Trong bất kì xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư bằng cách áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng những tri thức, trí tuệ vào trong quá trình sản xuất,… để
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ GIAO THÔNG VẬN TẢI
KHOA CHÍNH TRỊ - QPAN - GDTC
BỘ MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
TIỂU LUẬN
Tên tiểu luận: “Phân tích hai phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư và giá trị thặng dư siêu ngạch? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề
này đối với việc phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay?”
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thanh Thảo
Giáo viên hướng dẫn : Lê Thị Huyền
HÀ NỘI – 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I, Lý thuyết 2
1 Khái niệm giá trị thặng dư 2
2 Phân tích phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư tương đối 2
2.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối 2
2.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối 3
3 Phân tích phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch 4
II, Vận dụng 6
1 Thực trạng 6
2 Giải pháp 8
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 31
MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị Mác – Lênin Giá trị thặng dư được C.Mác xem là phần chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và số tiền mà nhà tư bản bỏ ra Trong quá trình kinh doanh, nhà tư bản bỏ ra tư liệu sản xuất và thuê mướn lao động Giá trị thặng dư chính là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Khái quát lại, nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí lao động gây ra Trong bất kì xã hội nào cũng cần phải tìm cách tăng giá trị thặng dư bằng cách áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, sử dụng những tri thức, trí tuệ vào trong quá trình sản xuất,… để phát triển kinh tế, nâng cao quyền lợi, chất lượng cuộc sống cho con người Và để thu được nhiều giá trị thặng dư cần có phương pháp nhất định C.Mác đã chỉ ra nhà tư bản sử dụng hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản suất giá trị thặng dư tương đối Để làm rõ hơn vấn đề này, em sẽ nghiên
cứu đề tài: “Phân tích hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và giá trị thặng dư siêu ngạch? Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay?” Với hiểu biết và kiến thức còn hạn
chế nên trong quá trình làm tiểu luận không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô để có thể tốt hơn trong quá trình học tập
Trang 42
NỘI DUNG
I, Lý thuyết
1 Khái niệm giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư chính là giá trị do công nhân làm thuê lao động sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt hết Đối với hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào tư liệu sản xuất và mua sức lao động Mục đích khi chi tiền là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà họ đã chi trong quá trình sản xuất Số tiền dôi ra chính là giá trị thặng dư
Như vậy phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm hết được gọi là giá trị thặng dư
Giá trị thặng dư được Mác nghiên cứu dưới góc độ hao phí lao động Trong đó công nhân làm thuê sản xuất nhiều giá trị hơn chi phí được trả cho họ Đây là yếu
tố được quy định bởi tiền lương tối thiểu chỉ đủ cho họ sinh sống với tư cách người lao động Đối với Mác sự bóc lột sức lao động chỉ có thể được loại bỏ khi nhà tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị mới được tạo ra
2 Phân tích phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng
dư tương đối
2.1 Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không thay đổi
Ví dụ: Nếu ngày lao động là 8 giờ, thời gian lao động tất yếu là 4 giờ, thời gian lao động thặng dư là 4 giờ, thì tỷ suất giá trị thặng dư là:
Trang 53
Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa, thời gian lao động tất yếu không đổi (4 giờ), thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, thì tỷ suất giá trị thặng dư là:
Để có nhiều giá trị thặng dư, người mua hàng hóa sức lao động phải tìm mọi cách để kéo dài ngày lao động và tăng cường độ lao động
Tuy nhiên, ngày lao động chịu giới hạn về mặt sinh lý (công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí) nên không thể kéo dài bằng ngày tự nhiên, còn cường độ lao động cũng không thể tăng vô hạn quá sức chịu đựng của con người Hơn nữa, công nhân kiên quyết đấu tranh đòi rút ngắn ngày lao động Quyền lợi hai bên có mâu thuẫn, thông qua đấu tranh, tùy tương quan lực lượng mà tại các ân tộc trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể có thể quy định độ dài nhất định của ngày lao động Tuy vậy, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu và cũng không thể vượt giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động
2.2 Sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu, do đó kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi độ dài ngày lao động không đổi thậm chí rút ngắn
Ví dụ: Ngày lao động là 8 giờ, trong đó : 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và
4 giờ là thời gian lao động thặng dư thì m’ = 100% Nếu thời gian lao động tất yếu giảm còn 2 giờ, thì thời gian thặng dư là 6 giờ khi đó m’ = 300%
Nếu ngày lao động giảm xuống còn 6 giờ nhưng giá trị sức lao động giảm khiến thời gian lao động tất yếu rút ngắn xuống còn 1 giờ thì thời gian lao động thặng dư sẽ là 5 giờ khi đó m’ = 500%
Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết để tái sản xuất sức lao động, do đó phải tăng năng suất lao động
Trang 64
trong các ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để chế tạo ra tư liệu sinh hoạt đó
3 Phân tích phương pháp sản xuất giá trị thặng dư siêu ngạch
Trong thực tế, việc cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động diễn ra trước hết
ở một hoặc vài xí nghiệp riêng biệt, làm cho hàng hóa do các xí nghiệp ấy sản xuất ra có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó, sẽ thu được một số giá trị thặng dư trội hơn so với các xí nghiệp khác Phần giá trị thặng dư vượt trội đó gọi
giá trị thặng dư siêu ngạch
Xét trong từng trường hợp đơn vị sản xuất cá biệt, giá trị thặng dư siêu ngạch
là một hiện tượng tạm thời, xuất hiện rồi mất đi, nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch lại là hiện tượng tồn tại thường xuyên
Giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động Hoạt động riêng lẻ đó của từng nhà
tư bản đã dẫn đến kết quả làm tăng năng suất lao động xã hội, hình thành giá trị thặng dư tương đối, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Vì vậy, giá trị thặng
dư siêu ngạch là hình thái biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
Trong thực tiễn lịch sử phát triển kinh tế thị trường trên thế giới, giai cấp tư sản đã thực hiện những cuộc cách mạng lớn về sản xuất để không ngừng nâng cao năng suất lao động Đó là cách mạng về tổ chức, quản lý lao động thông qua thực hiện hiệp tác giản đơn, cách mạng về sức lao động thông qua thực hiện hiệp tác
có phân công và cách mạng về tư liệu lao động thông qua sự hình thành và phát triển của nền đại công nghiệp
Sự hình thành và phát triển của nền đại công nghiệp thông qua cách mạng công nghiệp đã mở ra những điều kiện mới cho phát triển khoa học và công nghệ, thúc đẩy sản xuất nói chung và sản xuất giá trị thặng dư nói riêng phát triển nhanh
Trang 75
Cùng với toàn cầu hóa kinh tế, khoa học và công nghệ ngày càng trở thành nhân tố quan trọng của sản xuất giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường trên thế giới hiện nay
Trang 86
II, Vận dụng
1 Thực trạng
Nhìn vào thực tế, nước ta là một nước có xuất phát điểm thấp nên còn nhiều doanh nghiệp quy mô còn nhỏ, kỹ thuật công nghệ chưa cao, thiếu vốn đầu tư, chưa có nhiều mặt hàng chiến lược và thương hiệu
Do quy mô nhỏ nên vốn đầu tư ít Chính vì vậy mà các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện và khả năng để trang bị máy móc công nghệ hiện đại, phải sử dụng công nghệ cũ với trình độ lao động thấp
Điều này dẫn tới giá cả, cũng như chất lượng sản phẩm chưa đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm, hàng hóa khác trên thế giới
Ví dụ: Các sản phẩm của Trung Quốc đa dạng với nhều mặt hàng, mẫu mã khác nhau, bắt mắt người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm tốt, giá cả thấp phù hợp với đông đảo người dân nên được ưa chuộng hơn những sản phẩm của Việt Nam
Việc vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là việc phát triển nguồn nhân lực, khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả kinh tế; áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng suất lao động; và việc phân phối giá trị thặng dư:
Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta: Nước ta có nguồn lao động
dồi dào, số người trong độ tuổi lao động chiếm phần đa số ngoài ra còn phải kể đến hàng triệu người già vẫn còn khả năng lao động và mong muốn được lao động Thêm vào đó người lao động Việt Nam lại cần cù, chăm chỉ, năng động có khả năng thích ứng thị trường cao, nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất kinh doanh Tuy đây là một thuận lợi lớn của nước ta song chất lượng lao động và trình độ kỹ thuật, tay nghề của lao động Việt Nam còn thấp, cơ cấu ngành không hợp lý, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động không có việc làm cao Muốn khắc phục nhược điểm này ta phải biết tăng chất lượng của nguồn lao động như nâng cao trình độ học vấn của nhân nhất là phổ cập tiểu học, trung học cơ sở,
mở trường dạy nghề, học phải gắn với thực hành Trước tình hình đó Đảng đã có
Trang 97
chủ trương: “Xã hội hoá giáo dục nhằm đa dạng hoá các loại hình giáo dục, đào tạo với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm” Với những chủ trương đó chất lượng nguồn lao động đã có những sự biến đổi so với trước đây
Khuyến khích đầu tư và sử dụng vốn có hiệu quả: Đứng trước xu thế toàn cầu
hoá kinh tế và sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nền kinh tế nước ta không thể là một nền kinh tế khép kín mà phải tích cực mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại Chúng ta “mở cửa” nền kinh tế, thực hiện đa dạng hoá đa phương hoá quan hệ kinh tế quốc tế nhằm thu hút các nguồn lực phát triển từ bên ngoài và phát huy lợi thế kinh tế trong nước làm thay đổi mạnh mẽ công nghệ, cơ cấu ngành và sản phẩm mở rộng phân công lao động quốc tế, tăng cường liên doanh liên kết hợp tác để tạo điều kiện khuyến khích sản xuất trong nước phát triển bắt kịp với trình độ thế giới
Áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất: Theo lý luận giá trị thặng dư của
C.Mác, máy móc không tạo ra giá trị thặng dư, nhưng nó tạo điều kiện để tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị của thị trường, nhờ đó mà giá trị thặng dư tăng lên Ngày nay, việc ứng dụng khoa học -
kỹ thuật đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với nông nghiệp, đem lại giá trị kinh tế cao như sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến Đối với công nghiệp, nhất là trong ngành công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học - kỹ thuật của thế giới và đã thực hiện được đúng theo chủ trương “đi trước đón đầu” của Đảng ta Với các lĩnh vực khác trong ngành công nghiệp, việc sử dụng các máy móc hiện đại vào sản xuất cũng được đẩy mạnh, góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp lên 12,9% (năm 2000)
Vấn đề bóc lột trong sản xuất và phân phối giá trị thặng dư ở nước ta: Ngày
nay sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn, để thành công trong công việc kinh doanh, người chủ kinh doanh ngày nay không chỉ có đóng góp tài sản, tiền vốn mà còn đóng góp sức lao động của mình vào quá trình sản xuất Sức lao động
đó trực tiếp góp phần tạo ra giá trị thặng dư Tài sản và tiền vốn có nguồn gốc từ lao động, là sản phẩm của lao động nên nó đóng vai trò hết sức quan trọng của
Trang 108
quá trình sản xuất Tài sản và vốn là yếu tố thu hút sức lao động, và nhờ vậy sản xuất ra giá trị thặng dư và phần thu nhập của người chủ kinh doanh là không liên quan đến bóc lột Và hiện nay, ở nước ta cũng đang thực hiện cách phân phối này, phân phối theo lao động và phân phối theo vốn, tài sản Phân phối theo lao động thì dựa trên nguyên tắc lao động ngang nhau thì hưởng ngang nhau, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít Với xu thế cổ phần hoá trong sự hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp, có phần góp vốn của người lao động và người lao động cũng được phân phối một phần lợi nhuận cho vốn – theo vốn của họ Đây là hình thức phân phối giá trị thặng dư nhưng trong xã hội cũng có những người không thể tham gia góp vốn và lao động được thì cần phải có hình thức phân phối lại qua các quỹ phúc lội công cộng của xã hội và của tập thể Nội dung của hình thức phân phối này được biểu hiện ở việc: mọi công dân đều phải có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước - Nhà nước là đại diện cho lợi ích của toàn dân, toàn xã hội Nhà nước trích một phần ở trong ngân sách thu từ thuế lập quỹ phúc lợi xã hội Những người được hưởng họ sẽ không trực tiếp được hưởng ngay một lúc toàn bộ giá trị mà họ đã sáng tạo ra mà họ sẽ được hưởng gián tiếp từ từ thông qua các quỹ phúc lợi hay các hàng hoá công cộng
2 Giải pháp
Để phát triển nền kinh tế nước ta hiện nay cần đưa ra một số giải pháp sau:
Một là, thừa nhận, hoàn thiện và phát triển thị trường sức lao động Sức lao
động là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vì vậy trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa việc thừa nhận tính hàng hóa của sức lao động có lợi cho việc phân bổ hợp lý nguồn nhân lực, thúc đẩy việc nâng cao năng xuất lao động của cá nhân và xã hội Trong quá trình thừa nhận, hoàn thiện và phát triển thị trường sức lao động cần coi sức lao động là hàng hóa trong tất cả các thành phần kinh tế, mọi khu vực của nền kinh tế quốc dân Hiện nay sức lao động mới thực sự là hàng hóa trong khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và một số đơn vị sự nghiệp có nguồn thu Khu vực hành chính vẫn còn chế
độ biên chế, tiền lương thấp chưa phản ánh đúng bản chất của nó (tiền công là
Trang 119
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa sức lao động) nên dẫn đến hiện tượng tham nhũng, quan liêu hoặc những người thực sự có năng lực không muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước Trong quá trình đổi mới thị trường hóa sức lao động cần thực hiện chế độ hợp đồng làm việc (chế độ sử dụng sức lao động), hình thành các trung tâm trao đổi mua bán nhân tài Thực hiện nguyên tắc thị trường trong quan hệ tiền lương
Hai là, khai thác những di sản lý luận C Mác về phương pháp sản xuất ra
giá trị thặng dư trong nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa
Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã phát triển nền kinh tế hàng hóa, thông qua thị trường, giai cấp tư sản mới mua được tư liệu sản xuất và sức lao động, mới bán được hàng hóa và bóc lột được giá trị thặng dư do người lao động tạo ra Trong nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản, dưới sự tác động của các quy luật kinh tế, trong đó có quy luật giá trị thặng dư, nhà tư bản thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là thực hiện kéo dài ngày lao động, tăng cường
độ lao động nhưng phương pháp này vấp phải những phản kháng của người lao động nên các nhà tư bản thực hiện phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối bằng cách ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để tăng năng suất lao động xã hội, bên cạnh đó các nhà tư bản còn tích cực cải tiến
tổ chức sản sức, tiết kiệm chi phí sản xuất, tìm hiểu nhu cầu của thị trường Các tiềm năng về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ, từ đó làm cho nền kinh tế năng động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế cần phải vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư mà các nhà tư bản đã vận dụng để phát triển sản xuất đặc biệt là chú trọng vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối để năng cao năng suất lao động, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với phân phối theo lao động và hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động