1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI CHỌN 1 TÌNH HUỐNG HOẶC BẢN án CÓ LIÊN QUAN để LÀM RÕ HƠN CÁC VẤN đề PHÁP LÍ CỦA LOẠI HÌNH TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI NÀY

15 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Môi Giới Thương Mại Cho Một Tình Hướng Hoặc Bản Án Có Liên Quan Để Làm Rõ Hơn Các Vấn Đề Pháp Lí Của Loại Hình Trung Gian Thương Mại Này
Tác giả Nguyễn Thị Minh Thư
Trường học Trường Đại Học Sài Gòn
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 234,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Điều 150 Luật thương mại năm 2005 đã định nghĩa môi giới mại như sau “ Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian gọi là bên môi giới cho c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

KHOA LUẬT

TIỂU LUẬN MÔN: LUẬT THƯƠNG MẠI

CHỦ ĐỀ SỐ 6

PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI CHỌN 1 TÌNH HUỐNG HOẶC BẢN ÁN CÓ LIÊN QUAN ĐỂ LÀM RÕ HƠN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÍ CỦA LOẠI HÌNH TRUNG

GIAN THƯƠNG MẠI NÀY

HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ MINH THƯ

MSSV: 3119430143 LỚP: DLU1191

PHÒNG THI: 2004

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 9 NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ

ĐẦU 3

CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH MÔI GIỚI THƯƠNG

MẠI 4

1 Khái niệm, đặc điểm môi giới thương

mại 4

1.1 Khái niệm môi giới thương

mại 4

1.2 Đặc điểm môi giới thương

mại 4

2 Quyền và nghĩa vụ bên môi giới thương

mạ 5

2.1 Nghĩa vụ bên môi giới thương

mại 5

2.2 Quyền bên môi giới thương

mại 6

3 Quyền và nghĩa vụ bên được môi

giới 6

3.1 Nghĩa vụ bên được môi

giớ 7 3.2 Quyền bên được môi

giới

.7

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP

DỤNG 7

1 Bản án tranh chấp môi giới thương

mại 7

Trang 3

2 Thực tiễn áp

dụng 8

3 Biện pháp khắc

phục 10

KẾT

LUẬN 11

Tài liệu tham

khảo 12

Trang 4

MỞ ĐẦU

Việt Nam ta hiện tại đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Mở cửa hội nhập với càng nước trên thế giới Xuất khẩu được các mặt hàng trong và nhập về các mặt hàng nguyên liệu phục vụ đời sống nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống, đẩy mạnh nền kinh tế Những năm gần đây kinh tế phát triển nền thương mại cũng theo đó ngày càng đa dạng, các loại hình dịch vụ ngày càng phong phú nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu thời đại Trong số đó hoạt động trung gian thương mại ra đời đã góp phần làm phong phú thêm nền kinh tế Trung gian thương mại

ở Việt Nam là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân xác định

Một nhánh nhỏ của hoạt động trung gian thương đang được phát triển mạnh mẽ đó là môi giới thương mại Nhận thức rõ được vai trò của môi giới thương mại đối với nền kinh tế luật thương mại

2005 đã đưa môi giới thương mại vào đối tượng điều chỉnh của luật Nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi các bên môi giới và bên được môi giới, đồng thời kiểm soát loại hình kinh tế trong phạm vi pháp luật

Để làm rõ được vấn đề trên, em đã lựa chọn đề tài nghiên cứu " phân tích quy định của pháp luật về môi giới thương mại Chọn 1 tình huống hoặc bản án có liên quan để làm rõ thêm các vấn đề pháp lí của loại hình trung gian thương mại này."

Trang 5

CHƯƠNG 1: PHÂN TÍCH MÔI GIỚI THƯƠNG MẠI

1 Khái niệm, đặc điểm của môi giới thương mại

1.1 Khái niệm môi giới thương mại

Môi giới thương mại là một loại hình dịch vụ được phát triển ở nước ta trong những năm gần đây Môi giới thương mại là một hoạt động thương mại và được pháp luật điều chỉnh tại Luật thương mại

2005

Theo Điều 150 Luật thương mại năm 2005 đã định nghĩa môi giới mại như sau “ Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian ( gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.”

1.2 Đặc điểm môi giới thương mại

Chủ thể của quan hệ môi giới thương mại gồm bên môi giới

và bên được môi giới, trong đó bên môi giới phải là thương nhân,

có đăng ký kinh doanh để thực hiện dịch vụ môi giới thương mại và không nhất thiết phải có ngành nghề đăng ký kinh doanh trùng với ngành nghề kinh doanh của các bên được môi giới Pháp luật hiện hành không quy định bên được môi giới có nhất thiết phải là thương nhân hay không Trong hoạt động môi giới thương mại, không phải tất cả các bên được môi giới đều có quan hệ môi giới

Trang 6

thương mại với bên môi giới mà chỉ bên được môi giới nào ký hợp đồng môi giới với bên môi giới thì giữa họ mới phát sinh quan hệ môi giới thương mại

Trong môi giới, bên môi giới nhân danh chính mình để quan với bên được môi giới đồng thời thời giới thiệu họ với nhau Bên môi giới có quyền hoạt động dưới tư cách đại diện không đúng thẩm quyền để kí hợp đồng thay cho bên được môi giới khi có ủy quyền

Mục đích của hoạt động môi giới thương mại là để các bên được môi giới kí kết hợp đồng với nhau, các hoạt động diễn ra năng động linh hoạt để các bên được môi giới tiếp xúc hợp tác cùng nhau

Môi giới thương mại là một hoạt động kinh doanh thuần tuý Mục đích của bên môi giới thương mại khi thực hiện việc môi giới là tìm kiếm lợi nhuận Bên môi giới thông thường được hưởng thù lao khi các bên được môi giới đã giao kết hợp đồng với nhau

Môi giới thương mại bao gồm tất cả các hoạt động môi giới

có mục đích kiếm lợi như môi giới mua bán hàng hoá, môi giới chứng khoán, môi giới bảo hiểm, môi giới tàu biển, môi giới thuê máy bay, môi giới bất động sản.Quan hệ môi giới thương mại được thực hiện trên cơ sở hợp đồng môi giới

Khi giao kết hợp đồng môi giới thương mại các bên nên thỏa thuận những điều, khoản về nội dung cụ thể của việc môi giới, mức thu lao mà bên môi giới sẽ được nhận, thời hạn thực hiện hợp đồng môi giới, quyền và nghĩa vụ của các bên; trách nhiệm do vi phậm hợp đồng; hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan

hệ hợp đồng môi giới

2 Quyền và nghĩa vụ bên môi giới thương mại

Trang 7

2.1 Nghĩa vụ bên môi giới:

Không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi ích của bên được môi giới

Trong quá trình thực hiện hợp đồng môi giới, có thể bên được môi giới phải cung cấp cho bên môi giới một số thông tin liên quan đến

bí mật kinh doanh của mình Bên môi giới chỉ được sử dụng các thông tin này để thực hiện việc môi giới theo hướng có lợi cho bên được môi giới mà không được cung cấp những thông tin đó cho khách hàng hay đối thủ cạnh tranh của người được môi giới

-Bảo quản mẫu hàng hoá, tài liệu được giao để thực hiện việc môi giời và phải hoàn trả cho bên được môi giới khi kết thúc việc môi giới

-Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới nhưng không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ

Là người trung gian, bên môi giới có trách nhiệm cung cấp thông tin, tư vấn cho bên được môi giới Bên môi giới phải có trách nhiệm cung cấp chính xác về tư cách pháp lý của đối tác cho các bên được môi giới Căn cứ vào bản chất của hoạt động môi giới, bên môi giới, không tham gia vào quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ thương mại đã được giao kết giữa các bên Do đó, không chịu bất kì trách nhiệm nào trước sự vi phạm hợp đồng của các bên được môi giới với nhau Tuy nhiên, nếu được sự ủy quyền hợp pháp của một hoặc các bên được môi giới thì bên môi giới có thể thực hiện một số nghĩa vụ theo hợp đồng như giao hàng hay nhận tiền thanh toán

_ Không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới, trừ trường hợp có ủy quyền của bên được môi giới

2.2 Quyền của bên môi giới thương mại:

Trang 8

- Được hưởng thù lao môi giới theo mức quy định trong hợp đồng môi giớiQuyền hưởng thù lao của bên môi giới phát sinh từ thời điểm các bên được môi giới ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá hay cung ứng dịch vụ thương mại với nhau, trừ trường hợp các bên

có thỏa thuận khác (Điều 153 Luật Thương mại năm 2005) Điều

đó có nghĩa là việc các bên được môi giới không thực hiện hợp đồng đã giao kết hoàn toàn không làm ảnh hưởng tới quyền hưởng thù lao của bên môi giới, quy định như vậy là phù hợp với chức năng của bên môi giới, bởi bên môi giới không thể chịu trách nhiệm cho khả năng thực hiện hợp đồng hoặc khả năng tài chính của các bên Tuy nhiên, trong hợp đồng môi giới các bên có thể thỏa thuận thù lao môi giới chỉ phát sinh sau khi hợp đồng giữa các bên được môi giới thực hiện dưới các điều kiện mà bên được môi giới mong muốn

Trong trường hợp, các bên được môi giới không giao kết được hợp đồng với nhau, bên môi giới không được hưởng thù lao môi giới nhưng nếu các bên không có thỏa thuận khác, bên môi giới vẫn cỏ quyền yêu cầu bên được môi giới thanh toán cho mình các chi phí hợp lý liên quan tới việc môi giới.Nếu trong hợp đồng, các bên không thỏa thuận mức thù lao thì mức thù lao môi giới được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán

và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ (Khoản 2 Điều

153, Điều 86 Luật Thương mại năm 2005)

3 Quyền và nghĩa vụ bên được môi giới

3.1 Nghĩa vụ bên môi giới

Nếu các bên không có thỏa thuận khác bên được môi giới có các nghĩa vụ sau (Điều 152 Luật Thương mại năm 2005):

Trang 9

- Cung cấp các thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liên quan đến hàng hoá, dịch vụ;

_Trả thù lao môi giới và các chi phí khác cho bên môi giới

3.2 Quyền của bên được môi giới

Luật Thương mại năm 2005 không quy định về quyền của bên được môi giới, tuy nhiên căn cứ vào các nghĩa vụ của bên được môi giới, có thể thấy bên được môi giới có các quyền sau:

Yêu cầu bên môi giới bảo quản các mẫu hàng hoá, tài liệu đã được giao để thực hiện việc môi giới và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành việc môi giới;

Yêu cầu bên môi giới không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm

phương hại đến lợi ích của mình

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG

1 Bản án tranh chấp môi giới thương mại

Bản án 51/2018 KDTM-PT 24/04/2018 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

Nội dung vụ án

Ngày 08/4/2011, Công ty cổ phần đầu tư thương mại dịch vụ H ký hợp đồng môi giới và tiếp thị độc quyền số 110/2011/HĐTTMG-PVLvới Công ty cổ phần bất động sản Điện Lực về việc tiếp thị và môi giới các căn hộ thuộc Block C, block D dự án căn hộ Petro Việt Nam Landmark, Quận 2 thành phố Hồ Chí Minh

Sau khi ký kết hợp đồng, Công ty H đã thực hiện nghiêm các điều khoản đã ký kết và đã môi giới thành công bán được 54 căn hộ Tuy nhiên, ngày 21/9/2011 Công ty D đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thể hiện tại công văn số 854/PVL-CV, nội dung công

Trang 10

văn số 854/PVL-CV yêu cầu công ty H tạm dừng mọi hoạt động đang thực hiện theo hợp đồng môi giới số 110/2011/HĐTTMG-PVLvới Công ty cổ phần bất động sản Điện Lực D với lý do để phục

vụ công tác điều chỉnh phương án kinh doanh của doanh nghiệp Ngày 21/9/2011 công ty H nhiều lần gửi công văn yêu cầu công ty

D thanh lí hợp đồng nhưng không nhận được câu trả lời Trong khi

đó công ty D tiếp tục chào bán căn hộ với giá thấp hơn công ty H chào bán với khách hàng mà chưa có sự thương lượng với công ty

H Tổng số tiền Công ty H thu được của khách đợt1là 18.066.146.805 đồng Trong đó khấu trừ hoa hồng,Công ty H đã được nhận tiền môi giới là 12.745.888.607 đồng Số tiền còn lại là: 5.320.258.138 đồng Thực tế Công ty H đã chuyển cho Công ty D

số tiền 3.772.698.359 đồng, số tiền còn lại 1.547.559.839 đồng giữ lại để khấu trừ nghĩa vụ bồi thường hợp đồng của Công ty D

Sau đó công ty H tiếp tục thu đợt 2 và 3 đối với khách hàng Đặng Văn Đ và Hoàng Văn P số tiền 2.639.889.998 Hai bên tiến hành khởi kiện nhau ra tòa

Tuyên án

Buộc Công ty cổ phần địa ốc D (nay là Công ty cổ phần đầu tư Nhà Đ) phải trả cho Công ty cổ phần địa ốc H số tiền 100.000.000 (Một trăm triệu) đồng tiền đặt cọc

Buộc Công ty cổ phần địa ốc H phải trả cho Công ty cổ phần địa ốc

D (nay là Công ty cổ phần đầu tư Nhà Đ) các khoản tiền sau: 1.547.561.691đồng tiền cấn trừ hoa hồng còn dư; 2.639.889.998 đồng tiền đã thu còn lại của hai khách hàng Đặng Văn D và Hoàng Văn P Tổng cộng là 4.187.451.689 đồng

2 Thực tiễn áp dụng

Trang 11

Môi giới thương mại là một loại hình dịch vụ được phát triển

ở nước ta trong những năm gần đây Môi giới thương mại là một hoạt động thương mại và được pháp luật điều chỉnh tại Luật thương mại 2005 Tuy nhiên qua thực tiễn cho thấy hoạt động môi giới vẫn gặp khá nhiều vướng mắc, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của chính ngành dịch vụ này cũng như nền kinh tế.Luật Thương mại 2005 chỉ quy định chung chung bên môi giới phải là thương nhân mà chưa quy định cụ thể các điều kiện cụ thể của thương nhân thực hiện hoạt động môi giới Tuy nhiên trong trường hợp môi giới hàng hóa dịch vụ hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh dịch vụ có điều kiện đòi hỏi bên môi giới phải có các điều kiện theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12-6-2006 và các Luật chuyên ngành

So với các hoạt động trung gian thương mại khác được quy định trong Luật thương mại 2005, có thể thấy đối với môi giới thương mại luật không quy định về hình thức của hợp đồng, trong khi đó các hoạt động trung gian thương mại khác đều có quy định

về hình thức của hợp đồng phát sinh giữa bên thực hiện dịch vụ và bên nhận dịch vụ.Luật thương mại 2005 không đề cập tới vấn đề hình thức của hợp đồng môi giới thương mại, điều này tạo điều kiện cho các hoạt động môi giới có thể tiến hành nhanh chóng, thuận tiện Tuy nhiên việc không quy định như vậy cũng có mặt trái, đó là làm phát sinh những vấn đề tiềm ẩn về tranh chấp giữa các bên thực hiện dịch vụ môi giới và bên được môi giới Trên thực

tế có những hợp đồng môi giới được giao kết với giá trị lớn như môi giới bất động sản, môi giới chứng khoán, môi giới đưa người lao động ra nước ngoài làm việc… việc không quy định về hình thức của hợp đồng rất dễ gây rủi ro cho các bên đặc biệt là những hợp đồng có giá trị lớn như trên Để tránh những vướng mắc này xảy ra giữa các bên, pháp luật cần có hướng dẫn cụ thể về hợp đồng mội

Trang 12

giới thương mại sao cho có sự phù hợp, thống nhất với các hoạt động môi giới chuyên ngành khác

Về quyền và nghĩa vụ của các bên quy định tại khoảng 2 điều 151 Luật thương mại 2005 quy định “ bên môi giới không được tiết lộ cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi ích bên được môi giới.”nghĩa là bên môi giới không được quyền cung cấp thông có liên quan đến giao dịch mà họ đang chấp nối bởi trong nhiều trường hợp việc cung cấp thông tin cho bên thứ ba có thể làm phương hại lợi ích của bên được môi giới Do đó quy định này

có thể cản trở hoạt động môi giới trung thực của bên môi giới làm cho hoạt động môi giới thương mại khó trở nên chuyên nghiệp Một vướng mắc khác mà hoạt động môi giới thương mại trong thực tế gặp phải, đó là vấn đề về chế độ thanh toán chi phí, thù lao Thù lao trong hoạt động thương mại là khoản tiền mà bên được môi giới phải trả cho bên môi giới khi bên môi giới giúp bên được môi giới làm việc với bên thứ ba Thù lao có thể bao gồm cả những chi phí mà bên môi giới bỏ ra khi thực hiện công việc giao dịch, được gọi là chi phí môi giới Luật thương mại 2005 chưa có quy định về trường hợp khi các bên không có thỏa thuận thì khi nào bên môi giới được hưởng thù lao môi giới, khi nào được hưởng chi phí môi giới Hay trường hợp bên môi giới ký hợp đồng môi giới với cả hai bên được môi giới thì thù lao tính như thế nào

3 Biện pháp khắc phục

Pháp luật cần có quy định rõ hơn về thù lao môi giới, ví dụ như nếu bên được môi giới giao kết thành công hợp đồng với bên thứ ba, thì thù lao môi giới phải do cả hai bên này cùng thanh toán; nếu giao kết hợp đồng với bên thứ ba không thành công thì bên được môi giới phải thanh toán thù lao bao gồm cả chi phí môi giới mà bên môi giới đã bỏ ra Đối với trường hợp bên môi giới giao kết hợp

Ngày đăng: 17/06/2022, 21:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w