Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ đểlấy bất kỳ học vị nào
Tôixin camđoan rằngmọi sự giúp đỡ cho việc thựchiệnluận vănđãđượccám ơn,cácthôngtintríchdẫn trong luận vănnàyđều được chỉrõnguồngốc
Hà Nội, ngày 31 tháng 6 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Sang
Trang 4Và tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cơ quan Tổ chức- Nội vụ thị xãĐông Triều, các bác, các cô, các chú và các anh, chị, em làm việc tại các cơ quan, đơn vịthị xã Đông Triều đã tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luậnvăn.
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã độngviên, chăm sóc và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
Do thời gian thực hiện có hạn và kiến thức kinh nghiệm chưa nhiều nên luận văncòn nhiều thiếu sót, hạn chế, tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiếncủa các Thầy giáo, Cô giáo và các anh chị học viên để luận văn của tác giả hoàn chỉnhhơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 31 tháng 6 năm 2021
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Sang
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
LỜICAMĐOAN i
LỜICẢMƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮVIẾTTẮT iii
DANHMỤCBẢNG vii
DANH MỤCBIỂUĐỒ vii
DANH MỤCSƠĐỒ vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨULUẬNVĂN viii
PHẦN IMỞĐẦU 1
CHƯƠNGI.CƠSỞLÝLUẬNVÀCƠSỞTHỰCTIỄN 5
1.1 Cán bộ,côngchức 5
1.1.1 Khái niệm vềcánbộ 5
1.1.2 Khái niệm vềcôngchức 9
1.2 Chất lượng cán bộ,côngchức 10
1.2.1 Khái niệmchấtlượng cán bộ,côngchức: 10
1.2.2 Đặcđiểmnângcaochấtlượngcánbộ,côngchức 13
1.2.3 Sự cầnthiết phảixâydựng,nâng cao nănglựccủa đội ngũ cán bộ, côngchức 14 1.2.4 Nộidungnângcaochấtlượngcánbộ,côngchức 16
1.2.5 Tiêuchíđánhgiánângcaochấtlượngcánbộ,côngchức 21
1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng cán bộ,côngchức 24
1.3 Kinh nghiệm về nâng cao chất lượngcánbộ,côngchức 27
1.3.1 Kinhnghiệmcánbộ,côngchứctrênthếgiới 27
1.3.2 Kinh nghiệm ở Thành phốHàNội 30
1.3.3 Kinh nghiệm ở tỉnhVĩnhPhúc 32
1.3.4 Bài họckinhnghiệm 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC THỊXÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNHQUẢNGNINH 35
2.1 Khái quát về thị xã Đông Triều, tỉnhQuảng Ninh 35
Trang 72.1.1 Điều kiệntựnhiên 35
2.1.2 Điều kiện kinh tế-xãhội 36
2.1.3 Vềtìnhhìnhpháttriểnkinhtếxãhội 37
2.2 Thực trạng chất lượngcán bộ, côngchứcthịxãĐôngTriều, tỉnhQuảngNinh 39 2.2.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh QuảngNinh 39 2.2.2 Thực trạngvề cơcấu cán bộ,côngchức thịxãĐông Triều, tỉnhQuảngNinh 44 2.3 Thực trạng chất lượngcán bộ, côngchứcthịxãĐôngTriều, tỉnhQuảngNinh 47 2.3.1 Thựctrạngtrìnhđộchuyênmôncủacánbộ,côngchức 47
2.3.2 Thựctrạngphẩmchấtchínhtrị,đạođứccủacánbộ,côngchức 54
2.3.3 Thựctrạngkhảnănghoànthànhnhiệmvụcủacánbộ,côngchức 56
2.4 Thực trạng về đánh giá của người dân về nâng cao chất lượng cán bộ,công chức thị xã Đông Triều, tỉnhQuảngNinh 62
2.5 Đánh giá về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều,tỉnhQuảngNinh 65
2.5.1 Hạnchế 65
2.5.2 Nguyênnhân 69
2.6 Các hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thị xãĐông Triều, tỉnhQuảngNinh 71
2.6.1 Chích sách thu hút nguồn lực cán bộ,côngchức của thị xãĐôngTriều 71
2.6.2 Đàotạo,bồidưỡngcánbộ,côngchứcthịxãĐôngTriều 72
2.6.3 Côngtácquyhoạch,đàotạo,bốtrícánbộ 74
2.6.4 Côngtácchuyểnngạch,nângngạchcôngchức 75
2.6.5 Côngtácluânchuyển,đềbạtcánbộ,côngchức 75
2.6.6 Côngtácđánhgiácánbộ,côngchức 77
2.6.7 Nguyênnhâncủanhữngkếtquảđạtđược 78
Trang 8CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CÁN BỘ,CÔNG
CHỨC THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNHQUẢNGNINH 80
3.1 Định hướng phát triển kinh tế ở Thị xã Đông Triều và phương hướngnâng cao chất lượng cán bộ, côngchức đến năm2025 80
3.1.1 DựbáotriểnvọngvàđịnhhướngpháttriểnkinhtếởThịxãĐôngTriềuđếnnăm202 5 80 3.1.2 Phươnghướngnângcaochấtlượngcánbộ,côngchứcđếnnăm2025 80
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Thị xã ĐôngTriều thờigiantới 82
3.2.1 Công tác bố trísửdụng 82
3.2.2 Quyhoạchnguồncánbộ,côngchức 83
3.2.3 Đàotạo,bồidưỡngcánbộ,côngchức 85
3.2.4 Tăng cường giáo dục, rèn luyệnphẩmchất chính trị, đạo đức cho cánbộ,côngchức 87 3.2.5 Tăngcườngcôngtácđánhgiá,nhậnxétcánbộ,côngchức 87
3.2.6 ĐổimớimạnhmẽphươngthứclãnhđạocủaĐảngđốivớicôngtáccánbộ 88 3.2.7 Chính sách thu hútnhântài 89
3.2.8 Xây dựng hệ thống kiểmtra,giámsát 89
3.2.9 Giảiphápcảithiệncơsởvậtchất,môitrườnglàmviệc 90
3.2.10 Đadạngcáchìnhthứckhenthưởng 91
3.3 Kiếnnghị 92
3.3.1 Đối vớiTrungương 92
3.3.2 Đối vớicấptỉnh 93
3.3.3 Đối vớithịxã 93
3.3.4 Đốivớiđộingũcánbộ,côngchức 93
TÀI LIỆUTHAMKHẢO 94
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả tuyển dụng cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhànước tỉnhtừ2018-2020 42Bảng 2.2: Ý kiến đánh giá về chính sách tuyển dụng đội ngũ cán bộ, công chức thựchiện công tác quản lý nhànướctỉnh 44Bảng 2.3: Tổng hợp độ tuổi cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lýnhà nướcThị xãĐông Triều, tỉnhQuảngNinh 46Bảng 2.4: Trình độ đào tạo của đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác quảnlý nhà nước Thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (2018–2020) 48Bảng 2.5: Số lượng cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước đượcđàotạo 50Bảng 2.6: Đánh giá về công tácđào tạo 52Bảng 2.7: Tình hình cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nướcbị kỷluật Thị
xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh (2018–2020) 56Bảng 2.8: Đánh giá của 40 người dân về năng lực cán bộ, công chức thị xãĐôngTriều 63Bảng 2.9: Đánh giá của 40 người dân về sự sáng tạo của cán bộ, công chức thị
xãĐôngTriều 64
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhànước theo giới tính năm 2020 của Thị xã Đông Triều, tỉnhQuảngNinh 45Biểu đồ 2.2: Kết quả về công tác đánh giá thực hiệncôngviệc 60
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ phân tíchcôngviệc 60
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
“Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã ĐôngTriều, tỉnh Quảng Ninh”
Thông qua đề tài đã đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác chất lượngcán bộ, công chức của thị xã Đông Triều trên các phương diện trình độ,kỹnăng, nghiệp
vụ, chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài, quy trình quản lý cán bộ, côngchức
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều; từ
đó đưa ta một số giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng quản lý cán bộ, công chức tại thị
xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về chất lượng cán bộ, côngchức; Đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnhQuảng Ninh; Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức tại thị
xã Đông Triều Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại thị
xã Đông Triều
Đánh giá về nâng cao chất lƣợng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Về nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ công chức:Trong năm qua, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước ngàycàng được tăng lên đáng kể Trình độ ngoại ngữ nói chung chưa đáp ứng được yêu cầutrong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế, tính đến thời điểm hiện nay số cán bộ, công chứcthực hiện công tác quản lý nhà nước có thể sử dụng ngoại ngữ trong giao tiếp, tham giacác hội nghị, hội thảo còn rất ít Cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nướcvững về chuyên môn nghiệp vụ và có kinh nghiệm đa số thuộc diện lớn tuổi
- Về nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức của cán bộ công chức:Nhìn nhận
và đánh giá một cách tổng quan có thể thấy, đại bộ phận cán bộ, công chức thựchiện công tác quản lý nhà nước trong giai đoạn vừa qua đã cố gắng để vượt qua khókhăn, thử thách trong thực hiện và phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững đạođức, phẩm chất cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm,chấp
Trang 11hành sự phân công của tổ chức, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân vàgóp phần quyết định vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới đất nước Hiện nay, vấn
đề đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước chưa cónhững biểu hiện bị suy thoái như: Sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng,chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vônguyên tắc, né tránh, thiếu bản lĩnh đấu tranh với những hành vi quan liêu, tham nhũng,tiêu cực
- Về đánh giá khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ công chức:Việc quản
lý cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước còn hạn chế Một số bộphận cán bộ, công chức thực hiện công tác quản lý nhà nước nhà nước chưa đề caotrách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; ý thức kỷ luật lao động kém Chưa
có ý thức cao trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống và nghiệp vụ chuyên môn Cònmang tư tưởng “ì” trong công việc, làm việc thiếu tính sáng tạo, chủ động Chưa có
ý thức trong việc đoàn kết xây dựng tổ chức ngày càng vững mạnh… làm ảnhhưởng đến hiệu quả làm việc, chất lượng công tác và tác phong, uy tín của cán bộ,công chức thực hiện công tác quản lý nhànước
Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức Thị xã Đông Triều thời gian tới
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức: Thực hiện nghiêm túc kỷ luật, kỷcương; tăng cường giáo dục nâng cao đạo đức công vụ, xây dựng và phát huy vai trò củavăn hóa công sở; nâng cao hiệu quả công tác tổ chức cán bộ trong việc quản lý giờ làmviệc của cán bộ, công chức ; thực hiện công bằng trong đánh giá hiệu quả làm việc củacán bộ, công chức
Hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm:Đổi mới chính sách tuyển dụng đội ngũ cán bộ, công chức; bố trí cán bộ công chức phảiđúng người, đúng việc;
Hoàn thiện công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức:Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo từng giai đoạn cụ thể; đổi mới chính sách tổchức đào tạo; nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức đội ngũ cán bộ, công chức; tiếp tụcquán triệt quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng và các quy định của Nhà nước vềcông tác cán bộ
Trang 12Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện công vụ của đội ngũ cán bộ,công chức: Xác định các tiêu chí đánh giá rõ ràng, chi tiết; Lựa chọn phương pháp đánhgiá phù hợp; Tiến hành tổ chức đào tạo người đánh giá để giúp người đánh giá có thểthực hiện đánh giá công bằng, chính xác, hiểu rõ mục đích đánhgiá.
Hoàn thiện chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, công chức: Cải tiến hìnhthức trả lương hợp lý; đa dạng các hình thức khen thưởng; tăng các khoản phụ cấp, trợcấp áp dụng một số hình thức phúc lợi tự nguyện
Các giải pháp đề xuất trên đã góp phần nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tạithị xã Đông Triều, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hộicủa thị xã đề ra
Trang 13PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tinh cấp thiết của đềtài
Từ những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX đến nay, sự phát triển mạnh mẽcủa khoa học công nghệ đã làm biến đổi sâu sắc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
mở ra một thời đại mới cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức
Hội nhập kinh tế thế giới, đất nước ta đã thực sự bước vào sân chơi của kinh tế trithức, mặc dù điểm xuất phát về kinh tế- xã hội của đất nước ta còn thấp Tuy phải đốimặt với những nguy cơ, thách thức ngày càng nhiều hơn, song cũng đã mở ra cho đấtnước ta những cơ hội rất lớn để đi tắt, đón đầu, giúp cho đất nước ta nhanh chóng thoátkhỏi tình trạng kém phát triển, tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thành sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội Mục tiêu cao cả đó do Đảng ta khởi xướng vàlãnh đạo có thể trở thành hiện thực hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chấtlượng nguồn nhân lực mà đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước là yếutốt quan trọng nhất Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức là một trong những nguồnnhân lực chất lượng cao mà Đảng ta đặc biệt quan tâm
Hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, đặc biệt sau Đại hội đổi mới (Đại hội VI năm1986) đến nay; công tác cán bộ, công chức luôn được Đảng ta chú trọng và quan tâm.Hội nghị Trung ương 3- khóa VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết địnhđến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế
độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”;
Đảng ta quan tâm đối với cán bộ, công chức là sự quan tâm toàn diện, không chỉcán bộ, công chức cấp cao, lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức ở cấp Trung ương, tỉnh,huyện mà cả cán bộ, công chức ở cơ sở, xã, phường, thị trấn
Như vậy, có thể thấy chất lượng cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; nó là yếu tố quan trọng quyết định sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện hội nhập nền kinh tế khu vực
và thếgiới
Trang 14Đối với tỉnh Quảng Ninh, chất lượng cán bộ, công chức là một trong những trọngđiểm của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh với mục tiêu xây dựng QuảngNinh trở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm pháttriển năng động, toàn diện của phía Bắc.
Đông Triều là thị xã cửa ngõ phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, với diện tích tự nhiêncủa thị xã Đông Triều là 39.721,55ha; dân số 171,216 nghìn người, mật độ dân số 431người/km2; với 11 dân tộc cùng sinh sống, về cơ cấu dân tộc thị xã Đông Triều: ngườiKinh chiếm đa số (97,6% dân số); còn lại là các dân tộc Tày, Sán Dìu, Hoa, Nùng, Dao,
Mường, Thái và Sán Cháy(Nguồn: Ủy ban nhân dân thị xã ĐôngTriều, 2019); có vai trò
quan trọng làm cầu nối Thủ đô Hà Nội với thành phố Hạ Long, cung cấp sản phẩm hànghoá quan trọng và là địa bàn tham gia quá trình trung chuyển hàng hoá giữa hệ thốngcảng biển và các thành phố, các tỉnh trong vùng và cả nước, do vậy vừa có cơ hội đóngvai trò là một trong những động lực phát triển, vừa phải đối mặt với các thách thức trongcạnh tranh khai thác và phát triển các ngành hàng có cùng lợi thế Triển vọng Đông Triều
sẽ trở thành thị xã trọng điểm thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, thương mại,
du lịch giải quyết việc làm để giảm áp lực cho các thành phốlớn
Đối với thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, thực hiện công tác quản lý nâng caochất lượng cán bộ, công chức là một trong những trọng điểm của chiến lược phát triểnkinh tế- xã hội của tỉnh với mục tiêu phấn đấu góp phần trong việc xây dựng Quảng Ninhtrở thành tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại, là một trong những trung tâm phát triểnnăng động, toàn diện của phíaBắc
Thực trạng của thị xã Đông Triều trong những năm qua đã quân tâm việc nâng caochất lượng cán bộ, công chức của thị xã để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
- xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; số cán bộ, côngchức chất lượng cao của thị xã Đông Triều còn chiếm tỷ lệ thấp, có 01 cán bộ, công chứctrình độ tiến sĩ, số cán bộ, công chức có trình độ thạc sỹ mới có 24 người, chiếmtỷlệ rấtthấp, vì thế năng suất nhân lực chưa cao, dẫn đến việc phát triển kinh tế- xã hội của thị xãchưa đạt được tốiưu
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn như trên, tôi tiền hành thực
hiện đề tài“Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xãĐ ô n g
Trang 15Triều, tỉnh Quảng Ninh”làm nội dung nghiên cứu luận văn, với mong muốn thông qua
đề tài đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác chất lượng cán bộ, công chứccủa thị xã Đông Triều trên các phương diện trình độ,kỹnăng, nghiệp vụ, chính sách đãingộ, thu hút nhân tài, quy trình quản lý cán bộ, công chức từ đó đề xuất các giải phápnhằm nâng cao công tác quản lý cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, góp phần thựchiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã đềra
1.2 Mục tiêu nghiêncứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều; từ
đó đưa ta một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều,tỉnh QuảngNinh
1.3 Câu hỏi nghiêncứu
(1) Cán bộ, công chức là gì? Mối quan hệ giữa chất lượng cán bộ, công chức với phát triển kinh tế- xã hội là như thếnào?
(2) Thực trạng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay như thếnào?
(3) Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh QuảngNinh hiện nay như thếnào?
(4) Có bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, công chức tại thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh? Hãy phân tích những yếu tốđó?
(5) Để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh cần có những giải pháp cụ thểnào?
Trang 161.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiêncứu
1.4.1 Đối tượng nghiêncứu
Luận văn nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
Trang 17CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Cánbộ, côngchức
"công chức" Thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa vàbao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và tổ chứcchính trị và các tổ chức chính trị - xã hội.Tuynhiên, để xác địnhcụthể những tiêu chí nào
là cán bộ thì từ trước đếnnaychưa có văn bản nàoquyđịnh chínhthức
Ở Việt Nam, trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ, công chứcđược ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng
ta chưa xác định được rõ ràng cán bộ; công chức; viên chức Trong hệ thống pháp luậtcủa nước ta, kể từ Hiến pháp 1992 (đã sửa đổi, bổ sung) cho đến các luật khác (ví dụ nhưLuật Tổ chức Chính phủ; Luật Tổ chức Hội đồng nhândân,Uỷbannhândân;LuậtBìnhđẳnggiới;LuậtGiáodục;)đềucónhữngđiều,
khoản sử dụng các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức", nhưng chưa có một vănbản luật nào giải thích các thuật ngữ này
Trong điều kiện thể chế chính trị của Việt Nam, có một điểm đặcbiệtlà đội ngũcán bộ, công chức, viên chức luôn có sự liên thông với nhau Theo yêu cầu nhiệm vụ, cơquan có thẩm quyền có thể điều động, luân chuyển họ giữa các cơ quan, tổ chức củaĐảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội Với điểm đặc thù này, việc nghiên cứu đểxác định rõ cán bộ; công chức; viên chức một cách triệt để rất khó và phức tạp Trong đờisống xã hội, từ lâu thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng rộng rãi nhưng không theomộtquyđịnh nào "Cán bộ" không chỉ để gọi những người làm việc trong các cơ quan củaĐảng, của Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội mà còn được sử dụng cả trong cáchoạt động sự nghiệp như "cán bộy tế",
Trang 18"cán bộ coi thi", "cán bộ dân phố" Tương tự, cụm từ "công chức" và "viên chức" cũngvậy Có khi người ta sử dụng luôn cả cụm từ "cán bộ, công chức, viên chức" để chỉchung những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị -
xã hội Vì vậy, việc xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý, chính sách đãi ngộ đối vớicán bộ cũng như đối với công chức vàviênchức hiệnnaychưa thể hiện được những điểmkhác nhau giữa các nhóm, chưa gắn với đặc điểm và tính chất hoạt động khác nhau củacán bộ, công chức và viên chức Vấn đề làm rõ thuật ngữ "cán bộ"; "công chức"; "viênchức" được coi là vấn đề cơ bản, quantrọng,là một nhu cầu cần thiết xuất phát từ thựctiễn đổi mới cơ chế quản lý đặt ra hiện nay Điều này đã được Luật Cán bộ, công chứcnăng 2008 giải quyết tương đối triệt để và khoa học, phù hợp với lịch sử hình thành độingũ cán bộ, công chức, viên chức; phù hợp với thể chế chính trị và thực tiễn quản lý củaViệtNam
Nhìn lại lịch sử, năm 1950 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 76/SL banhànhQuychế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam chỉ được xác định trongphạm vi các cơ quan Chính phủ Theo Sắc lệnh 76/SL, những công dân Việt Nam đượcchính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quanChính phủ, ở tronghayở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ nhữngtrường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định (trích Điều 1, Sắc lệnh Số 76/SL ngày 20-5-1950) Do hoàn cảnh kháng chiến sau đó, nên tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh76/SL nhưng trên thực tế các nội dung củaquychế đó không được ápdụng
Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, thống nhất đất nước, chúng ta thựchiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nước, lấy người cán bộ làm trung tâm
Theo đó, tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổchức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũtrang đều được gọi chung trong một cụm từ là "cán bộ, công nhân viên chức nhà nước".Hầu như mọi người khi kê khai lý lịch, nếu đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức củaĐảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước đều ghi ở mụcthành phần bản thân là "cán bộ, công nhân viên chức nhà nước" Nghị định 169/HĐBT
ngày25-5-1991v ề c ô n g c h ứ c N h à n ư ớ c đ ã quyđ ị n h c ô n g c h ứ c t h e o m ộ t p h ạ m v i rộng
Trang 19hơn, bao gồm:
a) Những người làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung
ương, ở các tỉnh, huyện và cấp tươngđương
b) Những người làm việc trong các Đại sứ quán, lãnh sự quán của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nướcngoài
c) Những người làm việc trong các trường học, bệnhviện,cơ quan nghiên
cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhậnlương từ ngânsách
d) Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốcp h ò n g e) Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường
xuyên trong bộ máy của các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát cáccấp
g) Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyêntrong bộ máy của Văn phòng Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng nhân dân cáccấp
NhữngtrườnghợpriêngbiệtkhácdoChủtịchHộiđồngBộtrưởngquyđịnh.Phạm
vi công chức không baogồm:
a) Các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cácc ấ p
b) Những người giữ các chức vụ trong các hệ thống lập pháp, hành pháp, tưpháp được Quốc hội hoặc Hội đồng Nhân dân các cấp bầu ra hoặc cử ra theo nhiệmkỳ
c) Những hạ sĩ quan, sĩ quan tại ngũ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, bộ đội biênphòng
d) Những người làm việc theo chế độ tạm tuyển, hợp đồng và những người đang thời kỳ tập sự chưa được xếp vàongạch
Trang 20vực hành chính nhà nước, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể Nhữngngười làm việc trong các tổ chức, đơn vị còn lại như doanh nghiệp nhànước, lực lượng vũ trangthì do các văn bản pháp luật về lao động, về sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, về công an nhân dân Việt Nam điều chỉnh.Với quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, các tiêu chí: Công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ Ngân sáchnhà nước mới chỉ là những căn cứ để xác định mộtngười có phải là "cán bộ, công chức" hay không Tuy nhiên, vấn đề ai là cán bộ,
ai là công chức vẫn chưa được phân biệt và giải quyết triệtđể
Năm 2003, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức,Nhà nước đã thực hiện việc phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp Việcphân định này đã tạo cơ sở để đổi mới cơ chế quản lý đối với cán bộ, công chức trongcác cơ quan Nhà nước với cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.Nhưng đến thời điểm này, vấn đề làm rõ thuật ngữ "công chức" và thuật ngữ "viên chức"vẫn chưa được giải quyết
Vì không xác định và phân biệt được rõ thuật ngữ "cán bộ"; "công chức", "viênchức" nên đã dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác định những điểmkhác nhau (bên cạnh những điểm chung) liên quan đến quyền và nghĩa vụ, đến cơ chế vàcác quy định quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiềnlương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cán bộ cũngnhư của công chức, viên chức Do đó, nhiệm vụ cơ bản, quan trọng và đầu tiên mà LuậtCán bộ, công chức năm 2008 đã làm được, đó là làm rõ được những tiêu chí xác định ai
là cán bộ, ai là công chức Từ đó, đã tạo cơ sở và căn cứ để đưa ra những nội dung đổimới và cải cách thể hiện trong Luật Cán bộ, công chức, nhằm giải quyết những vấn đề
mà thực tiễn quản lý đang đặt ra Đồng thời đây cũng là căn cứ để xác định rõ phạm vi,đối tượng điều chỉnh của Luật và để đội ngũ viên chức trong các đơn vị sự nghiệp cônglập sẽ do một văn bản luật khác điềuchỉnh
Theo điều luật số: 22/2008/QH12 Luật cán bộ công chức được Quốc Hội nướccộng hòa xã Hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11năm 2008; Luật số 52/2019/QH14 Quốc hội ban hành Luật sủa đổi, bổ
Trang 21sung một số điều của Luật cán bộ, công chức số: 22/2008/QH12 và Luật viên chức số58/2010/QH12 quy định:
- CánbộlàcôngdânViệtNam,được bầucử,phê chuẩn,bổnhiệm giữ chức vụ,chứcdanhtheo nhiệmkỳtrongcơquan của Đảng CộngsảnViệt Nam, Nhànước,tổchứcchínhtrị-
Như vậy,tùytừng cách tiếp cận mà có những quan điểm khác nhau về cán bộ,nhưng nhìn chung có thể hiểu thuật ngữ “cán bộ” dùng để chỉ những người được bầu cử,
bổ nhiệm, điều động để làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội cùng với bộ máyhành chính thực hiện chủ trương đường lối của Đảng trong hệ thống chính trị thống nhất.Đội ngũ này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chịu sự điều chỉnh của Luật cán
bộ, côngchức
1.1.2 Khái niệm về công chức
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chứcchính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộcQuân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhânquốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩquan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sựnghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội(sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp cônglập theo quy định của phápluật
Trang 22Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính định nghĩa công chức là:
“Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của Nhànước ở trung ương hay ở địa phương, làm việc thường xuyên, toàn bộ thời gian, đượcxếp vào ngạch của hệ thống ngạch bậc, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, có tưcách pháp lý khi thi hành công vụ của Nhà nước” (14, tr.159, Từ điển tiếng Việt của ViệnNgôn ngữ học do Nxb Đà Nẵng xuất bản năm2000)
Theo Điều 1 sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 4 Luật số 52/2019/QH14 Quốc hội banhành Luật sủa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức số: 22/2008/QH12 vàLuật viên chức số 58/2010/QH12: “ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan củaĐảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh,cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan,quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công annhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, côngnhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhànước.”
1.2 Chất lƣợng cán bộ, côngchức
1.2.1 Khái niệm chất lượng cán bộ, côngchức:
Hiện nay, các quan niệm về chất lượng cán bộ, công chức chưa thật sự rõ ràng, vẫncòn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên, nhìn nhận một cáchchung nhất thì chất lượng cán bộ, công chức được hiểu đó chính là chất lượng lao độngcủa đội ngũ công chức - là loại lao động có tính chất đặc thù riêng xuất phát từ vị trí, vaitrò của chính đội ngũ lao động này
Cách đây chưa lâu, nhiều người không khỏi giật mình khi nghe lãnh đạo Bộ Nội vụtrả lời báo chí rằng “chỉ có khoảng 30% trong đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêucầu, khoảng 40% “tàm tạm”, còn 30% còn lại chưa đáp ứng được yêu cầu” Không thểphủ nhận những năm qua nhờ được đào tạo bài bản từ nhiều nguồn, mặt bằng chất lượngđội ngũ cán bộ, công chức có được nâng lên một bước, nhưng nếu chỉ nói về con số 30%chưa đáp ứng yêu cầu đã là một vấn đề đáng báo động Nếu tính số tiền lương, các chế
độ chính sáchmà 30% cán bộ, công chức này
Trang 23được hưởng mỗi năm đất nước mất không biết bao nhiêu tiền phải trả, phải “đầu tư” màkhông đem lại hiệu quả Trong thực tế hiện nay, có không ít trường hợp người dân thanphiền về tình trạng cán bộ, công chức không làm tròn công vụ, có biểu hiện nhũng nhiễu,vòi vĩnh, hành dân, có trường hợp còn sa vào tham ô, tham nhũng, gây bất bình trong dưluận Thế nhưng trong các cơ quan, đơn vị, cán bộ công chức hàng năm phần lớn vẫnđược đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ được giao, ít có trường hợp cán bộ, công chứckhông hoàn thành nhiệm vụ, bị buộc cho thôi việc Ngay cả những cán bộ, công chức đã
vi phạm quy định về công vụ, nhiều trường hợp cũng chỉ bị kỷ luật cho có nên ít có tácdụng răn đe Cách làm này kéo dài nhiều năm đã làm mất đi tính nghiêm túc của công tácđánh giá cán bộ, công chức, dẫn đến công việc này không có tác dụng động viên khuyếnkhích những người mẫn cán có nhiều thành tích trong hoạt động, cống hiến, bởi vì họthấy số cán bộ, công chức “không đáp ứng yêu cầu” nhiệm vụ vẫn tiếp diễn sự trì trệtrong công việc mà qua thực tế họ chẳng hề hấngì
Một biểu hiện nữa là có không ít cán bộ, công chức sao nhãng với công việc, ngàyngày họ chỉ biết “sáng vác ô đi tối vác ô về”, đến công sở cho có đến, ít có sự đầu tưcông sức cho nhiệm vụ được giao Một số cán bộ còn có hiện tượng “ăn cắp” giờ nhànước quy định để chơi game, hay la cà quán xá mà vừa qua báo chí, công luận lên tiếngrất nhiều Những biện pháp mạnh như lập đoàn kiểm tra, dùng camera ghi hình trực tiếpđưa lên các phương tiện thông tin đại chúng để đẩy lùi biểu hiện tiêu cực này của một
số cán bộ, công chức suy cho cùng cũng chỉ là biện pháp tình thế, nói như nhiều người làcực chẳng đã phải làm, bởi đã là cán bộ, công chức, mặc nhiên không cho phép ai có thểdời nhiệm sở trong giờ hành chính để rong chơi, sa vào quán xá hay đi làm việc riêngtư
Thực tế cho thấy rằng khi nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tốt thì sẽ có độingũ cán bộ, công chức có năng lực tốt, bản thân họ sẽ có các đặc điểm:
(1) Chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước;
(2) Phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, lối sống, tác phong và lề lối làm việc khoahọc;
(3) Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ hiệuquả;
Trang 24(4) Trách nhiệm cao và phối hợp tốt trong thực hiện nhiệmvụ.
(5) Lãnh đạo, quản lý tốt đơn vị được giao phụtrách;
(6) Tập hợp, đoàn kết được cán bộ, côngchức
Từ đó giải quyết tốt, khoa học các công việc theo thẩm quyền, quản lý tốt nguồn lựctrong điều kiện hiện có, phân công nhiệm vụ phù hợp, đánh giá, khen thưởng, khích lệhay kỷ luật thích hợp, đúng thời điểm, mức độ tạo sự đồng thuận cao trong công việc.Khi được giao nhiệm vụ sẵn sàng nhận và hoàn thành chiếm được sự tin tưởng của đồngnghiệp và của nhân dân
Còn khi chất lượng cán bộ, công chức không tốt sẽ tồn tại những cán bộ không cónăng lực, trình độ không có được các tố chất như trên Ở những cán bộ này thấy rất rõviệc ngại học hỏi, né tránh nhiệm vụ, đùn đẩy trách nhiệm, bản thân không dám nghĩ,dám làm, có biểu hiện suy thoái về đạo đức, tham mưu cho cấp trên giải quyết công việcthiếu thực tế, hiệu quả công vụ không cao Nếu không giải pháp nâng cao chất lượng đốivới những cán bộ, công chức này dẫn đến kết quả công việc không cao, ảnh hưởng xấutới mục tiêu chung của cả hệ thống chínhtrị
Chất lượng cán bộ, công chức là một trong những tiêu chí phản ánh trình độ quản lýkinh tế - xã hội của một quốc gia Chất lượng cán bộ, công chức phụ thuộc vào chấtlượng của từng thành viên công chức trong đội ngũ đó, mà chất lượng này thể hiện ởtrình độ chuyên môn, sự hiểu biết về chính trị - xã hội, phẩm chất đạo đức, khả năngthích nghi với hoàn cảnh kinh tế - xã hội, v.v… Chất lượng cán bộ, công chức được phảnánh thông qua hệ thống các chỉ tiêu tiêu chuẩn phản ánh trình độ chuyên môn, nghiệp vụ,các kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm trong quản lý… của đội ngũ công chức Chất lượngnày còn bao hàm tình trạng sức khỏe của đội ngũ công chức, có đủ điều kiện sức khỏecho phép người công chức thực thi được nhiệm vụ hiện tại và tương lai Chất lượng cán
bộ, công chức được đánh giá cao hay thấp cần phải được so sánh với tiêu chuẩn thực hiệncông việc ở mỗi công việc mà họ đảm nhận và mức độ thực tế kết quả thực hiện nhiệm
vụ công việc của công chức
Qua những phân tích trên, có thể khái quát khái niệm chất lượng cán bộ, công
chức như sau:Chất lượng công chức trong cơ quan hành chính nhà nước là tổnghòa
của các yếu tố: thể lực; tâm lực (thái độ, kỷ luật lao động…); trí lực (kiến thức, kỹ năng chuyên môn) của đội ngũ công chức, thể hiện qua quá trình thực hiện chức
Trang 25năng, nhiệm vụ của đội ngũ công chức nhằm đạt được mục tiêu phát triển bản thâncũng như mục tiêu hoạt động chung của cơ quan hành chính nhà nước.
1.2.2 Đặcđiểm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
Việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cần tập trung vào cácyếu tố:
(1) Năng lựctổchức, nănglực này đặcbiệtcầnthiếtvàquan trọngđối vớicán
bộ lãnh đạo quản lý vì năng lực tổ chức hay được xem xét khi đánh giá cán bộ
(2) Năng lực lãnh đạo, là việc nêu cao uy tín và tính chủ động của cán bộ,nhờ đó, ý trí của một người tác động đến cả nhóm để đạt được mụcđích
(3) Năng lực quản lý hay là hiệu quả quản lý, hiệu quả công việc, kỹ năngvận dụng vào thực tiễn Trong đó cốt lõi là quản lý nhân sự và quan hệ với đồngnghiệp trong quản lý và phân công lao động; kiểm soát được mục tiêu công việc vàphương tiện để đạt được mục đích, làm chủ kiến thức và thựctiễn
(4) Năng lực vận động, nắm bắt tâm tư, tình cảm và thái độ của người khác
và làm cách nào để đối tượng hiểu và hướng dẫn họ thực hiện đúng chính là khảnăng thuyết phục, tuyên truyền, vận động, giải thích nhằm định hướng cho họ thựchiệnđúng
- Đặc điểm về chủ thể nâng cao chất lượng cán bộ, côngchức
Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, hướng dẫn là cấp ủy, chính quyền các cấp Mỗichủ thể của quá trình nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp có chức năng, nhiệm vụ
cụ thể Vì vậy, cần xác định rõ ràng, cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tráchnhiệm của từng tổ chức, cơ quan, cá nhân theo Luật cán bộ, công chức và quy chế côngtác cán bộ của Đảng
- Đặc điểm về đối tượng nâng cao chất lượng cán bộ, côngchức
* Đối tượngxây dựng bao gồm từng người và cả đội ngũ cán bộ, công chức Mỗi
cán bộ, công chức cấp xã vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình tự xây dựng.Trong những điều kiện nhất định một cán bộ, công chức là chủ thể trong mối quan hệnày, nhưng lại là khách thể trong mối quan hệ khác Việc chỉ ra chủ thể và đối tượngnâng cao chất lượng cán bộ, công chức là để phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổchức, lực lượng Chính vì vậy, khi xác định chủ thể và đối
Trang 26tượng của quá trình xây dựng phải luôn đặt trong mối quan hệ xác định, trên cơ sở đó mà
có các giải pháp tổ chức thực hiện đáp ứng yêu cầu của việc nâng cao chất lượng cán bộ,công chức
- Đặc điểm về môi trường nâng cao chất lượng cán bộ, côngchức
Môi trường làm việc là một khái niệm rộng bao gồm tất cả những gì có liên quan,ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển, nâng cao năng lực công tác của mỗi
cá nhân, cán bộ, công chức (bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài).Môi trường làm việc đối với cán bộ, công chức (được tiếp cận là môi trường bên trong)bao gồm: cơ sở vật chất, tinh thần, chế độ chính sách, mối quan hệ giữa lãnh đạo đối vớinhân viên và giữa nhân viên với nhân viên… trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị Môitrường làm việc tốt là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triểncủa cán bộ, công chức cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơquan, tổ chức, đơnvị
1.2.3 Sựcầnthiếtphảixâydựng,nângcaonănglựccủađộingũcánbộ,côngchức
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức là một yêu cầu cấp thiết trong điều kiệnhiện nay và thời gian tiếp theo ở nước ta Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cán bộ,công chức ở cấp huyện xuất phát từ các lý dosau:
Thứ nhất, đội ngũ cán bộ, công chức là chủ thể tổ chức thực hiện các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương Nếu xét trên góc độ hệ thống tổ chứchành chính Nhà nước thì chính quyền cấp huyện,cấp xã là một khâu, một bộ phận cấuthành của hệ thống tổ chức chính quyền Nhà nước từ Trung ương đến địa phương Chínhquyền Trung ương có chức năng hoạch định, ban hành chính sách, pháp luật để quản lý,điều hành phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; chính quyền cấp tỉnh là cấp trung gian
có chức năng truyền đạt, hướng dẫn, chỉ đạo triển khai; còn chính quyền cấp huyện, cấp
xã là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và chính quyềncấp trên vào đời sống nhân dân Do vậy, mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước ban hành dù rất đúng đắn, nhưng nếu không được đội ngũ công chức cấp huyện,cấp xã phổ biến, tổ chức thực hiện tốt ở các địa phương thì các chủ trương, chính sách đócũng không thể đi vào đời sống, phát huy hiệu quả như mongmuốn
Trang 27Thứ hai,cán bộ, công chức là người trực tiếp quản lý, điều hành, đảm bảo mọi
hoạt động chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh ở địa phương theo quy địnhcủa pháp luật Theo quy định của pháp luật, chính quyền cấp huyện, cấp xã có chức năng,nhiệm vụ quản lý, điều hành mọi hoạt động, chính trị, kinh tế - xã hội ; quốc phòng, anninh trên địa bàn cấp huyện, cấp xã và đảm bảo cho các hoạt động trên diễn ra trongkhuôn khổ pháp luật Đội ngũ cán bộ, công chức từ huyện đến xã là chủ thể quản lý trong
bộ máy chính quyền cấp huyện, cấp xã Bởi vậy, cán bộ, công chức cấp huyện, xã làngười trực tiếp quản lý mọi hoạt động của đời sống xã hội ở địa bàn từ huyện đếnxã
Thứ ba,đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã xã là người đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân địa phương; đấu tranh và bảo vệ các quyền lợichính đáng của người dân khi bị vi phạm, đồng thời phải luôn chăm lo cải thiện và nângcao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân
Xuất phát từ bản chất, Nhà nước ta là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vìNhân dân Chính quyền Nhà nước do nhân dân lập ra để quản lý, điều hòa các mối quan
hệ xã hội, chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Do vậy, ngoài vaitrò là người quản lý, thực thi quyền hành; đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện, cấp xãcòn có vai trò là người đại diện cho ý chí và quyền lợi của nhân dân Phần lớn, đội ngũcán bộ, công chức cấp huyện, cấp xã là người tại địa phương, ngoài thời gian làm việctheo quy định, họ còn trở về tham gia lao động, sản xuất với gia đình, với nhân dân địaphương Các quyền lợi và nghĩa vụ của đội ngũ cán bộ công chức ở huyện và xã và ngườidân cơ bản thống nhất với nhau Mọi tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ,công chức ở đây đều có thể hiểu và chia sẻ Bởi vậy, đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sởphải luôn là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt, tổng hợp vàphản ánh những đề xuất, kiến nghị của người dân lên Đảng và Nhà nước cấp trên; đồngthời phải thường xuyên quan tâmxâydựng và tổ chức triển khai các chương trình, đề ánphát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, chăm lo đến mọi mặt đời sống vật chất và tinhthần tới mọi ngườidân
Thực tiễn cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở có ảnh hưởng quyết địnhđến quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Ở huyện nào có đội ngũ
Trang 28cán bộ, công chức tốt thì ở địa phương đó các phong trào đều sôi nổi, kinh tế - xã hộiphát triển, tình hình an ninh chính trị ổnđịnh
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về nâng cao chất lượng cán bộ, côngchức cho thấy đội ngũ cán bộ, công chức là một bộ phận quan trọng trong kết cấu nguồnnhân lực hành chính đã và đang trực tiếp quản lý điều hành thực hiện chế độ công vụ nhànước, thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở ở cấp cơ sở (cấp huyện, cấp xã) Đây cũng lànguồn nhân lực đặc thù, mang những đặc trưng riêng, do đó nâng cao chất lượng cán bộ,công chức có chất lượng hiệu quả, có đạo đức công vụ, có kỷ luật kỷ cương là trực tiếpthúc đẩy phát triển kinh tế ở địaphương
1.2.4 Nội dung nâng cao chất lượng cán bộ, côngchức
1.2.4.1 Nguyên tắc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầucơ cấu lại kinhtế
Thứ nhất, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trong tổ chức được dựa trên sự đảm bảo tài chính tương đối vững chắc
Thứ hai, xây dựng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong tổ chức có cơ sở là một đội ngũ lao động với nền tảng căn bản tương đốitốt
Thứ ba, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trong tổ chức diễn ra liên tục để bắt kịp những thay đổi nhanh chóng của thị trường cũng như hạ tầng công nghệ
Thứ tư, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức trong tổ chức (trong điều kiện cạnh tranh) đối mặt với nguy cơ bị chảy máu chất xám
1.2.4.2 Phương pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức đáp ứng yêucầu
cơ cấu lại kinhtế
Chính sách tuyển dụng đội ngũ công chức là việc lựa chọn những người có đủ tiêuchuẩn và đáp ứng yêu cầu vị trí công việc cụ thể đang khuyết trống trong cơ quan hànhchính
Tuyển dụng là khâu quan trọng quyết định chất lượng đội ngũ công chức.Tuyển dụng phải bảo đảm các yêu cầu sau:
Trang 29+ Tuyển dụng phải căn cứ vào chính sách quy hoạch đội ngũ công chức đã đượcphê duyệt thông qua.
+ Tuyển dụng phải xuất phát từ nhu cầu công việc của cơ quan hành chính.+ Người được tuyển dụng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn của chức danhcầntuyển
+ Việc tổ chức thực hiện tuyển dụng phải bảo đảm công khai, minh bạch, kháchquan
Chính sách tuyển dụng đội ngũ công chức được thực hiện bằng nhiều hình thức nhưthi tuyển xét tuyển, tuyển thẳng Trong đó, hình thức thi tuyển có nhiều ưu điểm Bởi lẽ,đây là hình thức tuyển dụng cho phép lựa chọn khá chính xác người cần tuyển chọn.Hình thức xét tuyển được áp dụng trong trường hợp đối tượng tham dự tuyển ở phạm vihẹp Hình thức tuyển thẳng được áp dụng đối với các trường hợp có thành tích đặc biệtxuất sắc, những trường hợp đặc biệt, đáp ứng yêu cầu cấp bách về nhân sự của Cơ quanhànhchính
Nội dung thi tuyển là yếu tố quyết định chất lượng đội ngũ cán bộ công chức đượctuyển chọn Nội dung thi tuyển phải bám sát yêu cầu chức danh cần tuyển dụng Nộidung thi tuyển phải bảo đảm đánh giá, phân loại trình độ, năng lực nhiều mặt của đốitượng tham gia thi tuyển Kết hợp nhiều hình thức trong thi tuyển để có thể đánh giáchính xác được năng lực trình độ người dự tuyển Chẳng hạn kết hợp thi viết và phỏngvấn, kết hợp thi trắc nghiệm tình huống với thi tự luận, Việc kết hợp nhiều hình thứctrong thi tuyển còn cho phép cơ quan tuyển dụng đánh giá được nhiều mặt của người dựtuyển như phong cách, ngoại hình, khả năng giao tiếp
Để chính sách tuyển dụng đội ngũ công chức đạt chất lượng cao, trong quá trìnhtuyển dụng cần bảo đảm thực hiện đúng các nguyên tắc:
Một là, bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.
Tất cả mọi thông tin về điều kiện, tiêu chuẩn, chỉ tiêu, chuyên ngành tuyển dụng,nội dung, hình thức thi tuyển phải được thông báo rộng rãi trên các phương
Trang 30tiện thông tin đại chúng để người dân biết và đăng ký dự tuyển, khi đánh giá kết quả thituyển công chức phải chính xác, khách quan, không thiên vị.
Hai là, bảo đảm tính cạnh tranh:Tất cả mọi công dân có đủ điều kiện theo quy định
của pháp luật thì đều có quyền tham gia dự tuyển công chức và được tuyển khi có đủđiều kiện trúng tuyển mà không có sự phân biệt đối xử nào.Tránh tình trạng chỉ thôngbáo nội bộ cho những người trong cơ quan hoặc trong ngành biết nhằm không phải cạnhtranh, điều này đã làm ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của chính sách tuyển dụng độingũ cán bộ công chức hiệnnay
Ba là, tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm:Việc
tuyển dụng đội ngũ cán bộ công chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí công tác
và theo chỉ tiêu biên chế được giao Tuy nhiên thực tế hiện nay cho thấy: Không ít người
có trình độ, năng lực yếu kém, phẩm chất đạo đức không thật tốt, làm những phần việcđơn giản nhưng vẫn bám vào biên chế một cách “cố thủ” nhưng chính quyền không cócách gì đưa họ ra khỏi biên chế để đưa những người có năng lực hơn vào bộ máyChínhquyền
Bốn là, ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, ngườidân tộc thiểu số :Cùng với chính sách tuyển dụng đội ngũ cán bộ công chức,
việc thu hút nhân tài vào làm việc trong bộ máy nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đếnchất lượng của đội ngũ cán bộ công chức
1.2.4.3 Phương án tuyển dụng, sử dụng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầucơ cấu lại kinhtế
Trong quá trình xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức việc bố trí,
sử dụng đúng cán bộ luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm và có thể nói đây là mộttrong những nhân tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Quátrình bố trí, phân công và sử dụng công chức là một chuỗi các mắt xích công việc quantrọng liên quan đến người công chức từ khâu tuyển dụng đầu vào, hướng dẫn tập sự , bổnhiệm vào ngạch công chức, phân công công tác phù hợp với tiêu chuẩn ngạch, bậc và vịtrí công tác phù hợp với ngạch được bổ nhiệm Việc sắp xếp đúng chỗ, đúng việc sẽ tạođiều kiện phát huy tinh thần hăng say làm việc, phát huy được năng lực, UBND, rènluyện kỹ năng thành thạo công việc khuyến khích
Trang 31tinh thần học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, góp phần chủ yếu đảm bảocho việc hoàn thành công vụ của cơ quan Vì vậy, công tác phân công, bố trí công chức
có ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng của đội ngũ côngchức
Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) nhấn mạnh việc bố trí, sử dụng cán bộ, côngchức như sau:
- Bố trí phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn, phù hợp với UBND Điều đó có nghĩa
là khi sử dụng cán bộ, công chức, nhất là những người làm nhiệm vụ lãnh đạo, quản
lý, phải xem xét cả hai yếu tố khách quan (tiêu chuẩn cán bộ, công chức) lẫn chủquan (phẩm chất, năng lực, nguyệnvọng )
- Đề bạt, cất nhắc phải đúng lúc, đúng người, đúng việc Bố trí đề bạt khôngđúng có thể dẫn đến thừa, thiếu cán bộ công chức một cách giả tạo, công việc kémphát triển, tiềm lực không được pháthuy
- Trọng dụng nhân tài, không phân biệt đối xử với người có tài ởtronghayngoài Đảng, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nướcngoài
- Chú ý kết hợp hài hòa giữa đóng góp của cán bộ công chức với chế độ chínhsách tiền lương và các đãi ngộ khác Khi thưởng, phạt phải rõ ràng, công bằng, kịpthời, phải căn cứ vào chất lượng, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức Trongtác phẩm ”Sửa đổi lề lối làm việc” khi đề cập đến vấn đề sử dụng cán bộ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 yêu cầu hết sức quan trọng đó là “Phải biết rõ cán bộ;Phải cất nhắc cán bộ cho đúng; Phải khéo dùng cán bộ; Phải phân phối cán bộ chođúng; Phải giúp cán bộ cho đúng và phải giữ gìn cán bộ” Chủ tịch Hồ Chí Minhcũng đã vạch ra ba chứng bệnh do cách sử dụng cán bộ sai lầm Người lưu ý: “Mụcđích khéo dùng cán bộ cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ”
Đề “Khéo dùng” cán bộ, Bác Hồ yêu cầu phải thực hiện mấyđiểm:
+ “Khiến cho cán bộ có gan nói, có gan đề ra ý kiến” Theo Bác, cán bộ không nóikhông phải họ không có gì để nói mà vì không dám nói, họsợ
+ “Khiến cho cán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc” Cán bộ không phải ai cũng
có năng lực như nhau Nhưng lãnh đạo khéo, tài nhỏ hóa ra tài to Lãnh đạo không khéo,tài to cũng hóa ra tài nhỏ Khi sử dụng phải tin cán bộ
Trang 32+ “Không nên tự tôn tự đại mà phải nghe, phải hỏi ý kiến của cấp dưới” Bác cònyêu cầu, nếu ý kiến cấp dưới không đúng thì nên dùng thái độ thân thiết, giải thích cho
Kinh phí chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức do ngân sách nhànước cấp Chế độ đào tạo, bồi dưỡng do các cơ quan tổ chức có thẩm quyền quyđịnh
Để xác định nhu cầu đào tạo bồi dưỡng của Cơ quan hành chính, cần trả lời các câuhỏi: mức độ thực hiện mục tiêu quản lý của đơn vị như thế nào? Đội ngũ cán bộ côngchức của đơn vị cần nhữngkỹnăng, kiến thức nào để thực hiện tốt các công việc ở mỗiđơn vị, những cán bộ công chức nào cần phải được trang bị kiến thức, kỹ năng để thựchiện được nhiệm vụ công vụ? Điểm mạnh, yếu của đội ngũ công chức làgì?
Nội dung chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức thường tập trungvào các kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ; các kiến thức về lý luận chính trị;các kiến thức, cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thịtrường; các kiến thức về luật pháp, các kiến thức, kỹ năng về quản lý nhà nước; các kiếnthức về hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, tin học, ngoại ngữ cũng là các nội dungchính sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức
Các khóa đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức thường được thực hiện dướicác hình thức sau:
+ Đào tạo, bồi dưỡng dưới hình thức tập trung hoặc bán tập trung;
Trang 33+ Đào tạo, bồi dưỡng dưới hình thức vừa làm vừa học;
+ Đào tạo qua trường lớp và đào tạo trong thực tiễn;
+ Đào tạo trong nước và ngoài nước;
+ Đào tạo từ thấp đến cao;
+ Đào tạo, bồi dưỡng theo hình thức kèm cặp;
+ Đào tạo, bồi dưỡng từ xa;
+ Đào tạo dài hạn;
+ Các khóa đào tạo, bồi dưỡng trung hạn;
+ Các khóa bồi dưỡng ngắn hạn
Mỗi hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trên đây đều có những ưu điểm và nhượcđiểm nhất định Việc lựa chọn hình thức tổ chức cụ thể nào dành cho từng khóa họckhông phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người tổ chức lớp học mà phải xem xét cácyếu tố liên quan đến khóa học
Cuối các khóa đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức, thường có việc đánhgiá hiệu quả đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức
Việc đánh giá nhằm xác định hiệu quả, mục tiêu của các khóa đào tạo, bồi dưỡng đãthực hiện được Theo đó, cơ quan tổ chức có thể bổ sung điều chỉnh cho những khóa học,chương trình học tiếp theo
Mặt khác, hàng năm, quá trình đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức cũng phảiđược đánh giá một cách hệ thống
1.2.5 Tiêuchí đánh giá nâng cao chất lượng cán bộ, côngchức
Dựa trên khái niệm chất lượng cán bộ, công chức đã được đưa ra, luận văn xâydựng 03 nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ, công chức như sau:
a) Nhóm tiêu chí về thểlực:
Thể lực hay thể chất bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp mà còn là sự dẻo dai củahoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý trí, là khả năng vận động củatrí lực Mọi lao động, dù là lao động cơ bắp hay lao động trí óc đều cần có
Trang 34thể lực tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn,biến tri thức thành sức mạnh vật chất Yếu tố thể lực của người lao động được hình thành
và phát triển bằng con đường di truyền, nuôi dưỡng và luyện tập, rèn luyện thân thể.Hiện nay, yêu cầu về thể lực đã được đưa vào nội dung tuyển dụng lao động ở cácđơn vị kinh tế cũng như bổ nhiệm, tuyển dụng công chức ở các cơ quan hành chính nhànước, tuy nhiên tiêu chí đánh giá thường chưa rõ ràng
b) Nhóm tiêu chí về trílực:
- Kiến thức: kiến thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, haykỹnăng
có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục Kiến thức có 2 dạng tồn tại chính
là kiến thức ẩn và kiến thứchiện:
Kiến thức hiện là những kiến thức được giải thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tàiliệu, âm thanh, phim, ảnh,… thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệthống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các phương tiện khác Đây là những kiếnthức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao, thường được tiếp nhận qua hệthống giáo dục và đào tạo chính quy
Kiến thức ẩn là những kiến thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng kiến thứcnày thường ẩn trong mỗi cá nhân và rất khó “mã hóa” và chuyển giao, thường bao gồm:niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng Nó không thể “mã hóa” thành văn bản,khó để chuyển giao, mà người ta chủ yếu chỉ có thể có bằng cách tự mình luyện tập.Tuy nhiên, kiến thức chỉ là sức mạnh tiềm tàng, nó chỉ biến thành sức mạnh khi vàchỉ khi nó được tổ chức thành một kế hoạch hành động và nhằm thẳng vào một mục đích
đã xác định Cả về lý luận và thực tiễn cho thấy, việc nắm bắt kiến thức đã cần, nhữngviệc tổ chức áp dụng kiến thực đó vào thực tiễn còn cần hơn Bởi vậy, những yêu cầuquan trọng đối với công chứclà:
+ Được trang bị kiến thức cơ bản cần thiết cả về khoa học tự nhiên và xã hội nhânvăn;
+ Được học và biết cách thu thập, tiếp tục phát triển kiến thức theo mục tiêu
Trang 35xác định;
+ Được học và biết cách áp dụng kiến thức vào công việc thực tiễn theo chươngtrình mục tiêu xác định
- Kỹ năng chuyên môn: Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu
nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Kỹ năng chuyên môn bao giờcũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể như kỹ năng ra quyết định,
kỹ năng phối hợp, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng Thanh tra, kiểm tra, kỹ năng tuyêntruyền - hỗ trợ người nộp thuế, kỹ năng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, kỹ năngsoạn thảo văn bản Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũykinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, côngtác
c) Nhóm tiêu chí về tâmlực:
- Đạo đức công vụ: Đạo đức là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực
xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong mối quan hệvới nhau và quan hệ với xã hội Đạo đức công vụ là đạo đức của người công chức,phản ánh mối quan hệ giữa công chức với công dân, tổ chức, đồng nghiệp tronghoạt động công vụ Nó được xã hội đánh giá về hành vi thái độ, cách ứng xử củacông chức khi thi hành côngvụ
Đạo đức của công chức khi thi hành công vụ rất khó xác định bằng những tiêu chí
cụ thể Dư luận xã hội đánh giá các biểu hiện đạo đức của công chức qua sự tán thànhhay không tán thành, ca ngợi hay phê phán hoạt động của người công chức.Sựtánthànhhayphêphánđóluôngắnvớimụctiêuxãhội,lợiíchcủatoàndânvàtính nhânvăn.Tuynhiên,sựđánhgiácụthểcòn phụthuộcvào cácyếutốchiphối hànhvitrongcôngvụnhư:
Thểhiệntháiđộứngxửđúngmựckhông?Hànhviđó“cólý”và“cótình”không?
- Phẩm chất chính trị: công chức phải là những người có tinh thần yêu nước
sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luậtcủa Nhànước
Ngoài ra, để đánh giá chất lượng công chức trong cơ quan hành chính nhà nước,
còn có nhiều tiêu chí khác, trong đó, quan trọng nhất là tiêu chí:Mức độ hoàn
Trang 36thành nhiệm vụ của công chức.
Mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chứclà khả năng thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của người công chức trên thực tế so với yêu cầu đặt ra của cơ quan hành chínhnhà nước Các yêu cầu đặt ra có thể được quy định rõ ràng trong các bảng mô tả côngviệc đối với từng vị trí công chức, hoặc cũng có thể được đánh giá thông qua ý kiến chủquan của người công chức lãnh đạo, quản lý thông qua kinh nghiệm thực tế cũng nhưmột số tiêu chuẩn cụ thể
1.2.6 Cácy ế u t ố ả n h h ư ở n g đ ế n v i ệ c n â n g c a o c h ấ t l ư ợ n g c á n b ộ , c ô n g chức
1.2.6.1.Yếu tố bêntrong
- Năng lực đội ngũ cán bộ công chức hoạch định chính sách:
Việc hoạch định chính sách của nhà nước hiện nay chủ yếu được tiến hànhtheo quy trình soạn thảo, ban hành nghị quyết của Chính phủ.Trong khi đó, nghị quyếtcủa Chính phủ là văn bảnquyphạm pháp luật mang tính bắt buộc thực hiện Hiện nay,quy trình hoạch định chính sách được thực hiện theo quy định về soạn thảo, ban hànhnghị quyết của Chính phủ trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996sửa đổi 2002 còn mang tính chất khung chưa phân công rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, và cảchế tài đối với tập thể hoặc cá nhân trong từng khâu, công đoạn từ soạn thảo, lựa chọnphương án, thẩm định, banhành…
Quy trình hoạch định chính sách còn bị khép kín, việc lấy ý kiến tham gia của cácđối tượng chịu sự điều chỉnh trực tiếp của chính sách còn ít, nếu có thì hình thức; việctiếp thu ý kiến của các Bộ, ngành chưa thể hiện tính chủ động Mặt khác, chưa có quyđịnh cụ thể để huy động được trí tuệ của nhân dân, các chuyên gia, các nhà khoa họctham gia vào hoạch định chính sách là vô hình chung làm hạn chế cách nhìn nhận, giảiquyết vấn đề Trong quá trình hoạch định chính sách chưa tạo được kênh thông tin tốtnhất để tiếp thu ý kiến đóng góp của những đối tượng chịu ảnh hưởng của chính sách.Trong khi đó, chính sách không thể là ý muốn chủ quan của cơ quan nhà nước, càngkhông phải là ý chí áp đặt của cá nhân có thẩm quyềnmàxuấtpháttừhiệnthựckháchquan,từviệctìmkiếm,pháthiện,nhậnthứcmột
Trang 37cách biện chứng các vấn đề nảy sinh trong đời sống kinh tế- xã hội và có các
phương án giải quyết phù hợp với thựctế
- Giáo dục đào tạo:
Giáo dục đào tạo là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế xã hội Bởi tri thức và phẩm chất của người lao động là sản phẩm của quá trìnhgiáo dục đào tạo.Các quốc gia đều nhìn nhận rằng một nền giáo dục hoàn chỉnh, đồng bộ
và toàn diện sẽ tạo ra những nhà khoa học, những người lao động có tri thức, cókỹnăngnghề nghiệp, năng động và sáng tạo Vì thế, giáo dục đào tạo sẽ quyết định trực tiếp đếnchính sách nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thuộc UBND cấp huyện bởivới đội ngũ công chức thì giáo dục đào tạo còn là quá trình hình thành phát triển thế giớiquan, tình cảm đạo đức, hoàn thiện nhân cách Còn với xã hội, với cơ quan hành chínhthì giáo dục đào tạo là quá trình tích lũy nguồn vốn con người để cung cấp tri thức, cungcấp con người để đáp ứng sự phát triển của xãhội
1.2.6.2.Yếu tố bênngoài
- Sự biến động của các điều kiện kinh tế- xãhội
Hệ thống chính trị, pháp luật và các chính sách xã hội cũng là một trong nhữngnhân tố liên quan đến chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Hệ thống cácchính sách xã hội nhằm vào mục tiêu vì con người, pháthuymọi tiềm năng sáng tạo củađội ngũ công chức trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, với phương hướng phát huynhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụcông dân, giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa đờisống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với việc chăm lolợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội Nghiên cứu về chính sáchnâng cao chất lượng đội ngũ công chức không thể không nghiên cứu đến đường lối,chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước như Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, LuậtLao động, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chính sách, cơ chế quản lý kinh tế,xãhội
Trang 38Và trong nền kinh tế thị trường, mặc dù đội ngũ công chức có nhiều cơ hội lựa chọnviệc làm theo chuyên môn nghiệp vụ của mình, song họ cũng phải đối mặt với nhiềuthách thức, thậm chí là thất nghiệp, bởi xét đến cùng sự ổn định về việc làm chỉ mangtính tương đối, do vậy, đội ngũ công chức cần phải được đào tạo, tái đào tạo để có đượctrình độ chuyên môn,kỹnăng tay nghề giỏi hơn, có sức khỏe và tác phong làm việc tốthơn nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của Nhà nước Như vậy, mối quan hệ giữachính sách nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và kinh tế-xã hội là mối quan hệ qualại hai chiều Kinh tế-xã hội càng phát triển thì khả năng đầu tư của nhà nước và xã hộicho chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngày càng tăng, tạo mọi cơ hội vàmôi trường thuận lợi cho chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Ngược lại,đội ngũ công chức được phát triển tốt sẽ góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội vàtrong vòng xoáy ốc thuận chiều này nhân tố nọ kích thích nhân tố kia pháttriển.
- Truyền thống lịch sử và giá trị vănhóa
Truyền thống lịch sử và giá trị văn hóa gồm ý thức dân tộc, lòng tự hào về nhữnggiá trị truyền thống là yếu tố cơ bản, có ý nghĩa xuyên suốt không chỉ hôm nay mà cả vềsau Những giá trị truyền thống như: tôn sư trọng đạo, ý thức cộng đồng, lòng yêu nước,thương người, tinh thần dũng cảm, bất khuất, tinh thần hiếu học, trọng học, chữ hiếu, lốisống thanh bạch, trong sạch, lòng nhân ái, sẵn sàng tương trợ người khác trong những lúcgặp khó khăn hoạn nạn đây là giá trị truyền thống đang chi phối cuộc sống của mỗichúng ta, là những nhân tố có ý nghĩa nhất định, cần phát huy Cũng lưu ý rằng, nhịpsống theo cơ chế thị trường cũng có không ít những tác động làm biến đổi những giá trịtruyền thống, tác động đến giá trị truyền thống, đến chính sách nâng cao chất lượng độingũ côngchức
- Toàn cầu hóa và hội nhập quốctế
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng ảnh hưởng đến chính sách nâng cao chấtlượng đội ngũ công chức, bởi những nhân tố này đã tạo điều kiện cho các quốc gia, địaphương kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy được nội lực
và mọi tiềm năng sáng tạo; đồng thời, tranh thủ được tối đa các nguồn lực bên ngoàiphục vụ cho phát triển Xu thế hội nhập quốc tế có tác động nhiều mặt
Trang 39và đặt ra những yêu cầu mới đối với chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ côngchức ở mỗi quốc gia, dẫn đến một cuộc cách mạng về đào tạo ngành nghề trong xã hội.
Do đó, các quốc gia, địa phương phải chuẩn bị cho mình những tiềm lực lao động đápứng yêu cầu của một hệ thống ngành nghề mới đang phát triển phù hợp với xu thế thờiđại Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, các quốc gia còn phải hướng đếnviệc phát triển những con người thích ứng với thời đại cạnh tranh ồ ạt và khốc liệt đểphát triển Có thể nhận ra rằng, tác động của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đốivới việc điều chỉnh, lựa chọn chiến lược phát triển của các quốc gia, địa phương mà trong
đó có cả chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là rất mạnh mẽ và sâu sắc.Phát triển một thế hệ mới đội ngũ cán bộ công chức có trình độ chuyên môn cao, có nănglực quản lý, để có thể giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh trước bối cảnh toàn cầuhóa hiện nay Trong đó kinh tế tri thức hiện nay cũng được xem là nhân tố ảnh hưởng rấtlớn đến chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, bởi sức lan tỏa mạnh mẽ vàđược xem như là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế-xã hội nói chung, quátrình công nghiệp hóa hiện đại hóa nói riêng, nó thúc đẩy sự tăng nhanh năng suất laođộng, UBND tạo ra bước đột phá về chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, nhất là độingũ cán bộ công chức chất lượng cao Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng có hiệuquả tri thức cho phát triển kinh tế và xã hội, bao gồm cả việc khai thác kho tri thức toàncầu, cũng như làm chủ và sáng tạo tri thức cho những nhu cầu của riêng mình Sự pháttriển kinh tế tri thức đến trình độ nào đó sẽ làm thay đổi phương thức lao động và sảnxuất, phương thức tiêu dùng và lối sống của xã hội trong nền văn minh mới Chính sáchnâng cao chất lượng đội ngũ công chức cần có những phương pháp tiếp cận hệ thốngtrong nghiên cứu về chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, đặt chínhsách nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong mối tương quan với các nhân
tố tác động đến nó nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, tìm ra những giảipháp hữu hiệu để phát triển đội ngũ cán bộ công chức cho đất nước trong bối cảnh mới
1.3 Kinhnghiệm về nâng cao chất lƣợng cán bộ, côngchức
1.3.1 Kinh nghiệm cán bộ, công chức trên thếgiới
Trang 40Tại các quốc gia trên thế giới đều ý thức được tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ,công chức trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Với vai trò là ngườithực thi công vụ, đội ngũ cán bộ, công chức là lực lượng quan trọng, tham mưu hoạchđịnh chính sách cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội Do đó chất lượngcán bộ, công chức luôn là một vấn đề quan trọng được ưu tiên ở nhiều quốc gia, sau đây
là một số ví dụ cụthể
1.3.1.1 ỞSingapore:
Singapore luôn đặt chất lượng phục vụ công vụ, hiệu quả, hiệu lực lên hàng đầu
và là nền công vụ luôn cải tiến để thích nghi với môi trường quốc tế luôn thay đổi, đápứng yêu cầu phát triển đất nước Đề cao chất lượng phục vụ của các cơ quan công quyền,Singapore quan niệm chất lượng cán bộ, công chức là chìa khóa thành công nên luôn coitrọng yếu tố con người, trọng dụng nhântài
Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhằm phát huy cao độ tiềm lực củamỗi người được Chính phủ Singapore đặc biệt quan tâm Điều đó được thể hiện trước hết
ở việc đầu tư rất lớn cho đào tạo (xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên; có chínhsách ưu đãi như giáo dục phổ thông được miễn phí, bao gồm cả học phí, sách giáo khoa,máy tính, phí giao thông ) Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng mỗingười đều được phát triển tài năng riêng; tạo thói quen học tập suốt đời, liên tục học hỏi
để mỗi công chức đều có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ phục vụ tốt cho công vụ
Singapore xây dựng chiến lược cán bộ thể hiện bằng kế hoạch đào tạo ngắn hạn,dài hạn, đào tạo kế nhiệm, bài bản, từ xa Thời gian đào tạo tối thiểu bắt buộc là 100 giờtrong một năm đối với mỗi công chức Trong đó 60% nội dung đào tạo về chuyên môn,40% nội dung đào tạo liên quan đến phát triển Có nhiều khóa học khác nhau dành chocác đối tượng khác nhau Khóa học làm quen với công việc dành cho công chức mớiđược tuyển dụng hoặc mới chuyển công tác từ nơi khác đến; khóa học đào tạo cơ bảnđược tổ chức cho người mới tuyển dụng trong năm đầu tiên công tác; khóa học nâng cao
bổ sung, giúp công chức đạt hiệu quả cao nhất trong công việc và nâng cao khả năng làmviệc của người đó trong tương lai; khóa học mở rộng tạo điều kiện cho công chức đượctrang bị những kiến thức và nghiệp vụ bên ngoài lĩnh vực chuyên môn chính để có thểđảm đương những công việcliên