa vụ cho bên thực hiện nghĩa vụ thì ng thực hiện nghĩa vụkhác vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với cá trái chủ còn lại
34 Khái niệm bảo lãnh và bình luận Điều 355 Bộ Luật dân sự 2015
Đ355, Bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhậnbảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đếnthời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không
Trang 21đúng nghĩa vụ Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụthay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiệnnghĩa vụ bảo lãnh.
Chủ thể
Các bên có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bênđược bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ bảolãnh
Về các mối quan hệ: Quan hệ giữa A với B là quan hệ nghĩa vụ được bảo đảm bằngbiện pháp bảo lãnh ( hình thành từ sự thỏa thuận giữa A và B hoặc theo quy định của phápluật), quan hệ giữa A với C là quan hệ bảo lãnh ( hình thành từ sự thỏa thuận giữa A và C),quan hệ giữa C với B chỉ phát sinh khi C đã thay B thực hiện nghĩa vụ của B trước A ( nghĩa
vụ hoàn lại)
Về chủ thể: chủ thể của quan hệ bảo lãnh là A và C, trong đó A là bên nhận bảo lãnh, C
là bên bảo lãnh; chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ là A và B, trong đó A là bên có quyền, B làbên có nghĩa vụ; chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ hoàn lại là C và trong đó C là bên có quyền,
B là bên có nghĩa vụ
Về sự liên hệ giữa các quan hệ: quan hệ giữa A với B là quan hệ có nghĩa vụ được bảođảm thực hiện bằng bảo lãnh ( B đồng thời được gọi là bên được bảo lãnh); quan hệ giữa Avới C là quan hệ bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của B; quan hệ giữa C với B là quan hệ màtrong đó B phải hoàn trả cho C các lợi ích mà C đã thay B thực hiện cho A
Như vậy, khi một biện pháp bảo lãnh được đặt ra thì ngoài các bên chủ thể trong quan
hệ bảo lãnh là bên bảo lãnh (C) và bên nhận bảo lãnh (A), còn có một chủ thể liên quan là bênđược bảo lãnh (B) Bên được bảo lãnh luôn là bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ đượcbảo đảm thực hiện bằng biện pháp bảo lãnh đó Họ có thể biết hoặc không biết về việc xáclập quan hệ bảo lãnh để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ của mình nhưng đều phải hoàntrả cho bên bảo lãnh các lợi ích mà bên đó đã thay mình thực hiện
Đối tượng và phạm vi áp dụng
Đối tượng của bảo lãnh
Đối tượng của bảo lãnh là các cam kết của người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh.Tuy nhiên để thực hiện được cam kết đó thì người bảo lãnh phải có tài sản hoặc công việc
Trang 22phù hợp để đáp lại lợi ích của bên nhận bảo lãnh trong trường hợp người được bảo lãnhkhông thực hiện nghĩa vụ.
Lợi ích mà các bên chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ hướng tới là lợi ích vật chất Vìvậy người bảo lãnh phải bằng một tài sản hoặc bằng việc thực hiện một công việc thay chongười được bảo lãnh mới đảm bảo được quyền lợi cho người nhận bảo lãnh Người bảo lãnhphải là người có khả năng thực hiện công việc đó Người bảo lãnh phải lấy tài sản thuộc sởhữu của mình giao cho người nhận bảo lãnh xử lý
Phạm vi bảo lãnh
Nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quyđịnh của pháp luật; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảmthì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi, tiền phạt và bồi thườngthiệt hại
Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa
vụ có điều kiện
Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thờihạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
Khoản 1 Điều 335 BLDS quy định bên bảo lãnh “sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên cónghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiệnhoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, các bên cũng có thể thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉphải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ củamình
Theo đó, thời điểm mà bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ được xác định theo haitrường hợp sau: Khi nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh đến thời hạn thực hiện Xác địnhviệc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh bắt đầu từ thời điểm này trong trường hợp các bêntrong quan hệ bảo lãnh không có thỏa thuận khác về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.Như vậy, trong trường hợp này, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiệnnghĩa vụ kể từ thời điểm bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúngnghĩa vụ đến hạn Khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được xác định từ thời điểm có đủ căn cứ để xác định
về việc bên được bảo lãnh không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ
Trang 2335 Tại sao nói bảo lãnh là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối nhân
Khái
niệm
Cầm cố tài sản là việc
một bên giao tài sản thuộc
quyền sở hữu của mình
cho bên kia để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ
CSPL: Điều 309 BLDS
2015
Thế chấp tài sản là việcmột bên dùng tài sản thuộc
sở hữu của mình để bảođảm thực hiện nghĩa vụ vàkhông giao tài sản cho bênkia
CSPL: Điều 317 BLDS2015
Bảo lãnh là việc người thứ ba camkết với bên có quyền sẽ thực hiện nghĩa
vụ thay cho bên có nghĩa vụ, nếu khiđến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bênđược bảo lãnh không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ
CSPL: Điều 335 BLDS 2015
Chủ thểBên cầm cố, bên nhận
cầm cố
Bên thế chấp, bên nhậnthế chấp, người thứ ba giữtài sản thế chấp (nếu có)
Bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh,bên được bảo lãnh
Bản chất Có sự chuyển giao tài
sản
CSPL: Điều 309 BLDS
2015
Không có sự chuyểngiao tài sản
CSPL: Điều 317 BLDS2015
Về thực tế khi bảo lãnh, người bảolãnh thực hiện thêm biện pháp bảo đảmbằng tài sản để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ bảo lãnh Do vậy, bản chất củabảo lãnh cũng chính là cầm cố, thếchấp
CSPL: Khoản 3 Điều 336 BLDS2015
Hình thứcPhải được lập thành văn
các loại giấy tờ có giá như
trái phiếu, cổ phiếu,
Bất động sản, động sản,quyền tài sản
Tài sản thuộc quyền sở hữu của bênbảo lãnh
Hiệu lựcCó hiệu lực từ thờiCó hiệu lực từ thời điểmCó hiệu lực từ ngày phát hành cam
Trang 24điểm giao kết, trừ trường
có quy định khác
CSPL: Điều 319 BLDS2015
kết bảo lãnh hoặc sau ngày phát hànhcam kết bảo lãnh theo thỏa thuận củacác bên liên quan
CSPL: Điều 19 Thông tư07/2015/TT-NHNN
37 Phân tích cấu trúc quan hệ bảo lãnh
Bảo lãnh trực tiếp gồm tối thiểu ba bên: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên đượcbảo lãnh Trong đó, người bảo lãnh có thể là cá nhân, pháp nhân hoặc ngân hàng Bảo lãnhlúc này được thiết lập trực tiếp bởi chính bên bảo lãnh mà không qua khâu trung gian nào.Bảo lãnh ba bên được giải thích như sau: P – nhà thầu đàm phán và xác lập giao dịch với B
để xây dựng nhà ở thương mại, trong đó P và B thỏa thuận ngân hàng G là bên bảo lãnh cho
P Nếu P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì ngân hàng G sẽ thay Pthực hiện nghĩa vụ với B Theo đó, ngân hàng G phát hành bảo lãnh – trở thành người bảolãnh B là người thụ hưởng – bên được bảo lãnh Trong hợp đồng bảo lãnh sẽ nêu rõ các nộidung: các bên, hợp đồng cơ bản, thời hạn bảo lãnh, số tiền hoặc số tiền tối đa mà bên nhậnbảo lãnh được gọi bảo lãnh, các tài liệu kèm theo khi gọi bảo lãnh Khi B cho rằng P đã viphạm hợp đồng cơ sở, B có quyền đưa ra yêu cầu để ngân hàng G thanh toán cùng với các tàiliệu liên quan tới bảo lãnh, yêu cầu và tài liệu phải được trình bày trước khi hết hạn hoặc hủy
bỏ Ngân hàng G sau đó phát sinh quyền yêu cầu bồi hoàn từ P, trong trường hợp vi phạmhợp đồng cơ bản thì ngân hàng G và P cũng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại với nhau
Bảo lãnh gián tiếp là loại hình bốn bên, bên được bảo lãnh sẽ yêu cầu bên bảo lãnh của
mình (thường là ngân hàng) sắp xếp vấn đề bảo lãnh với ngân hàng của bên nhận bảo lãnh.Theo đó, ngân hàng của người được bảo lãnh đề nghị với ngân hàng của người nhận bảo lãnhđưa ra bảo lãnh chống lại bảo lãnh đối ứng Trong tình huống này, chính ngân hàng của bênnhận bảo lãnh sẽ phát hành bảo lãnh và chính là người bảo lãnh cho bảo lãnh theo yêu cầu.Nói cách khác, bảo lãnh gián tiếp bên tham gia thường là bảo lãnh trong lĩnh vực tín dụngngân hàng – bảo lãnh đối ứng
Trang 25 Trong bảo lãnh gián tiếp, tồn tại thêm một quan hệ nghĩa vụ là quan hệ giữa ngân hàngcủa bên nhận bảo lãnh với ngân hàng của bên được bảo lãnh – bên bảo lãnh của người đượcbảo lãnh Mối quan hệ này hình thành trên cơ sở một hợp đồng bổ sung Cấu trúc của bảolãnh gián tiếp được mô tả như sau: Bên nhận bảo lãnh sắp xếp cho ngân hàng của mình (ngânhàng IP) để yêu cầu bảo lãnh Ngân hàng G là bên bảo lãnh cho người nhận bảo lãnh cóquyền phát hành bảo lãnh chống lại bảo lãnh đối ứng từ ngân hàng IP Ngân hàng IP khôngbắt buộc phải tuân theo hướng dẫn của P, trừ khi có thỏa thuận IP có quyền yêu cầu P phảibồi hoàn cho trách nhiệm pháp lý mà IP thực hiện theo bảo lãnh đối ứng.
38 Trình bày một số vấn đề pháp lý trong mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh
Điều 339 Bộ luật Dân sự năm 2015
Người bảo lãnh phải đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh khibên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Nếu bên bảo lãnhkhông hoàn thành nghĩa vụ bảo lãnh thì mất quyền hoàn trả từ bên được bảo lãnh Điều nàykhông liên quan tới người nhận bảo lãnh, quyền được hoàn trả phụ thuộc vào việc thực hiệnnghĩa vụ bảo lãnh đúng cam kết
Quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh – quan hệ phát sinh khi bên bảo lãnh
đã thực hiện xong nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh – một nghĩa vụ hoàn lại phát sinh: bênđược bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trước bên bảo lãnh Về mặt pháp lý, quan hệ bảo lãnhchỉ là mối quan hệ giữa hai bên chủ thể: bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, mặc dù việc thiếtlập hợp đồng bảo lãnh là để trợ giúp cho chính người được bảo lãnh Bên được bảo lãnh đượchiểu là bên thụ hưởng lợi ích từ hợp đồng bảo lãnh mà không phải bên đóng vai trò tạo lậphợp đồng bảo lãnh
Trong quan hệ bảo đảm, các bên chủ thể có mối liên hệ gắn kết với nhau, trong đó, giữabên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh là quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Bên bảo lãnh chỉphải thực hiện nghĩa vụ với bên có quyền khi bên được bảo lãnh không thực hiện, hoặc thựchiện không đúng nghĩa vụ Theo nguyên tắc chung của bảo lãnh, khi bên được bảo lãnh thựchiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ Do
đó, bên nhận bảo lãnh cũng có quyền yêu cầu bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ nếu bênmang nghĩa vụ không hoàn khi đến hạn Tuy nhiên, trên thực tế biện pháp bảo lãnh mang rủi
ro cho bên bảo lãnh rất nhiều, khi bên được bảo lãnh trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ cố
Trang 26tình ỷ lại vào bên bảo lãnh Vì vậy, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh có thể thỏa thuận vềviệc bên bảo lãnh chỉ thực hiện bảo lãnh khi bên có nghĩa vụ “không đủ khả năng” thực hiệnnghĩa vụ Điều kiện kèm theo đó là bên bảo lãnh phải chứng minh được bên được bảo lãnh có
đủ khả năng nhưng không thực hiện nghĩa vụ
Theo nguyên tắc về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, bên nhận bảo đảm chỉ được yêu cầubên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn Vậy nên, khi chưa đến hạn bảo lãnh thì bên bảolãnh không có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ với mình Điều 335 BLDS năm
2015 quy định bên bảo lãnh “sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ” Như vậy, thời điểm mà bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ được xác định là khi
nghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh đến hạn Hợp đồng bảo lãnh phát sinh đồngthời và tồn tại cùng với hợp đồng chính, vì vậy, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì khiđến thời hạn này, bên nhận bảo lãnh được quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ vớimình Tuy nhiên, điều kiện là bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa
vụ Nếu đến thời hạn, mà bên được bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ thì bên được bảo lãnhkhông được yêu cầu bên bảo lãnh tiếp tục thực hiện nghĩa vụ với mình Bên cạnh đó, nếu cácbên thỏa thuận về việc bên bảo lãnh chỉ bảo lãnh nghĩa vụ nếu bên được bảo lãnh không đủkhả năng thực hiện nghĩa vụ, thì dù thời hạn bảo lãnh đã đến và bên được bảo lãnh khôngthực hiện nghĩa vụ dù đủ điều kiện để thực hiện, thì bên nhận bảo lãnh cũng không được yêucầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ
Trong thời hạn bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và bên có nghĩa vụ có thể phát sinh quan hệnghĩa vụ mới, mà bên nhận bảo lãnh là bên có nghĩa vụ, và nghĩa vụ đó có thể bù trừ chonghĩa vụ đang được bảo lãnh Như vậy, lúc này nghĩa vụ được bảo lãnh xem như chấm dứt,bên bảo lãnh cũng không cần phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nữa Ví dụ: A vay B 50 triệuđồng, C là người đứng ra bảo lãnh cho khoản vay của A đối với B Trong thời gian bảo lãnh,
B có mua của A một chiếc xe trị giá 50 triệu, lúc này, trong quan hệ nghĩa vụ mới hình thành
B là bên mang nghĩa vụ, có nghĩa thanh toán cho A 50 triệu đồng A và B thỏa thuận về việc
bù trừ nghĩa vụ cho nhau, vì cả hai nghĩa vụ đều có giá trị như nhau nên sau khi thực hiện bùtrừ cả hai bên đều không còn nghĩa vụ với nhau Lúc này, mặc dù thời hạn thực hiện nghĩa vụchưa hết nhưng nghĩa vụ xem như đã thực hiện xong, do đó, nghĩa vụ bảo lãnh cũng chấmdứt
Trang 2739.Trình bày một số vấn đề pháp lý trong mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh
MQH: Bên bảo lãnh đứng ra cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiệnnghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên đượcbảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ; và các bên cũng có thể thỏathuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khảnăng thực hiện nghĩa vụ của mình
nghĩa vụ bảo lãnh hình thành theo sự thỏa thuận của bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh
nghĩa vụ hoàn lại hình thành giữa bên được bảo lãnh với bên bảo lãnh khi bên bảo lãnh
đã thực hiện xong nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định của pháp luật Nếu thiết lập bảo lãnh giántiếp, sẽ có thêm một quan hệ nghĩa vụ hình thành, đó là quan hệ giữa bên bảo lãnh của ngườinhận bảo lãnh với bên bảo lãnh của bên có nghĩa vụ được bảo lãnh
Cam kết của bên bảo lãnh dành cho người thụ hưởng phát sinh khi bên nhận bảo lãnhphát hành bảo lãnh vào thời điểm mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng, không đầy đủ nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh – người có quyền trong quan hệnghĩa vụ chính Nghĩa vụ của bên bảo lãnh có thể là trả tiền hoặc thực hiện một công việc tùythuộc vào nghĩa vụ được bảo lãnh và sự thỏa thuận của các bên liên quan tới các điều khoản
về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và thời hạn bảo lãnh Người bảo lãnh không phải là mộtbên của hợp đồng cơ bản và không quan tâm đến nội dung cũng như hiệu lực của hợp đồng
cơ bản
Mối quan hệ giữa người được bảo lãnh và người bảo lãnh được hình thành theo quyđịnh của pháp luật
Đối với bên bảo lãnh
Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảolãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó
Bên bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bên nhận bảolãnh có thể bù trừ nghĩa vụ với bên được bảo lãnh
Bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối với mìnhtrong phạm vi nghĩa vụ bảo lãnh đã thực hiện, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
Bên bảo lãnh được hưởng thù lao nếu bên bảo lãnh và bên được bảo lãnh có thỏa thuận
Đối với bên được bảo lãnh:
Trang 28 Bên được bảo lãnh có nghĩa vụ trả thù lao cho bên bảo lãnh nếu có thỏa thuận
Trường hợp bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh miễnviệc thực hiện nghĩa vụ cho bên bảo lãnh thì bên được bảo lãnh không phải thực hiện nghĩa
vụ đối với bên nhận bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác
40.Trình bày một số vấn đề pháp lý trong mối quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh
MQH: Bên nhận bảo lãnh có quyền thụ hưởng bảo lãnh do bên bảo lãnh hoặc bên xác
nhận bảo lãnh phát hành để cho bên bảo lãnh bảo lãnh bên được bảo lãnh ra ngoài
Mối quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh với bên được bảo lãnh trong quan hệ nghĩa vụđược hình thành từ hợp đồng cơ bản tồn tại độc lập với quan hệ nghĩa vụ bảo lãnh
Bảo đảm cho bên Bảo được lãnh thực hiện đúng các quyền và trách nhiệm của mình khibên Bảo lãnh thực hiện hành vi bảo lãnh
nghĩa vụ cơ bản được hình thành theo sự thỏa thuận của bên nhận bảo lãnh (bên cóquyền) với bên được bảo lãnh (bên có nghĩa vụ)
Có thể nhận thấy, quan hệ giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh là quan hệnghĩa vụ được bảo đảm bằng biện pháp bảo lãnh, được hình thành từ sự thỏa thuận của cácchủ thể hoặc theo quy định của pháp luật Theo đó, nếu bên được bảo lãnh không thực hiện,thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa thay cho bên được bảolãnh
41.Phân biệt chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ và chuyển giao nghĩa vụ
Chuyển giao quyền yêu cầu Chuyển giao nghĩa vụ dân sự
Cơ sở pháp lýĐiều 365-369 Bộ Luật dân sự 2015 Điều 370-371 Bộ luật dân sự 2015
Trang 29trường hợp người có nghĩa vụ đều phải
thực hiện đúng nội dung của nghĩa vụ đã
được xác định
– Bên có quyền sẽ phải thông báo bằngvăn bản cho bên có nghĩa vụ Trong
trường hợp này, văn bản thông báo này là
căn cứ để chứng minh người có nghĩa vụ
đã chấm dứt nghĩa vụ với bên có quyền
đồng thời là cơ sở để người có nghĩa vụ
biết được họ sẽ phải thực hiện nghĩa vụ
đó với người thứ ba
– Trường hợp nghĩa vụ có biện phápđảm bảo: nếu quyền yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm đi kèm
theo thì người chuyển giao yêu cầu phải
chuyển giao luôn biện pháp bảo đảm đó
và thế quyền trở thành bên nhận bảo đảm
ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng quyềncủa bên có quyền Ai sẽ là người thay thếthực hiện nghĩa vụ, điều kiện, khả năng, ýthức của người đó như nào là những vấn
đề mà người có quyền luôn luôn phảiquan tâm vì nó ảnh hưởng một cách trựctiếp đến việc hưởng quyền của họ
– Kể từ thời điểm việc chuyển giaonghĩa vụ có hiệu lực, người có quyền chỉđược phép yêu cầu người thế nghĩa vụthực hiện nghĩa vụ dân sự Người đãchuyển nghĩa vụ hoàn toàn không phảichịu trách nhiệm về khả năng thực hiệnnghĩa vụ của người thế nghĩa vụ
Nguyên tắc
chuyển giao
Chuyển giao quyền yêu cầu không cần
có sự đồng ý của người có nghĩa vụ vì
trong mọi trường hợp người có nghĩa vụ
đều phải thực hiện đúng nội dung của
nghĩa vụ đã được xác định Tuy nhiên
người chuyển quyền phải thông báo cho
người có nghĩa vụ biết về việc chuyển
giao quyền yêu cầu
Chuyển giao nghĩa vụ buộc phải có sựđồng ý của bên có quyền Quy định nàyrất phù hợp vì trong quan hệ nghĩa vụ,quyền của một bên có được đảm bảo haykhông hoàn toàn phụ thuộc vào việc thựchiện nghĩa vụ của bên kia Người thựchiện nghĩa vụ khi chuyển giao nghĩa vụphải đảm bảo cho người kế thừa nghĩa vụ
đó có khả năng thực hiện nghĩa vụ Khingười có quyền đồng ý, việc chuyển giaomới có thể được thực hiện Người chuyểngiao nghĩa vụ không cần thông báo cho
Trang 30Đối với chuyển giao nghĩa vụ theo thỏathuận, nếu nghĩa vụ thực hiện có biệnpháp bảo đảm được chuyển giao thì biệnpháp bảo đảm đó đương nhiên chấm dứt(trừ trường hợp các bên không có thỏathuận khác).
42 Nêu các trường hợp không thể chuyển giao quyền yêu cầu
=> Đó là quyền nhân thân
43 Trình bày nghĩa vụ của người chuyển giao quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
Nghĩa vụ của bên chuyển giao quyền yêu cầu
Theo Điều 366 Bộ luật dân sự 2015 thì người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấpthông tin cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền Người chuyển giaoquyền yêu cầu vi phạm nghĩa vụ này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại
Trong chuyển giao quyền yêu cầu, việc cung cấp thông tin là rất quan trọng Có đượcthông tin sẽ giúp cho bên thế quyền đánh giá được chính xác việc có tiếp nhận việc chuyểngiao quyền yêu cầu hay không, đồng thời thông tin cũng giúp bên thế quyền đánh giá mức độthực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
Chính vì vậy, bên chuyển quyền phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin cần thiết cho bênđược chuyển quyền Trong quan hệ nghĩa vụ thì những thông tin gì được coi là cần thiết cóthể là những thông tin có liên quan và ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ cũng như bảo
Trang 31đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ như đối tượng, giá cả, địa điểm, thời hạn, biện pháp bảođảm thực hiện nghĩa vụ
Bên cạnh đó, bên chuyển quyền cũng phải có nghĩa vụ chuyển giao giấy tờ có liên quancho người thế quyền Giấy tờ có liên quan có thể bao gồm tất cả các loại giấy tờ bên chuyểnquyền có được từ mối quan hệ với bên có nghĩa vụ như hợp đồng chính, hợp đồng bảo đảm,chứng minh thư, sổ hộ khẩu, hóa đơn, chứng từ…Đây là một nghĩa vụ pháp lý nói chung và là một nghĩa vụ dân sự nói riêng cho nên nếu bên
có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ một trong những nộidung trên thì bị coi là vi phạm nghĩa vụ dân sự và phải gánh chịu trách nhiệm dân sự Tráchnhiệm dân sự có thể là buộc phải thực hiện nghĩa vụ hoặc bồi thường thiệt hại Bên thế quyềnhoàn toàn có quyền yêu cầu bên chuyển quyền cung cấp thêm thông tin hoặc chuyển giaogiấy tờ do bên chuyển quyền chưa thực hiện Trong trường hợp bên chuyển quyền khôngthực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trên mà gây thiệt hại cho bênthế quyền thì phải bồi thường thiệt hại cho bên thế quyền theo quy định của pháp luật vềtrách nhiệm bồi thường thiệt hại
Khi chuyển giao quyền yêu cầu thì bên chuyển quyền đã hoàn toàn chấm dứt quyền củamình đối với bên có nghĩa vụ Người thế quyền trở thành người có quyền mới và có toànquyền yêu cầu đối với bên có nghĩa vụ Chính vì vậy, nếu bên có nghĩa vụ không thực hiệnđược nghĩa vụ đối với bên thế quyền thì người chuyển giao quyền yêu cầu cũng không phảichịu trách nhiệm gì Hay nói cách khác, sau khi thực hiện xong việc chuyển quyền, ngườichuyển giao quyền yêu cầu không còn liên quan và không có quyền, nghĩa vụ gì trong mốiquan hệ với người thể quyền và không phải chịu bất kỳ trách nhiệm gì nếu người có nghĩa vụkhông thực hiện nghĩa vụ đối với người có quyền
44 Trình bày hệ quả pháp lý sau khi quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ được chuyển giao
Hậu quả pháp lý: Việc chuyển giao quyền yêu cầu là người thứ 3 thay thế có quyền trước
tham gia vào một quan hệ nghĩa vụ dân sự hoàn toàn với tư cách là một chủ thể Người đãchuyển quyền yêu cầu thì chấm dứt quan hệ n/v với người có n/v Do đó, người chuyển giaoquyền yêu cầu hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ củangười có nghĩa vụ (trừ trường hợp có thỏa thuận)
Trang 32Nếu người có nghĩa vụ thực hiện không đúng, không đầy đủ n/v dân sự, thì ng thế quyềnvới tư cách là người có quyền mới, được thực hiện quyền yêu cầu của mình theo quy định củapháp luật Nếu bên chuyển giao quyền yêu cầu mà không thông báo về việc chuyển giaoquyền yêu cầu mà phát sinh chi phí cho bên có n/v thì bên chuyển giao quyền phải thanh toánchi phí.
Ví dụ: A vay B 1 tỷ đồng, và đã thế chấp căn nhà cho B để B cho vay tiền Sau khi cho Avay tiền, B đã chuyển quyền yêu cầu cho C- bồ yêu dấu của B, và C sẽ là người có quyềnnhận lại số tiền mà A đã vay của B A chấm dứt quan hệ, biện pháp bảo đảm chấm dứt
45 Nêu các trường hợp nghĩa vụ không được chuyển giao
Điều 370 Bộ luật Dân sự năm 2015?
Quy định về chuyển giao nghĩa vụ dân sự:
“1 Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ.
2 Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ”.
Chuyển giao nghĩa vụ dân sự làm chấm dứt quan hệ giữa bên có nghĩa vụ ban đầu với bên
có quyền làm phát sinh nghĩa vụ của người nhận chuyển giao với bên có quyền đó Tuynhiên, việc thực hiện nghĩa vụ đó vẫn phải gắn với lợi ích của bên có quyền nên mặc dù đượcchuyển giao nghĩa vụ cho người thứ ba nhưng phải thỏa mãn các điều kiện sau:
(1) Điều kiện thứ nhất: Nghĩa vụ được chuyển giao phải là nghĩa vụ có hiệu lực pháp lý và
không thuộc những trường hợp pháp luật không cho phép chuyển giao nghĩa vụ
Theo quy định của pháp luật, không được phép chuyển giao nghĩa vụ dân sự trong trườnghợp nghĩa vụ “gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ” hoặc pháp luật quy định khôngđược chuyển giao (như trường hợp nghĩa vụ đang có tranh chấp) Các trường hợp nghĩa vụdân sự không được chuyển giao như nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc các bên đã thỏa thuận phải dochính người đó thực hiện
(2) Điều kiện thứ hai: Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự phải có sự đồng ý của bên có
quyền, vì suy cho đến cùng, việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự làm thay đổi chủ thể thực hiệnnghĩa vụ và việc lựa chọn người gánh vác nghĩa vụ thay thế cho người trước đó chính là lựa
Trang 33chọn rủi ro cho người mang quyền Do vậy, pháp luật quy định bắt buộc phải có sự đồng ýcủa bên có quyền nhằm loại bỏ rủi ro đó.
46 Trình bày hệ quả pháp lý sau khi nghĩa vụ được chuyển giao
Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự có hiệu lực sẽ làm chấm dứt mối quan hệ pháp lý giữabên có nghĩa vụ với bên có quyền và làm phát sinh mối quan hệ pháp lý giữa người thế nghĩa
vụ với bên có quyền Theo đó, người thế nghĩa vụ sẽ trở thành người có nghĩa vụ, phải thựchiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trước bên mang quyền
Khi chuyển giao nghĩa vụ, bên đã chuyển giao không phải chịu trách nhiệm về hành vikhông thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của bên thế nghĩa vụ trước bên có quyền,trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác
Điều 371 Bộ luật Dân sự năm 2015, chuyển giao nghĩa vụ dân sự có biện pháp bảo đảm
được quy định như sau: “Trường hợp nghĩa vụ có biện pháp bảo đảm được chuyển giao thì biện pháp bảo đảm đó chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Trường hợp nghĩa vụ được chuyển giao, các biện pháp bảo đảm xác lập nhằm bảo đảm choviệc thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ cũng đương nhiên chấm dứt, bởi vì biện phápbảo đảm đó là bảo đảm cho chính hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ, trừ trườnghợp các bên có thỏa thuận Bởi vì, việc chuyển giao nghĩa vụ cho bên thế nghĩa vụ sẽ làmquan hệ nghĩa vụ ban đầu chấm dứt, bên thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ trong quan hệnghĩa vụ mới với bên có quyền Mặt khác, việc chuyển giao nghĩa vụ phải có sự đồng ý củabên có quyền, khi đó bên có quyền tự lựa chọn rủi ro cho chính mình trong việc chấp nhậnbên thứ ba thực hiện nghĩa vụ Do đó, khi kèm theo biện pháp bảo đảm trong quan hệ nghĩa
vụ trước đó thì khi chuyển giao cho bên thứ ba biện pháp bảo đảm này phải chấm dứt nếukhông có sự thỏa thuận khác
47.Trình bày các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
Điều 372?
Quan hệ nghĩa vụ phát sinh dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định, vì vậy, nó khôngthể tự nhiên chấm dứt mà cũng phải chấm dứt dựa trên những căn cứ do pháp luật quy định.Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy pháp luật quy định về 11 căn cứ làm chấm dứt nghĩa
vụ, cụ thể:
Trang 34-Một là: Nghĩa vụ được hoàn thành Điều 373? Nghĩa vụ được coi là hoàn thành khi bên
có nghĩa vụ đã hoàn thành xong nghĩa vụ đó theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy địnhcủa pháp luật Nếu trong trường trường hợp nghĩa vụ mới chỉ được thực hiện một nửa mà nửacòn lại bên có quyền miễn cho bên có nghĩa vụ thì cũng được xem là đã hoàn thành Kể cảtrong trường hợp bên có quyền chậm tiếp nhận nghĩa vụ thì nghĩa vụ vẫn được xem là đãhoàn thành, vì bên có nghĩa vụ đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ theo đúng thỏa thuận củacác bên hoặc theo quy định pháp luật
-Hai là: Theo thỏa thuận của các bên Điều 375? Thỏa thuận là sự thống nhất ý chí của
các bên về việc chấm dứt nghĩa vụ Nghĩa vụ sẽ chấm dứt kể từ thời điểm thỏa thuận của cácbên có hiệu lực pháp luật Dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận trongviệc xác lập, thay đổi chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể, pháp luật tôn trọngthỏa thuận của các bên về việc chấm dứt nghĩa vụ Tuy nhiên, thỏa thuận đó không đượcxâm phạm đến quyền và lợi ích của chủ thể khác, ảnh hưởng đến lợi ích chung của Nhà nước
và cộng đồng
-Ba là: Bên có quyền miễn việc thực hiện hiện nghĩa vụ Đ376? Là sự thể hiện ý chí của
bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ về việc không yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiệnnghĩa vụ với mình Việc thực hiện nghĩa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích của bên cóquyền, do đó, họ có thể từ bỏ lợi ích của mình bằng cách miễn thực hiện nghĩa vụ cho bên cónghĩa vụ Nghĩa vụ chấm dứt khi kể từ thời điểm người có quyền miễn việc thực hiện nghĩavụ
-Bốn là: Nghĩa vụ được thay thế bằng nghĩa vụ khác Đ377 Khi các bên thỏa thuận thay
thế nghĩa vụ ban đầu bằng nghĩa vụ khác nghĩa vụ ban đầu chấm dứt Ví dụ: Các bên thỏathuận thay thế nghĩa vụ trả tiền bằng nghĩa vụ trả vật, thì nghĩa vụ trả tiền chấm dứt
-Năm là: Nghĩa vụ được bù trừ Đ378, 379 Bù trừ nghĩa vụ được hiểu là cả hai bên đều
có nghĩa vụ cùng loại với nhau, đến thời hạn thì bù trừ nghĩa vụ cho nhau, tức không ai phảithực hiện nghĩa vụ với bên còn lại Nếu cả hai nghĩa vụ có giá trị ngang nhau thì nghĩa vụxem chấm dứt sau khi bù trừ Nếu giữa hai nghĩa vụ có sự chênh lệch thì các bên phải thanhtoán cho nhau phần chênh lệch đó
-Sáu là: Bên có nghĩa vụ và bên có quyền hòa làm một Đ380? Là trường hợp bên có
nghĩa vụ trở thành bên có quyền trong nghĩa vụ đó Ví dụ: pháp nhân sáp nhập với nhau
Trang 35-Bảy là: Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ đã hết Đ381? Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn
đó, thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn thực hiện nghĩa vụ dân sự đó Khi một chủ thểtham gia quan hệ dân sự và phải thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó, thì phải thựchiện trong một quãng thời gian nhất định Nếu kết thúc thời hạn đó thì nghĩa vụ dân sự chấmdứt
-Tám là: Bên có nghĩa vụ là cá nhân chết hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà
nghĩa vụ phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện Đ382? Việc thực hiện nghĩa vụ
luôn gắn với nhân thân của chủ thể, tức chủ thể phải tồn tại, hoạt động được thì mới có thểthực hiện nghĩa vụ Do đó, khi bên có nghĩa vụ là cá nhân đã chết, pháp nhân đã chấm dứt tồntại thì nghĩa vụ cũng chấm dứt Ví dụ: nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi bên có nghĩa vụ cấpdưỡng chết
-Chín là: Bên có quyền là cá nhân chết mà quyền yêu cầu không thuộc di sản thừa kế
hoặc là pháp nhân chấm dứt tồn tại mà quyền yêu cầu không được chuyển giao cho pháp nhân khác Trong trường hợp quyền yêu cầu gắn với nhân thân của cá nhân hoặc pháp
nhân mà theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận của các bên, khi cá nhân chết hoặcpháp nhân chấm dứt quyền yêu đó không để lại di sản thừa kế hoặc không được phép chuyểngiao thì quan hệ nghĩa vụ cũng chấm dứt
-Mười là: Vật đặc định là đối tượng của nghĩa vụ không còn và được thay thế bằng
nghĩa vụ khác Đ383? Với tính chất không thể thay thế cho nhau, bởi vật đặc định được phân
biệt rõ ràng thông quan ký hiệu, hình dáng, chất liệu, đặc điểm,…Nên khi chuyển giao vậtđặc định thì phải chuyển giao đúng vật đó Khi vật đặc định không còn thì nghĩa vụ chuyểngiao vật đặc định chấm dứt Tuy nhiên, để bảo vệ lợi ích của bên có quyền các bên phải thỏathuận thay thế nghĩa vụ khác, nếu không thì bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm bồithường thiệt hại
-Mười một là: Trường hợp khác do luật quy định Là các trường hợp quy định trong luật
khác, hoặc dự liệu các tình huống xảy ra trong tương lai là căn cứ chấm dứt nghĩa vụ, mà tạithời điểm hiện tại pháp luật không lường trước được
48.Khái niệm hơp đồng
Theo Điều 385 Bộ luật dân sự 2015: Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xáclập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Trang 36So với định nghĩa về hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 có thể nhận thấy định nghĩa vềhợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2015 có một sự tiến bộ đáng kể: Nếu Điều 394 Bộ luật
dân sự 2005 sử dụng thuật ngữ “Khái niệm hợp đồng dân sự” thì Điều 385 Bộ luật dân sự
2015 đã bỏ đi cụm từ “dân sự” và chỉ để “Khái niệm hợp đồng” Định nghĩa này thể hiện sự
tiến bộ và hợp lý bởi lẽ khái niệm hợp đồng vừa thể hiện sự ngắn gọn, súc tích vừa mang tínhkhái quát cao được hiểu là bao gồm tất cả các loại hợp đồng theo nghĩa rộng (hợp đồng dân
sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ…) chứ không chỉ
là các hợp đồng dân sự theo nghĩa hẹp đơn thuần
49.Phân loại hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ, lấy ví dụ và nêu ý nghĩa của phân loại
Căn cứ vào tương quan quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong hợp đồng
- Hợp đồng song vụ, là hợp đồng mà mỗi bên có nghĩa vụ đối với nhau (K1, Điều
402?)
VD: HD mua bán TS là hợp đồng song vụ Trong đó cả bên mua và bên bán TS đều cóquyền và nghĩa vụ với nhau, bên bán có nghĩa vụ giao TS và có quyền nhận tiền tương ứngvới TS mua bán còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền và có quyền nhận TS
- Hợp đồng đơn vụ, (K2, Điều 402?) Trong hợp đồng đơn vụ, quyền và nghĩa vụ của
các bên ko tương xứng với nhau mỗi bên ko có sự hỗ trợ và tương thuộc với nhau
VD: Hợp đồng tặng cho tài sản là HĐ đơn vụ vì trong hợp đồng tặng cho TS chỉ có bêncho TS là bên có nghĩa vụ thông báo khuyết tật của TS
=> ý nghĩa của việc phân loại: có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong vc định ra các quy chếpháp lý riêng biệt cho từng loại hợp đồng xác định quyền và nghĩa vụ tương thích cho từngloại hợp đồng, áp dụng các biệt lệ cho các loại hợp đồng
50.Phân loại hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế, lấy ví dụ và nêu ý nghĩa của phân loại
Căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
- Hợp đồng ưng thuận, là hợp đồng mà hiệu lực của nó phát sinh từ thời điểm các bên
thỏa thuận xong xuôi nội dung cần thiết (yêu cầu) của hợp đồng
Về nguyên tắc hợp đồng ưng thuận là hợp đồng mà hiệu lực của nó đk tạo lập tại thời điểmcác bên chấp nhận, đồng thời hoàn toàn với nhau về mặt nội dung của hợp đồng Vc thỏa
Trang 37thuận có thể đơn giản chỉ là sự thể hiện bằng lời nói, hành vi cụ thể hoặc = hình thức xác địnhkhác
Đối với HD có tính chất ưng thuận các bên thỏa thuận xong nội dung hợp đồng thì hợpđồng đã có giá trị ràng buộc mà ko cần phải qua 1 thể thức, thủ tục nào Vì thời điểm có hiệulực của loại hợp đồng này phát sinh trùng với thời điểm giao kết hợp đồng
VD: Hợp đồng mua bán tài sản, thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thỏathuận Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ đượcgiao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý Khi các bên không thỏa thuậnthời hạn giao tài sản thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán giao tài sản và bên bán cũng cóquyền yêu cầu bên mua nhận tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho nhau một thờigian hợp lý
- Hợp đồng thực tế: là hợp đồng mà sau khi thoả thuận, hiệu lực của hợp đồng chỉ
phát sinh tại thời điểm các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng
Đặc điểm cơ bản của hợp đồng thực tế là hiệu lực của nó lệ thuộc vào thời điểm thực tế khimột bên hứa giao tài sản đã thực hiện hành vi chuyển giao TS cho bên kia
VD: Hợp đồng cho vay tiền hoặc các tài sản khác, hợp đồng gửi giữ tài sản, hợp đồng cầm
Căn cứ vào tính chất có đi có lại về lợi ích giữa các bên tham gia hợp đồng
- Hợpchuyển đồng có đền bù là hợp đồng mà trong đó có 1 bên nhận đk 1 thì phải cho bên kia 1 lợi ích khác tương ứng
VD: hợp đồng mua bán, trao đổi, thuê tài sản hay các hợp đồng dịch vụ, vận chuyển, giacông,
- Hợp đồng ko có đền bù là hợp đồng mà trong đó có 1 bên nhận dk 1 lợi ích thì kophải hoàn trả cho bên kia 1 lợi ích nào
Trang 38Trong hợp đồng ko có đền bù thường ko có sự trao đổi giữa các bên mà chủ yếu chỉ có 1bên chuyển giao lợi ích cho bên kia Đây là những hợp đồng ko chịu chi phối của quy luậtmang tính chất tình cảm, tương trợ
VD: hợp đồng tặng cho TS, vay TS ko có lãi, hợp đồng mượn TS, hợp đồng gửi giữ TS kolấy thù lao,
=> ý nghĩa: có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn Thường thì trách nhiệm của bên nhậnđền bù từ việc thực hiện hợp đồng đòi hỏi nhiều hơn so với trách nhiệm của bên ko nhận đkđền bù Trong pháp luật hiện hành, trách nhiệm của bên bán đối với khuyết tật của vật đk ápdụng kể cả khi bên bán ko biết khuyết tật đó tương tự trách nhiệm thông báo khuyết tật củabên cho thuê khác với bên mượn TS Hơn nữa trong việc thực hiện các hợp đồng vay TS ko
có đền bù cx khác so với hợp đồng vay TS có đền bù, vc đơn phương chấm dứt hợp đồng ủyquyền giữa có đền bù và ko đền bù cx khác nhau
52.Phân loại hợp đồng thương lượng và hợp đồng mẫu, lấy ví dụ và nêu ý nghĩa của phân loại
Dựa theo cách thức thỏa thuận để xác lập hợp đồng
- Hợp đồng mẫu (K1 Điều 405)
- Hợp đồng thương lượng là hợp đồng đk hình thành trong ý chí chung của các bên thamgia thông qua sự đồng thuận của các bên về điều khoản hoặc tất cả nội dung của hợp đồngCác bên tham gia dựa trên nguyên tắc tự do, bình đẳng và có vai trò ngang nhau trong vcbày tỏ ý chí hình thành nên hợp đồng
53.Phân loại hợp đồng cá thể và hợp đồng tập thể, lấy ví dụ và nêu ý nghĩa của phân loại
Hợp đồng cá thể là hợp đồng chỉ ràng buộc chủ thể nào ưng thuận giao kết, bằng cách
tự mình bày tỏ ý chí hoặc thông qua người đại diện bày tỏ ý chí
Hợp đồng tập thể là ràng buộc với một nhóm chủ thể (tất nhiên ko có tư cách phápnhân) mà ko cần sự ưng thuận của từng chủ thể thành viên của nhóm
Ví dụ: Thỏa ước lao động tập thể là ví dụ của hợp đồng tập thể
=> Ý nghĩa của phân loại:
54.Phân loại hợp đồng gắn với nhân thân và hợp đồng không gắn với nhân thân, lấy
ví dụ và nêu ý nghĩa của phân loại
Trang 39 Hợp đồng gắn với nhân thân: Có những hợp đồng mà hiệu lực chỉ được duy trì chừngnào người giao kết và thực hiện đúng là những người đã thỏa thuận về việc xác lập nghĩa vụ;nghĩa là nếu người giao kết và thực hiện ko phải là người đó, thì hợp đồng chấm dứt.
Ví dụ: Hợp đồng bảo lãnh hợp đồng ủy quyền
Nhân thân được tính đến có thể là nhân thân chủ quan: người giao kết và thực hiện phảiđúng là người đó Đôi khi việc giao kết và thực hiện được chấp nhận trên cơ sở nhân thânkhách quan: người giao kết và thực hiện phải là người có năng lực chuyên môn và nói chung
có các phẩm chất chuyên môn nhất định, chứ ko nhất thiết là một người có lai lịch nhất định
=> Ý nghĩa phân loại:
55.Phân loại hợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh, lấy ví dụ và nêu ý nghĩa của phân loại
Hợp đồng được tạo lập nên bởi ý chí của các bên, nên phạm vi của hợp đồng rất rộng lớn.Nhà làm luật không thể dự liệu được tất cả các loại hợp đồng, trong khi các dạng hợp đồngngày một nhiều lên và phức tạp dần theo thời gian Vì vậy, người ta phân loại hợp đồng thànhhợp đồng hữu danh và hợp đồng vô danh
Khi nghiên cứu về luật hợp đồng của các nước Phương Tây, các luật gia Xô viết cũ đã phảinhận định sự phát triển của luật hợp đồng gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa và đi theo hai hướng là hiệu lực của luật hợp đồng được mở rộng, bởi thườngxuyên xuất hiện các dạng hợp đồng mới, và xuất hiện một quy trình “phi dân sự hoá” (Thuậtngữ “phi dân sự hoá” được chúng tôi mượn từ một cuốn sách khác của các luật gia tư bản và
sử dụng ở đây để tổng hợp ý kiến của các luật gia Xô Viết – TG) một số loại hợp đồng, bởi
có nhiều dạng hợp đồng mới xuất hiện và nhiều dạng hợp đồng được cấu thành nên bởi cácdạng hợp đồng khác nhau (9) Do vậy, luật hợp đồng không thể chứa đựng được tất cả cácdạng hợp đồng và cũng khó phân loại được chúng một cách đầy đủ
Khi viết về Bộ luật Dân sự Nhật Bản, các luật gia Nhật Bản cũng đã phân loại hợp đồngthành hai loại là hợp đồng hữu danh hay hợp đồng điển hình (named contracts or typicalcontracts), và hợp đồng vô danh hay hợp đồng không điển hình (unnamed contracts or non-typical contracts)(10) Hợp đồng hữu danh là loại hợp đồng mà nhà làm luật dự liệu được vàquy định trong các đạo luật về hợp đồng Còn hợp đồng vô danh là loại hợp đồng mà nhà làmluật không dự liệu được nên không quy định trong các đạo luật về hợp đồng Do vậy, đối vớihợp đồng vô danh thực chất các bên tự làm ra luật cho bản thân mình Và khi tranh chấp xảy
Trang 40ra trong quan hệ hợp đồng này, người ta phải giải quyết trên nền tảng của tự do ý chí, và dựavào các giải pháp được rút ra từ chính hợp đồng và lẽ công bằng… Các bên có liên quan cóthể bằng một thoả thuận chung để loại ra hay đưa vào hợp đồng một nội dung khác hay một
hệ quả khác với những gì mà pháp luật quy định Họ cũng có thể sáng tạo ra các hợp đồng màpháp luật không quy định
Đặc tính này dẫn tới hệ quả rất đáng lưu ý về nguồn của luật hợp đồng và vấn đề áp dụngluật hợp đồng Việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng không thể chỉ căn cứ vào các đạoluật mà phải lấy giải pháp từ các nguồn khác như tiền lệ pháp, tập quán pháp, học thuyết pháp
lý và lẽ công bằng
56.Phân loại hợp đồng liên tục và hợp đồng tức thì, lấy ví dụ và nêu ý nghĩa của phân loại
Hợp đồng tức thì là hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ được thực hiện 1 lần duy nhất Ví
dụ hợp đồng mua bán mà trong đó tài sran bán được giao và gián bán được thanh toán trong 1lần
Hợp đồng liên tục là hợp đồng được thực hiện thành nhiều lần Ví dụ, hợp đồng thuê tàisản, mượn tài sản trong 1 thời hạnhạn
57.Trình bày về các nguyên tắc của pháp luật hợp đồng
Điều 3?
Xem xét các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015,
có thể rút ra hai nguyên tắc cơ bản của luật tư là nguyên tắc tự do ý chí (khoản 2) và nguyêntắc thiện chí (khoản 3) Trong đó, nguyên tắc tự do ý chí là cơ sở cho hai tiểu nguyên tắc của
nó là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng và tự do ý chí có sự giới hạn bởi các trật tựcông cộng (khoản 4) Điều 5 về áp dụng tập quán của Bộ luật tuy không được coi là “nguyêntắc cơ bản” của pháp luật dân sự, nhưng ở cấp độ chế định hợp đồng, nó là một quy địnhchung mang tính khái quát áp dụng cho cả chế định thì vẫn nên được coi là nguyên tắc cơ bảncủa pháp luật về hợp đồng Như vậy, pháp luật hợp đồng Việt Nam có ba nguyên tắc cơ bản:nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc thiện chí và nguyên tắc áp dụng tập quán
3.2 Nguyên tắc tự do ý chí và sự hạn chế tự do ý chí
Thứ nhất, nguyên tắc tự do ý chí: