1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ môn luật hôn nhân và gia đình đề BÀI phân tích cách thức xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một số vụ việc cụ thể

12 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích cách thức xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo quy định của pháp luật hiện hành qua một số vụ việc cụ thể
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 289,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ

Môn: Luật Hôn nhân và Gia đình

ĐỀ BÀI: 02

Phân tích cách thức xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một số vụ việc cụ thể

Họ tên sinh viên: Nghiêm Duy Thái

Mã số sinh viên: VB20AB0086

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

I Liên quan đến kết hôn trái pháp luật 2

1 Khái niệm 2

2 Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật 3

II Xử lý việc kết hôn trái pháp luật 3

1 Quy định chung 3

2 Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật 4

3 Thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật 5

4 Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật 6

III Xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một số vụ việc cụ thể 8

1 Kết hôn khi nữ chưa từ đủ 18 tuổi trở lên 8

2 Lừa dối kết hôn nhưng cả hai bên cùng yêu cầu công nhận kết hôn 8

KẾT LUẬN 10

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, những mối quan hệ cũng như những vấn đề về tâm sinh lý của con người ngày càng trở nên phức tạp Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ hôn nhân, gia đình, trong đó có việc kết hôn giữa hai bên Trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật gây ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đến lối sống và đạo đức xã hội Trong khi đó, hệ thống pháp luật lại chưa thể dự liệu cũng như điều chỉnh một cách toàn diện Kết hôn trái pháp luật vẫn tồn tại như một hiện tượng xã hội không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể mà còn ảnh hưởng đến đạo đức và trật tự xã hội Do đó, tìm hiểu về xử lý kết hôn trái pháp luật trong đời sống xã hội hiện nay là vô cùng cần thiết Việc xử lý này hoàn toàn không mong muốn của nhà nước, dù kết hôn là trái ngọt của một quá trình gặp gỡ, tìm hiểu và yêu thương từ hai bên nam nữ Để hiểu thêm về vấn đề này, tôi xin chọn đề tài

số 02: “Phân tích cách thức xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một số vụ việc cụ thể”

I. Liên quan đến kết hôn trái pháp luật

1 Khái niệm

Theo khoản 6 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“5 Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”

“6 Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.”

Theo đó, nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 sau đây:

“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

Trang 4

Như vậy, nếu có sự vi phạm một trong những điều kiện kết hôn nêu trên, thì cuộc hôn nhân đó bị coi là cuộc hôn nhân trái pháp luật

2 Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật

Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định về sự tự nguyện quyết định việc kết hôn của hai bên nam và nữ

Các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là:

Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác;

Cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;

Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

Hội liên hiệp phụ nữ

Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật thì có

quyền đề nghị cơ quan, tổ chức sau yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật:

Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

Hội liên hiệp phụ nữ

Pháp luật không chỉ trao quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cho các cá nhân là chủ thể của cuộc hôn nhân; mà còn trao quyền cho cả những chủ thể khác nhằm đảm bảo lợi ích cho những người kết hôn; góp phần đảm hạnh phúc gia đình trong thực tiễn cuộc sống

II. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật

1 Quy định chung

Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân đó.

Trang 5

Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các bên đủ

điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.

Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho:

Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch;

Hai bên kết hôn trái pháp luật;

Cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự

2 Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật

Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào điều kiện kết hôn theo quy định để xem xét, quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:

- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên

“Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a khoản

1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai mươi tuổi, nữ đã

đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng, năm sinh.

Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau: Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;

Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh

- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định

“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” quy định tại điểm b khoản 1

Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ

- Lừa dối kết hôn

“Lừa dối kết hôn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia

đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn

- Người đang có vợ hoặc có chồng

Trang 6

“Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật

hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;

c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có

sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết

- Cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn

Việc xác định thời điểm “cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết

hôn” quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình phải căn cứ vào các

quy định của pháp luật

Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình

3 Thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải nộp các loại giấy tờ sau:

Giấy chứng nhận kết hôn đối với cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình

Hoặc giấy tờ, tài liệu khác chứng minh đã đăng ký kết hôn;

Tài liệu, chứng cứ chứng minh việc kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình

Trường hợp vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng không cung cấp được Giấy

chứng nhận kết hôn do bị thất lạc thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân đã cấp

Giấy chứng nhận kết hôn

2 Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật khi việc kết hôn đó đã được đăng ký tại đúng cơ quan có thẩm quyền

Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn được xác định theo quy định của pháp luật về hộ tịch, pháp luật về hôn nhân và gia đình

Trang 7

Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền

Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì sẽ giải quyết như sau:

Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công

nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 của Luật hôn nhân và gia đình

Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa

vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình

Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn

Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng

Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ

hôn nhân giữa họ.

Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình

4 Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật

Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn

Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:

Trường hợp 1:

Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn

Trường hợp 2:

Trang 8

Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình

Trường hợp 3:

Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo các quy định sau:

Quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn;

Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình;

Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân

và gia đình

Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn

Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì thực hiện như sau:

a) Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;

b) Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Trường hợp quyết định theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản này thì Tòa

án áp dụng quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật

III. Xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một

số vụ việc cụ thể

1 Kết hôn khi nữ chưa từ đủ 18 tuổi trở lên

Trang 9

Chị Lê Thị Thanh C kết hôn với anh Bùi Văn H tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/01/1998 tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã X, huyện L, tỉnh Hà Nam Căn cứ vào biên bản xác minh tại UBND xã X, là nơi đã thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa chị C

- anh H, tại “Sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/TB/HT16, mở ngày 01/01/1998, ngày tháng năm cấp giấy chứng nhận kết hôn: 07 tháng 01 năm 1998; Họ tên chồng Bùi Văn H, sinh năm 1975; họ tên vợ Lê Thị C, sinh năm 1977”

Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do chị C cung cấp cho Toà án như: Giấy khai sinh, căn cước công dân, giấy chứng nhận hết cấp I PTCS, chứng nhận học nghề phổ thông, học bạ cấp II phổ thông, bằng trung học cơ sở của chị C; chứng minh thư nhân dân của anh H; văn bản xác minh tại UBND xã X, huyện L, tỉnh Hà Nam, UBND xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ

án, xác định chị C họ tên đầy đủ là Lê Thị Thanh C, sinh ngày 28/5/1981 Vì vậy, tại thời điểm đăng ký kết hôn (ngày 07/01/1998) thì chị C mới 16 tuổi 07 tháng 10 ngày, chưa đủ tuổi kết hôn, thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật, vi phạm vào Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986

Bản án số 05/2020/HNGĐ-ST ngày 28/04/2020 của Tòa án Nhân dân huyện Lý1 Nhân, tỉnh Hà Nam về yêu cầu huỷ kết hôn trái pháp luật đã quyết định:

“Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh C (tên gọi khác Lê Thị C): Huỷ kết hôn trái pháp luật giữa chị Lê Thị Thanh C và anh Bùi Văn H; huỷ giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 07/01/1998 theo sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/TP/HT16 ngày 01/01/1998 của UBND xã X, huyện L, tỉnh Hà Nam.”

2 Lừa dối kết hôn nhưng cả hai bên cùng yêu cầu công nhận kết hôn

Ngày 24/12/2018 Ủy ban nhân dân xã T, huyện K đã cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 62/UBND-XNTTHN (sau đây gọi tắt là giấy xác nhận số 62) cho anh Võ Xuân H: Đang độc thân, chưa kết hôn với ai lần nào ở địa phương Tuy nhiên, tại thời điểm này anh Võ Xuân H và chị NguyễnThị T, trú tại: Thôn L, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam đang là vợ chồng (ngày 10/01/2019 anh H và chị T mới được Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Quảng Nam công nhận thuận tình ly hôn tại Quyết định số 07/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10/01/2019) Ngày 15/02/2019 ủy ban nhân dân huyện K

đã có Quyết định thu hồi, hủy bỏ giá trị pháp lý của Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

số 62 của Ủy ban nhân dân xã T đã cấp cho ông Võ Xuân H

Như vậy, cở sở pháp lý để thực hiện việc đăng ký kết hôn cho anh Võ Xuân H và chị C F là giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 62 đã bị hủy bỏ do trái quy định của pháp luật Mặt khác, việc kết hôn này có dấu hiệu “lừa dối kết hôn”, vì vậy UBND

Trang 10

huyện K yêu cầu TAND tỉnh Hà Tĩnh hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Võ Xuân H

và chị C Feng I

Anh Võ Xuân H thừa nhận tại thời điểm đăng ký kết hôn đã có hành vi che dấu và khai báo gian dối về tình trạng hôn nhân, theo đó anh đã cam đoan chưa độc thân, chưa kết hôn với ai Việc làm của anh là vi phạm vào điểm b khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên anh đồng ý với yêu cầu hủy giấy chứng nhận đăng ký kết hôn đã cấp cho anh và chị C, tuy nhiên hiện tại anh đã độc thân, đủ điều kiện để được kết hôn, anh có nguyện vọng được Tòa án công nhận quanhệ hôn nhân giữa anh

và chị C Feng –I

Tại Đơn trình bày nguyện vọng, chị C Feng-I trình bày: Việc đăng ký kết hôn giữa chị và anh Võ Xuân H là tự nguyện, không bị ai ép buộc Nay, anh H và chị Thu đã ly hôn Chị yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Võ Xuân H Căn cứ theo thực tế cũng như nguyện vọng của các đương sự, Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ra QĐ số 07/2020/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2020, quyết2 định:

“1 Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Võ Xuân H và chị C Feng-I (Giấy chứng nhận kết hôn số 01 ngày 14/01/2019 do UBND huyện K cấp) Công nhận quan

hệ hôn nhân giữa anh Võ Xuân H và chị C Feng-I kể từ ngày 10/01/2019.”

Ngày đăng: 17/06/2022, 21:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w