1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận luật sư và đạo đức nghề luật sư, QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VÀ KHÁCH HÀNG THỰC TRẠNG – GIẢI PHÁP

14 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ giữa luật sư và khách hàng: Thực trạng – Giải pháp
Trường học Học viện Tư pháp
Chuyên ngành Luật sư và đạo đức nghề luật sư
Thể loại Tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 159,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viện tư pháp khoa đào tạo luật sư tiểu luận kết thúc môn học môn luật sư và đạo đức nghề luật sư chủ đề quan hệ giữa luật sư và khách hàng thực trạng – giải pháp đề tài tiểu luận i những lý luận cơ bản về quan hệ giữa luật sư với khách hàng khái niệm luật sư và khách hàng bản chất mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng Thực trạng Đề xuất giải pháp khắc phục và cải thiện thực trạng về quan hệ giữa luật sư với khách hàng tại việt nam

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ

-o0o -TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC Môn: Luật sư và Đạo đức nghề Luật sư

CHỦ ĐỀ: QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VÀ KHÁCH HÀNG

THỰC TRẠNG – GIẢI PHÁP

Họ và tên Ngày sinh

Số báo danh Lớp Luật sư

Trang 3

MỤC LỤC

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN 3

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VỚI KHÁCH HÀNG 3

1 Khái niệm Luật sư và Khách hàng 3

1.1 Khái niệm Luật sư 3

2 Bản chất mối quan hệ giữa Luật sư và Khách hàng 4

3 Nghĩa vụ, trách nhiệm của Luật sư trong mối quan hệ với khách hàng 5

4 Những quy định pháp luật về quan hệ giữa Luật sư và Khách hàng 6

4.1 Luật Luật sư 2006 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VÀ KHÁCH HÀNG HIỆN NAY TẠI NƯỚC TA 8 CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VÀ CẢI THIỆN THỰC TRẠNG VỀ QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VỚI KHÁCH HÀNG TẠI VIỆT NAM 11 KẾT LUẬN 13

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 4

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN

Ngày nay, pháp luật đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, góp phần bảo vệ và duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển của đất nước Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới, vai trò của pháp luật một lần nữa được khẳng định với một tầm cao mới nhằm góp phần thúc đẩy đất nước

ta hội nhập một cách sâu rộng vào nền kinh tế mở của thế giới và mở ra một thời cơ mới cho những người đang hành nghề luật nói chung và Luật sư nói riêng

Luật sư là hoạt động nghề nghiệp cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng trên các lĩnh vực tố tụng, tư vấn, đại diện ngoài tố tụng, thực hiện các dịch vụ pháp lý khác Công việc hành nghề của Luật sư luôn gắn với khách hàng và là quan hệ thường xuyên, phổ biến nhất trong các quan hệ luên quan đến nghề nghiệp Luật sư Do đó, quan hệ giữa Luật

sư với khách hàng là quan hệ cơ bản nhất trong hoạt động nghề nghiệp Luật sư

Mặc dù vậy, hiện nay số lượng Luật sư vi phạm quy định của pháp luật, cụ thể là Luật Luật sư và hàng Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư còn rất nhiều Đặc biệt có những hành động của Luật sư gây ra mất uy tính, sự tôn nghiêm của nghề Luật sư trong mắt khách hàng Ngoài ra, việc Luật sư không có thái độ và cư xử chưa đúng với khách hàng cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ hợp pháp của chính mình cũng như của khách hàng

Vậy nên, tôi chọn “Quan hệ giữa Luật sư và khách hàng – Thực trạng và giải pháp” để làm chủ đề tiểu luận với mong muốn: Những thế hệ Luật sư trẻ có cách nhìn đúng đắn hơn và có kinh nghiệm hơn trong mối quan hệ giữa mình và khách hàng

CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VỚI

KHÁCH HÀNG

1 Khái niệm Luật sư và Khách hàng

1.1 Khái niệm Luật sư

Theo Điều 2, Luật Luật sư 2006 quy định Luật sư là : “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng).”

Hay nói cách khác, Luật sư là người có “Tư cách pháp lý Luật sư ” theo quy định của Luật Luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng và cơ quan tố tụng, phù hợp với quy định của pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam

Trang 5

Trong đó, Tư cách pháp lý Luật sư là cách thức thể hiện chức năng, vị trí, vai trò,

sứ mệnh nghề nghiệp, phù hợp với địa vị pháp lý Luật sư , với Pháp luật về Luật sư và quy tắc đạo đức - ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam

Tiêu chuẩn của Luật sư được quy định tại Điều 10, Luật Luật sư 2006, cụ thể như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề Luật sư , đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư , có sức khỏe bảo đảm hành nghề Luật sư thì có thể trở thành Luật sư ” Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề Luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề Luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư " Theo đó, khi đáp ứng đủ những điều kiện và tiêu chuẩn được đề ra, mỗi người hành nghề luật với chức danh Luật sư có thể thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức, Nhà nước trong quá trình tố tụng

và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác với nhiều tư cách khác nhau

Đối với vụ án hình sự, Luật sư tham gia với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay bảo vệ quyền lợi của bị hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự

1.2 Khái niệm khách hàng

Điều 2 Luật Luật sư cũng đã quy định: Khách hàng là cơ sở, tổ chức, cá nhân

ủy thác cho Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý Luật sư chỉ cung cấp dịch vụ pháp lý

theo yêu cầu của khách hàng Trường hợp Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cơ quan tố tụng thì cơ quan tố tụng cũng được coi là một khách hàng đặc biệt của Luật sư

Nhận biết rõ khách hàng của Luật sư là ai là một khía cạnh cần quan tâm trong khi tiếp xúc với khách hàng Theo quy định pháp luật tố tụng cho phép người bị tạm giữ, bị can được nhờ và Luật sư được tham gia bào chữa từ giai đoạn tạm giữ, khởi tố điều tra (khởi tố bị can) Nhưng trong thực tiễn đời sống, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có những mối quan hệ khác nhau (gia đình, xã hội, đơn vị công tác, ), nên khi xảy ra vụ việc bị tạm giữ, bị bắt tạm giam, người đến nhờ Luật sư chủ yếu là bạn bè, người quen chứ không phải là người bị tạm giữ, bị can hoặc bị cáo

2 Bản chất mối quan hệ giữa Luật sư và Khách hàng

Mối quan hệ Luật sư với khách hàng là một trong những mối quan hệ cơ bản nhất

và cũng là quan trọng nhất trong hoạt động hành nghề luật Sứ mệnh nghề nghiệp, mục

Trang 6

đích và kỹ năng hành nghề đều khởi nguồn từ nhu cầu của khách hàng Nếu Luật sư thiết lập được mối quan hệ tốt với khách hàng và tạo được uy tín, khách hàng không chỉ tiếp tục sử dụng dịch vụ của Luật sư khi có vụ việc mới mà còn có thể giới thiệu cho Luật sư những tệp KH mới là bạn bè, đối tác của KH từ đó Luật sư có thể mở rộng phạm vi đối tượng hợp tác, khách hàng chủ động tìm đến mình Điều này tạo nên sự nhận diện hoạt động, uy tín, tình trạng tích cực hoặc tiêu cực trong hoạt động nghề nghiệp của Luật sư liên quan đến quá trình thực hiện mối quan hệ này

Và cơ sở để xác định hình thành mối quan hệ giữa Luật sư và KH là khi Luật sư chấp nhận tiếp nhận vụ việc và hai bên ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với nhau

Có thể nhận diện mối quan hệ giữa Luật sư và KH trên ba phạm vi như sau:

Thứ nhất, quan hệ trong phạm vi tham gia tư vấn, hỗ trợ về pháp lý, tham gia tố tụng và cung cấp các dịch vụ pháp lý khác bào chữa trong các giai đoạn tố tụng Như đã

đề cập ở trên, đây là mối quan hệ cơ bản, và khiến cho trách nhiệm pháp lý của Luật sư trước pháp luật và trước khách hàng

Thứ hai, quan hệ với tư cách con người với nhau trong đời sống xã hội.

Trong giao tiếp giữa Luật sư và KH, mối quan hệ tình cảm chân chính sẽ nảy sinh một cách tự nhiên, trong đó thể hiện sự tin cậy, tôn trọng lẫn nhau và cùng chung mục tiêu chung là bảo vệ tốt nhất quyền lợi hợp pháp của KH dựa trên cơ sở pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp

Thứ ba, quan hệ về tài sản giữa Luật sư và khách hàng

Quan hệ về tài sản ở đây khác với thỏa thuận về thù lao với khách hàng Ví dụ: Luật sư vay mượn tiền của KH hoặc nhận ưu đãi từ khách hàng,…Đạo đức nghề nghiệp Luật sư không cho phép Luật sư chạy theo lợi ích vật chất, coi đó là mục tiêu duy nhất của hành nghề Luật sư và không được tham gia các hoạt động kinh doanh mà có thể ảnh hưởng đến

uy tín và thanh danh của NLUẬT SƯ

3 Nghĩa vụ, trách nhiệm của Luật sư trong mối quan hệ với khách hàng

Có nhận định cho rằng “Luật sư nhận thù lao từ khách hàng nên chỉ có nghĩa vụ bảo vệ quyền lợi của khách hàng” Mặc dù tại Khoản 4, Điều 5, Luật Luật sư quy định:

“Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng” cùng với đó tại Quy tắc 5 nằm trong Những quy tắc cơ bản trong quan hệ với

khách hàng Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam quy định:

“Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng” Tuy nhiên, Luật sư cũng cần

lưu ý đến Quy tắc đầu tiên được quy định tại Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư đó là: “Luật sư có sứ mệnh bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ

Trang 7

quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, cơ quan, bảo vệ sự độc lập của tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, công bằng, phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” Với vị trí là một Luật sư , Luật sư có nghĩa

vụ tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, nhưng song song với đó, Luật sư cũng cần phải luôn nhớ sứ mệnh của mình

là đảm bảo cho sự công bằng của xã hội với tinh thần thượng tôn pháp luật được đặt lên hàng đầu

Ngoài ra, tại Điều 3 của Luật Luật sư cũng quy định rõ về Chức năng xã hội của

Luật sư : “Hoạt động nghề nghiệp của Luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.”

Như vậy, một Luật sư có nghĩa vụ phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho khách hàng của mình nhưng trên cơ sở tôn trọng pháp luật và phù hợp với nguyên tắc hành nghề, luôn đảm bảo trong phạm vi pháp luật cho phép, tuyệt đối khơng vì những lợi ích cá nhân, kinh tế mà vi phạm quy định pháp luật, đạo đức nghề nghiệp chỉ vì bảo vệ cho lợi ích của khách hàng Vì vậy, khi làm việc với khách hàng nên phải

áp dụng theo tiêu chí: (i) khơng trái với pháp luật, (ii) không trái với đạo đức và (iii) có

lí do chính đáng Bên cạnh đó, ngồi việc tuân thủ các nội dung cơ bản theo Điều 26 của Luật Luật sư , cần phải lưu ý mô tả rõ ràng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của hai bên khi ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý

4 Những quy định pháp luật về quan hệ giữa Luật sư và Khách hàng

4.1 Luật Luật sư 2006

Tại Khoản 4, Điều 5, Luật Luật sư quy định về nguyên tắc hành nghề Luật sư có nêu rõ: “Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.” Cần phân biệt rõ “bảo vệ tốt nhất” có nội hàm khác hoàn toàn với “bảo vệ bằng mọi giá” Luật sư thông qua việc tiếp xúc ban đầu với khách hàng, cần tìm hiểu tâm

tư, nguyện vọng của họ một cách thấu đáo, bằng cách lắng nghe họ trình bày, xem xét những tài liệu ban đầu; đồng thời cũng phải chỉ rõ cho khách hàng biết được giới hạn trách nhiệm của Luật sư trước pháp luật và trước khách hàng, không để khách hàng lôi kéo mình theo những yêu cầu trái pháp luật và trái đạo đức nghề nghiệp

Điều 24 Nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng

Trang 8

1 Luật sư tôn trọng sự lựa chọn Luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ, việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ, việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng.

2 Khi nhận vụ, việc, Luật sư thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của Luật sư trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng.

3 Luật sư không chuyển giao vụ, việc mà mình đã nhận cho Luật sư khác làm thay, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc trường hợp bất khả kháng.

Điều 25 Bí mật thông tin

1 Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.

2 Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

3 Tổ chức hành nghề Luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình.

Các quy định nói trên của LLuật sư đã điều chỉnh tổng quát các nguyên tắc và hành

vi ứng xử chung của Luật sư khi nhận và thực hiện vụ, việc của khách hàng trên cơ sở tôn trọng sự lựa chọn Luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ, việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ, việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng

Đối với người Luật sư, việc nhận và thực hiện những yêu cầu của khách hàng cũng

có những chuẩn mực cụ thể Luật sư phải tôn trọng sự lựa chọn của khách hàng, chỉ nhận

vụ việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng Có 2 nguyên tắc chung phải tuân theo khi Luật sư nhận yêu cầu đại diện cho khách hàng Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất là khách hàng có quyền tự do lựa chọn bất

cứ Luật sư nào mình muốn Nguyên tắc thứ hai là Luật sư phải lựa chọn cho mình vụ việc

mà trong đó Luật sư đưa ra được lời khuyên vô tư cho khách hàng của mình Điều này cũng có nghĩa là Luật sư không được nhận việc nếu có xung đột với khách hàng khác Luật sư có quyền và nghĩa vụ từ chối cung cấp dịch vụ pháp lí nếu yêu cầu của khách hàng vi phạm pháp luật trái đạo đức xã hội hoặc nếu thực hiện yêu cầu đó có thể dẫn đến việc Luật sư vi phạm pháp luật hoặc quy tắc đạo đức nghề nghiệp Luật sư Nếu người Luật sư đã chấp nhận thực hiện dịch vụ bào chữa hay kiện tụng thì phải tuân theo những yêu cầu của khách hàng về phương pháp xử lí vụ việc Cả khách hàng và Luật sư đều có quyền và nghĩa vụ đối với mục đích và phương pháp thực hiện Tuy nhiên Luật sư không

Trang 9

được tìm kiếm những mục đích hoặc sử dụng phương pháp nếu chỉ vì khách hàng muốn Luật sư làm như vậy

4.2 Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp Luật sư

Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề được thiết kế thành 04 mục với 12 quy tắc ( từ Quy tắc 5 đến Quy tắc 16), đã được rà soát, bổ sung những nội dung còn thiếu, loại bỏ những quy tắc đã được pháp luật quy định, thể hiện sự ngắn gọn, cô đọng, súc tích hơn Chương này quy định những chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong quan hệ giữa Luật sư với khách hàng, làm khuôn mẫu cho mỗi Luật sư ứng xử, rèn luyện, tu dưỡng để giữ gìn

uy tín đội ngũ Luật sư ứng xử, rèn luyện, tu dưỡng để giữ gìn uy tín đội ngũ Luật sư và tôn vinh nghề nghiệp LUẬT SƯ

Chương II được chia thành 4 mục nhỏ:

- Mục 1 (từ Quy tắc 5 đến Quy tắc 9): là những quy tắc cơ bản trong quan hệ giữa Luật sư với khách hàng, những việc Luật sư không được làm trong quan hệ với khách hàng

- Mục 2 (Quy tắc 10 và Quy tắc 11): là những quy tắc về ứng xử cụ thể của Luật sư khi tiếp nhận vụ việc của khách hàng, những trường hợp Luật sư phải từ chối tiếp nhận vụ việc

- Mục 3 (từ Quy tắc 12 đến Quy tắc 15): Quy định về ứng xử của Luật sư khi thực hiện vụ việc của khách hàng; các trường hợp Luật sư có quyền từ chối hoặc phải từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng; ứng xử của Luật sư khi đơn phương chấm dứt thực hiện vụ việc đã nhận của khách hàng và giải quyết khi có xung đột lợi ích trong quá trình nhận, thực hiện vụ việc khách hàng

- Mục 4 (Quy tắc 16): Quy định về ứng xử của Luật sư với khách hàng khi kết thúc

vụ việc

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ QUAN HỆ GIỮA LUẬT SƯ VÀ KHÁCH

HÀNG HIỆN NAY TẠI NƯỚC TA

Khách hàng giữ vai trò quan trọng trong hoạt động nghề nghiệp của mỗi luật sư Nếu không có khách hàng sẽ không có bất cứ tổ chức hành nghề luật sư nào tồn tại Chất lượng dịch vụ và đạo đức ứng xử của Luật sư quyết định nguồn khách hàng Mặc dù vậy, trong thực tiễn mối quan hệ giữa Luật sư và khách hàng cũng xuất hiện nhiều xung đột, mâu thuẫn về lợi ích dẫn đến những tranh chấp, khiếu kiện lẫn nhau

Theo báo cáo của Đoàn Luật sư TP HCM thì hầu hết các trường hợp đưa ra xem xét kỷ luật đều xuất phát từ đơn khiếu nại, tố cáo của khách hàng đối với Luật sư

Trang 10

Chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số thực trạng khiếu nại Việc khiếu nại phần lớn có nội dung như Luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý không ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng bằng văn bản, đòi hỏi thêm tiền ngồi thù lao, chi phí đã thỏa thuận với khách hàng, nhận thù lao nhưng không thực hiện công việc, cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau

Những vướng mắc trong quan hệ Luật sư với khách hàng trong thực tế thường gặp là vướng mắc về mức thù lao, bởi lẽ đây cũng là vấn đề cốt lõi để hợp đồng dịch pháp lý được thực hiện Và các vướng mắc thường xuất phát từ các biểu hiện như:

- Trường hợp giữa Luật sư và khách hàng thiết lập hợp đồng dịch vụ pháp lý lỏng lẻo, thiếu những điều khoản cụ thể cần thiết dẫn đến khó xác định một cách rành mạch, rõ nét quyền và nghĩa vụ của các bên

- Trường hợp công việc đã hoàn tất, khách hàng không muốn thực hiện cam kết trong hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán (nhất là vấn đề thưởng khi đạt được mục tiêu trong

vụ việc dân sự, kinh tế)

- Trường hợp chấm dứt nửa chừng việc thực hiện hợp đồng

- Trường hợp phải thay thế Luật sư này bằng một Luật sư khác trong cùng một tổ chức hành nghề đối với một vụ việc cụ thể

- Trường hợp kết thúc vụ việc pháp lý nhưng kết quả không như mong muốn của khách hàng nhưng Luật sư đã thực hiện hết những công việc cần thiết

- Trường hợp xuất hiện những nhân tố mới phát sinh trong vụ việc

Hay còn một số thực tế xảy ra do các nguyên do chủ thể, thay đổi Luật sư tham gia vụ việc đó v…v vì lý do khách quan không thể tham gia một thời điểm tố tụng nào đó hoặc trường hợp phải thay đổi Luật sư này bằng một Luật sư khác trong việc bảo

vệ quyền lợi của khách hàng đều là những vấn đề Luật sư cần phải cân nhắc và thống nhất ngay từ khi đàm phán và ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng

Một vài ví dụ thực tế đã xảy ra như:

Chiều ngày 20/3/2014, TAND TP.HCM tiếp tục phiên tòa phúc thẩm xử vụ Luật sư Triệu Trung Dũng (Trưởng VPLuật sư Luật sư Triệu Dũng và cộng sự, thuộc Đoàn Luật

sư TP.Hà Nội) kiện ông H.M.T đòi hơn 2 tỉ đồng (thù lao dịch vụ pháp lý và tiền phạt vi phạm hợp đồng) Luật sư Dũng đã khởi kiện ra tòa yêu cầu ông T phải trả tiếp 150 triệu đồng theo kỳ hẹn và bồi thường 1,85 tỉ đồng tiền phạt do vi phạm hợp đồng Tại cấp sơ thẩm, TAND Quận 3 đã bác toàn bộ yêu cầu của Luật sư Dũng nhưng Luật sư Dũng đã kháng cáo (Theo Báo Pháp luật).

Ngày 20 và 21-5-2014 Hội đồng xét xử TAND Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử

vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản Bị hại là bà L.T.T và các con Bà T có chồng là ông

Ngày đăng: 17/06/2022, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w