Bài 1 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ MỚI NĂM 2022
Trang 1trang ba thứ quân, thực hiện kháng chiến toàn diện, chuẩn bị thế và lực đểgiành thắng lợi căn bản (1948-1950) Bị thất bại trong chủ trương chiến lược “đánhnhanh, thắng nhanh”, thực dân Pháp quay sang thực hiện đánh kéo dài, tiến hànhcàn quét, bình định, củng cố vùng chiếm đóng, với chính sách “Lấy chiến tranh nuôichiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt” Về phía ta, Trung ương Đảng họphội nghị mở rộng (1-1948), nhận định: với chiến thắng Việt Bắc, cuộc kháng chiến
đã chuyển sang giai đoạn mới Đảng chủ trương và chỉ đạo: phát động chiến tranh
du kích rộng khắp, lấy du kích chiến là căn bản, đưa một bộ phận bộ đội chủ lực vàovùng địch chiếm đóng để gây dựng cơ sở, lập làng chiến đấu, chống càn quét, pháchính quyền cơ sở của địch; xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, gồm bộ độichủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, làm nòng cốt cho phong trào toàndân đánh giặc; mở các đợt hoạt động và các chiến dịch nhỏ, đẩy mạnh vận độngchiến; đẩy mạnh kháng chiến toàn diện; tiến hành hoạt động ngoại giao để nhậnđược sự công nhận, giúp đỡ của các nước đối với cuộc kháng chiến Tháng 61950,Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch tiến công ở biên giớiĐông Bắc Bắc Bộ Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 16-9-1950, chiến dịch mở mànbằng trận tiến công cụm cứ điểm Đông Khê Qua 29 ngày đêm chiến đấu ác liệt,chiến dịch tiến công Biên giới Thu Đông 1950 kết thúc thắng lợi, tạo ra bước ngoặtcăn bản, đưa cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới
Trên lĩnh vực kinh tế, tháng 2-1949, Chính phủ ra Sắc lệnh tịch thu ruộng đất
của thực dân và Việt gian phản động, tạm chia cho dân cày Thực hiện xóa nợ cũ,giảm tố, giảm tức cho nông dân Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, công nghiệp vàtiểu công nghiệp, giao thông vận tải, ngân hàng, tài chính để đảm bảo cung cấp chokháng chiến
Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, tháng 7-1948, Đảng chủ trương và chỉ
đạo xây dựng nền văn hóa mới với phương châm dân tộc, khoa học, đại chúng, chútrọng phát triển nền giá dục, y tế kháng chiến, chăm sóc sức khỏe nhân dân
Trang 2Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, ngày 25-1-1948 Chính phủ ký Sắc lệnh
thành lập bộ máy hành chính - kháng chiến ở các liên khu trong cả nước Tháng
7-1949, Chính phủ kháng chiến được cải tổ, mở rộng với sự tham gia của một số nhân
sĩ, trí thức, xây dựng Chính phủ kháng chiến
* Mở các chiến dịch phản công, tiến công (từ năm 1951 đến tháng 5-1953)Tháng 2-1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết địnhtriệu tập Đại hội đại biểu lần thứ hai, tiếp tục hoàn thiện, bổ sung và phát triển
đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Đại hội xác định: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng lãnh đạo Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là “đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược,
giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những tàn tích phong kiến
và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân,gây cơ sở cho chủ nghĩa xã hội”) Lực lượng cách mạng Việt Nam bao gồm giai cấpcông nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức, tư sản dân tộc; ngoài
ra là những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ, trong đó công nông là nền tảng.Lãnh đạo cách mạng Việt Nam là giai cấp công nhân Nông dân là bạn đồng minh
“lớn mạnh và chắc chắn” của giai cấp công nhân Tiểu tư sản là bạn đồng minh cóthể tin cậy Giai cấp tư sản dân tộc là bạn đồng minh có điều kiện Đại hội đã quyếtnghị đưa Đảng ra hoạt động công khai, với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam,thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng Đồng thời, đối vớicác Đảng bộ ở Campuchia và Lào, Đại hội quyết định sẽ tổ chức ở mỗi nước mộtĐảng cách mạng riêng, phù hợp với đặc điểm của từng nước Tại Hội nghị lần thứnhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịchĐảng, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư Đường lối đúng đắn màĐại hội đề ra là cơ sở đưa sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp
Mỹ đi đến thắng lợi Sau chiến thắng ở Biên giới, Trung ương Đảng và Tổng Quân
ủy, Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương phát huy thắng lợi, mở liên tiếp ba chiến dịch tiến
Trang 3công địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ gồm: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (còngọi là chiến dịch Trung Du); chiến dịch Hoàng Hoa Thám (còn gọi là chiến dịchĐường số 18); chiến dịch Quang Trung (còn gọi là chiến dịch Hà Nam Ninh) vàonửa đầu năm 1951 nhưng không đạt được mục tiêu đề ra, bị tổn thất lớn Thực dânPháp thực hiện Kế hoạch Đà Lát, ngày 14-11-1951, tổ chức lực lượng lớn tấn côngchiếm đóng Hòa Bình để giành lại quyền chủ động chiến lược Quyết tâm đánh bạicuộc tấn công Hòa Bình của địch, từ ngày 10-12-1951 đến ngày 25-2-1952, quân ta
mở chiến dịch tiến công Hòa Bình trên cả hai mặt trận chính diện Hòa Bình và mặttrận vùng địch chiếm đóng ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, giành thắng lợi Sauchiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình, Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh quyếtđịnh mở chiến dịch Tây Bắc Thu Đông 1952 (từ ngày 14-10 đến ngày 10-12-1952)
và phối hợp với bộ đội Pathét Lào mở chiến dịch Thượng Lào Xuân Hè 1953 (từngày 12-4 đến ngày 3-5-1953), giành thắng lợi Những thắng lợi đó khẳng định và
mở rộng quyền chủ động chiến lược ra toàn chiến trường Bắc Đông Dương
Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, giành thắnglợi quyết định (từ tháng 5-1953 đến tháng 7-1954) Bị thất bại liên tiếp trên chiếntrường, tháng 5-1953, Chính phủ Pháp cử Tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy độiquân Pháp Đông Dương Nava đã đề ra kế hoạch tổng quát về chính trị, quân sựnhằm đảo ngược tình thế Về quân sự, kế hoạch của Nava xác định: xây dựng khối
cơ động chiến lược để đối phó với các cuộc tiến công của chủ lực tay trong hai năm1953-1954, thực hiện phòng ngự chiến lược ở miền Bắc, tiến công chiến lược ởmiền Nam, tấn công chiếm đóng vùng tự do Liên khu V Khi nắm được ưu thế vềlực lượng cơ động, từ mùa Thu 1954 sẽ tập trung tiến công trên chiến trường Bắc
Bộ, tạo nên một cục diện có lợi để kết thúc chiến tranh Cuối tháng 9-1953, BộChính trị họp bàn về kế hoạch tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954, với phươngchâm tác chiến là: “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt” Nhằm phá kế hoạch củaNava, quân ta mở các cuộc tiến công trên nhiều chiến trường để phân tán khối quân
Trang 4cơ động của Pháp Một đơn vị chủ lực hành quân lên Tây Bắc để tiến công giảiphóng Lai Châu và đánh sang Lào Phát hiện được động thái này, từ ngày 20-11-
1953, Nava điều động quân cơ động nhảy dù xuống chiếm đóng Điện Biên Phủnhằm chốt chặn đường tiến quân lên Lai Châu và sang Lào của bộ đội ta Âm mưucủa Pháp và Mỹ là xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh đểngăn chặn, thu hút và tiêu diệt quân chủ lực của ta Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trịhọp, quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ Trong quá trình chuẩn bị mở chiếndịch, Đảng ủy, Bộ chỉ huy chiến dịch, đứng đầu là đại tướng Võ Nguyên Giáp đãkịp thời thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch từ “đánh nhanh, giải quyếtnhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” để có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng, cáchđánh, đảm bảo hậu cần, chắc thắng Ngày 13-3-1954, bộ đội ta tấn công cụm cứđiểm Him Lam, mở màn chiến dịch Chiến dịch Điện Biên Phủ chia làm ba đợt tácchiến Sau 56 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, khắc phục mọi khó khăn, với nhiều tổnthất, hi sinh, chiều ngày 7-5-1954, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểmĐiện Biên Phủ Kế hoạch Nava thất bại Chiến thắng trong Đông Xuân 1953-1954
và chiến dịch Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của kẻthù, làm thay đổi cục diện chiến tranh Trên mặt trận ngoại giao, chiến dịch ĐiệnBiên Phủ làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương, tạo điều kiện thuậnlợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tạiHội nghị Giơnevơ (Thụy Sĩ) Sau 74 ngày đêm đàm phán, đấu tranh trên bàn hộinghị gay go, phức tạp (từ ngày 8-5 đến ngày 21-7-1954), Hiệp định Giơnevơ vềđình chỉ chiến sự ở Việt Nam và Đông Dương được ký kết Các bên tham dự Hộinghị cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản là: độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Lào, Việt Nam, Campuchia Theo Hiệp định, ViệtNam lấy vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị)làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến.Việt Nam tiến tới thống nhất bằng cuộc tổng tuyển cử tự do trong cả nước, sẽ được
Trang 5tổ chức vào tháng 7-1956 Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến sự, lập lại hòa bình
ở Đông Dương đánh dấu mốc lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam, gópphần thúc đẩy cách mạng Lào và Campuchia, cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc,đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kết thúc bằng chiếndịch Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ, là thắng lợi của chiến tranh nhân dân ViệtNam trong thời đại Hồ Chí Minh Với thắng lợi này, “lần đầu tiên trong lịch sử, mộtnước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh Đó là mộtthắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của cáclực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới”!
2.3 Đảng lãnh đạo kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
2.3.1 Tình hình Việt Nam sau tháng 7-1954 Lợi dụng sự thất bại và khó khăn
của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thànhthuộc địa kiểu mới Ngày 7-7-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướngChính phủ Quốc gia Việt Nam Ngày 17-7-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố khônghiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước Ngày 23-10-1955, Mỹ và chínhquyền miền Nam đã tổ chức cái gọi là “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, đưaNgô Đình Diệm lên làm Tổng thống Trong khi đó, tình hình thế giới có những thayđổi lớn Mỹ thể hiện rõ ý đồ bá chủ thế giới với chiến lược toàn cầu phản cách mạnghết sức thâm độc Hệ thống xã hội chủ nghĩa đã trở thành một lực lượng to lớn làmđối trọng với Mỹ và các thế lực phản động quốc tế Tuy nhiên, nội bộ phong tràocộng sản thế giới bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn; Liên Xô chủ trương hòa hoãn với Mỹ.Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dân tiếp tục diễn ramạnh mẽ 2.3.2 Quá trình hình thành đường lối cách mạng miền Nam Sau Hiệpđịnh Giơnevơ, một bộ phận lớn cán bộ, đảng viên, người yêu nước tập kết ra miềnBắc Đảng kiên trì chủ trương đấu tranh chính trị ở miền Nam đòi đối phương thihành Hiệp định, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước Tuy nhiên, đế
Trang 6quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm chủ trương phá hoại, không thi hành cácquy định của Hiệp định, tiến hành khủng bố, đàn áp điên cuồng những người yêunước, khiến cách mạng miền Nam bị tổn thất nghiêm trọng Trước tình hình đó Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 15 khóa II (1959 đã họp, thảo luận và đề rađường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam với nội dung cơ bản sau: Nghị quyếtHội nghị xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng ở miền Nam là khởinghĩa giành chính quyền về tay nhân dân Nhiệm vụ cách mạng là: “giải phóng miềnNam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc vàngười cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam,xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.Phương pháp cách mạng là dùng bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân, kếthợp đấu tranh chính trị và vũ trang, trong đó, đấu tranh chính trị là chủ yếu Lựclượng cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc, lấyliên minh công - nông làm cơ sở Nghị quyết chủ trương thành lập một mặt trận dântộc thống nhất riêng ở miền Nam, nhằm tập hợp rộng rãi tất cả các lực lượng chống
đế quốc và tay sai Tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng
đã bổ sung, hoàn chỉnh đường lối cách mạng ở miền Nam 2.3.3 Đảng lãnh đạonhân dân kháng chiến giải phóng hoàn toàn miền Nam (1954-1975) + Đảng lãnhđạo đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ (1954-1960) *Đến cuối năm 1959, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng đã đượctruyền đạt đến các địa phương miền Nam Ngày 17-1-1960, phong trào Đồng khởichính thức nổ ra tại huyện Mỏ Cày, Bến Tre, sau đó lan rộng trên toàn miền Nam.Đến cuối 1960, phong trào Đồng khởi đã làm tan rã một bộ phận quan trọng chínhquyền cơ sở của địch ở nông thôn, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lựclượng lên thế tiến công Ngày 20-121960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Namđược thành lập * Đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965) Để đốiphó với sự phát triển của cách mạng miền Nam, đế quốc Mỹ đã đề ra và triển khai
Trang 7chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, lấy việc xây dựng chính quyền, quân đội mạnh vàlập ấp chiến lược là ba trụ cột của chiến lược này Dưới sự lãnh đạo của Trung ươngĐảng, sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục, quân và dân miền Nam đã từngbước xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, kết hợp đấu tranh chính trịvới đấu tranh vũ trang và binh vận trên cả ba vùng chiến lược: đô thị, nông thônđồng bằng và rừng núi, đạt được nhiều kết quả Hậu phương lớn miền Bắc đã dồnsức chi viện về lực lượng và vật chất cho cách mạng miền Nam Các trận đánh ở ẤpBắc (2-1-1963), Bình Giã (12-1964), Ba Gia (5-1965), Đồng Xoài (7-1965) ;phong trào đấu tranh của nhân dân phá ấp chiến lược lan rộng; nội bộ chính quyềnSài Gòn lục đục kéo dài sau cuộc đảo chính được Mỹ bật đèn xanh lật đổ Ngô ĐìnhDiệm, đã làm cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đi đến phá sản sau hơn 4 nămtriển khai Đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) Để cứu vãn cơ
đồ chủ nghĩa thực dân mới có nguy cơ sụp đổ sau hơn 10 năm xây dựng, đến giữanăm 1965, chính quyền My quyết định triển khai chiến lược “Chiến tranh cục bộ”thay cho chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đã thất bại Hàng chục quân chiến đấu
Mỹ, quân Đồng minh của Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam, đóng vai trò tác chiến chủ yếutrên chiến trường, mở các cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-196) nhằm “tìm và diệt” chủ lực Quân giải phóng Quân đội Sài Gòn làm nhiệm vụ
hỗ trợ và bình định Đồng thời, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằngkhông quân và hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam nhằm làm suy yếu miền Bắc
và ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam Trước tình hình
đó, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 11 (3-1965) và lần thứ 12 (12-1965), chủtrương lãnh đạo nhân dân hai miền kiên quyết chiến đấu, kết hợp đấu tranh quân sựvới đấu tranh chính trị, triệt để vận dụng ba mũi giáp công Đó là các chiến thắngNúi Thành (26-5-1965), Vạn Tường (18-8-1965), Playme (11-1965) , đánh bại cáccuộc hành quân càn quét trong hai cuộc phản công chiến lược mùa khô, tiêu hao,tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm thất bại kế hoạch “tìm và diệt”, bình định nhằm
Trang 8giành quyền chủ động trên chiến trường của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn MiềnBắc bước đầu đánh thắng chiến tranh phá hoại, chi viện cho chiến trường ngày càngnhiều và hiệu quả Ngày 28-1-1967, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng quyết định mở mặt trận đấu tranh ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ củaquốc tế, bè bạn, mở ra cục diện vừa đánh, vừa đàm, phát huy sức mạnh tổng hợp đểđánh Mỹ Phát huy thắng lợi trên hiến trường, tháng 1-1968, Hội nghị Trung ươngĐảng lần thứ 14 họp ra Nghị quyết về “tổng công kích, tổng khởi nghĩa”, giànhthắng lợi quyết định Sau một thời gian chuẩn bị khẩn trương, nghi binh, lừa địch,đêm ngày 30 rạng sáng ngày 31-1-1968 (giao thừa Tết Mậu Thân năm 1968), quân
và dân miền Nam đồng loạt nổ súng tổng tiến công và nổi dậy, đánh vào hầu hết các
cơ quan đầu não địch ở trung ương và địa phương, tại các thành phố lớn, hàng chụcthị xã, thị trấn, căn cứ quân sự của Mỹ, từ Đường 9 - Khe Sanh đến đồng bằng sôngCửu Long, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định, Huế Đợt 1 cuộc tổng tiến công và nổidậy đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, làm cho Mỹ, chínhquyền, quân đội Sài Gòn choáng váng Giới cầm quyền Mỹ thừa nhận không thểgiành chiến thắng bằng quân sự Sau đợt 2 (5-1968) và đợt 3 (8-1968), Tổng tiếncông và nổi dậy không đạt kết quả như dự định vì không còn tính bất ngờ, địch tổchức phản kích quyết liệt, gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất về lực lượng, thế trận
và vùng đất đứng chân Song, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 làmột chủ trương táo bạo và sáng tạo của Đảng, đánh thẳng vào ý chí xâm lược củagiới cầm quyền Mỹ, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, đề nghị đàm phán từngày 13-5-1968 tại Pari, tìm giải pháp cho cuộc chiến tranh Việt Nam * Đánh thắngchiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (từ năm 1969 đến tháng 4-1975) Ngày 20-1-
1969, R.Níchxơn lên làm Tổng thống Mỹ, đề ra chiến lược “Việt Nam hóa chiếntranh”, rút quân chiến đấu Mỹ về nước, giao lại vai trò chính trên chiến trường choquân đội Sài Gòn, đẩy mạnh bình định nông thôn; đánh vào hậu phương quốc tế của
Trang 9Việt Nam Công thức của Việt Nam hóa chiến tranh: quân đội Sài Gòn + hỏa lực vàhậu cần kỹ thuật Mỹ
Trước tình hình đó, Đảng kịp thời đề ra chủ trương lãnh đạo nhằm đánh bạimọi âm mưu và hành động chiến tranh của kẻ thù, thể hiện qua các Hội nghị Trungương Đảng lần thứ 18 (1-1970), lần thứ 19 (1-1971) và Hội nghị Bộ Chính trị (5-1971) Dưới lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta từng bước khắc phục khó khăn, khôiphục cơ sở, lực lượng và địa bàn đứng chân, giành được những thắng lợi quan trọng:phối hợp với quân dân Campuchia đánh bại cuộc hành quân của 10 vạn quân Mỹ vàquân Sài Gòn đánh sang Campuchia (5-1970); phối hợp với quân giải phóng Lào
mở chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào (3-1971), đánh bại cuộc hành quânLam Sơn 719 của 42.000 quân Sài Gòn và quân Mỹ Đế quốc Mỹ đối phó bằng cách
“Mỹ hóa” trở lại cuộc chiến tranh ở miền Nam,
Ngày 3031972, quân dân miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược Xuân
-Hè 1972, tập trung vào ba mặt trận: Trị Thiên, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ,giải phóng tỉnh Quảng Trị Đối i phó với cuộc tiến công của ta, chính quyền Mỹquyết định mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai từ đầu 4-1972, thảmìn, thủy lội phong tỏa các cảng, cửa sông ở miền Bắc (5-1972) Cuối tháng 12-
1972, quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không bằng máybay ném bom chiến lược B52 vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương khác,làm nên “một Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải quay trở lại bàn đàm phán.Cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Pari kéo dài suốt 4 năm 8 tháng 20 ngày đãkết thúc vào ngày 27-1-1973 với các bên tham gia việc ký Hiệp định về chấm dứtchiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” Hiệp định Pari đã kết thúc thắng lợi mộtgiai đoạn chiến tranh hết sức quan trọng, quân Mỹ buộc phải rút hết khỏi miền NamViệt Nam Quân và dân ta đã “đánh cho Mỹ cút”, bước tiếp theo là “đánh cho ngụynhào” khi so sánh lực lượng đã có sự thay đổi có lợi cho cách mạng, tiến tới giànhthắng lợi cuối cùng Tháng 7-1973, Hội nghị Trung ương lần thứ 21 đã đề cập đến
Trang 10hai khả năng của cách mạng miền Nam: một là, ta có thể từng bước buộc địch thihành Hiệp định Pari; hai là, ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng để đánh bạiđịch, giành thắng lợi hoàn toàn Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và BộTổng Tư lệnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam; dồn lựclượng, vũ khí, phương tiện chiến đấu vào miền Nam Từ ngày 30-9 đến ngày 8-10-
1974 và từ ngày 26-12 đến ngày 8-1-1975, Bộ Chính trị họp mở rộng bàn về chủtrương giải phóng miền Nam, phê chuẩn kế hoạch 2 năm và kế hoạch thời cơ trongnăm 1975 Trên cơ sở chuẩn bị đầy đủ, cụ thể đảm bảo vật chất - kỹ thuật, kế hoạchtác chiến và nghi binh địch, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mở đầubằng chiến dịch Tây Nguyên, tiến công thị xã Buôn Ma Thuột vào rạng sáng ngày10-3-1975 và giành thắng lợi lớn Trước tình hình đó, nhận thấy so sánh lực lượngbất lợi, Mỹ không can thiệp giúp, chính quyền Sài Gòn quyết định rút khỏi các địabàn còn lại ở Tây Nguyên, co về cố thủ dọc theo các tỉnh ven biển miền Trung.Thời cơ chiến lược xuất hiện, ngày 18-3-1975, Bộ Chính họp và quyết địnhgiải phóng miền Nam trong năm 1975 Phố hợp với chiến trường Tây Nguyên, ngày21-3-1975, chiến dịch Huế và sau đó là chiến dịch Đà Nẵng được tiến hành Căn cứvào diễn biến nhanh chóng trên chiến trường, ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị bổ sungquyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam trước mùa mưa Ngày 26-3, thành phốHuế được giải phóng; ngày 29-3, thành phố Đà Nẵng được giải phóng Ngày 1-4-
1975, Bộ Chính trị quyết định giải phóng miền Nam trong tháng 4-1975 Ngày 4-1975, Bộ Chính trị quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tênChiến dịch Hồ Chí Minh Sau khi giải phóng Xuân Lộc, tất cả lực lượng của ta đãtập trung xung quanh Gòn, chuẩn bị cho trận đánh lớn cuối cùng Ngày 26-4-1975,năm cánh quân của ta từ các hướng đồng loạt tiến công vào Sài Gòn Vào lúc 11 giờ
14-30 ngày 14-30-4-1975, lá cờ chiến thắng đã được cắm trên nóc dinh Độc Lập Toàn bộlực lượng quân sự và bộ máy chính quyền địch ở quân khu III, Quân đoàn III bị tan
rã Chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh toàn thắng Ngày 1 và 2-5-1975,
Trang 11cuộc chiến đấu để giải phóng các vùng đất còn lại ở đồng bằng sông Cửu Long vàcác đảo, quần đảo trên Biển Đông kết thúc thắng lợi Chính quyền và quân đội SàiGòn sụp đổ hoàn toàn, miền Nam được giải phóng Sau 117 năm bị chiếm đóng,dưới sự thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ, đất nước Việt Namsạch bóng quân xâm lược, Nam, Bắc liền một dải, non sông thu về một mối Thắnglợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thành quả vĩ đại nhất của sựnghiệp giải phóng dân tộc; kết thúc cuộc chiến đấu 30 năm giải phóng, giành độclập hoàn toàn cho Tổ quốc, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủnghĩa thực dân trên đất nước ta; mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - kỷnguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch
sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về
sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người và đi vào lịch
sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX”
3 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM3.1 Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới(1954-1986) 3.1.1 Lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1954-1975) *Hoàn cảnh lịch sử - Thuận lợi Thuận lợi lớn nhất của miền Bắc khi đi lên xây dựngchủ nghĩa xã hội là được độc lập, hòa bình, nhân dân thực sự được phát huy quyềnlàm chủ, đoàn kết, hăng hái thực hiện các nhiệm vụ cách mạng dưới sự lãnh đạo củaĐảng Đảng được tôi luyện, trưởng thành trong lãnh đạo kháng chiến Vai trò quản
lý của Nhà nước được nâng cao
Cùng với những thuận lợi trong nước, miền Bắc nhận được sự cổ vũ về tinhthần và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, hiệu quả về vật chất của Liên Xô, Trung Quốc vàcác nước xã hội chủ nghĩa; sự ủng hộ, cổ vũ của các lực lượng dân chủ, yêu chuộnghòa bình trên thế giới - Khó khăn Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa từ xuất phát điểm rất thấp, vớinền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề Cơ sở vật chất - kỹ
Trang 12thuật nghèo nàn Trình độ, năng suất lao động thấp, đội ngũ cán bộ khoa học - kỹthuật vừa ít về số lượng, vừa hạn chế về năng lực và kinh nghiệm điều hành, quản
lý Đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn Miền Bắc tiến hành xây dựng chủnghĩa xã hội trong điều kiện đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, vừa có hòabình, vừa có chiến tranh Bên cạnh đó, tình hình thế giới có phức tạp mới Hệ thống
xã hội chủ nghĩa bộc lộ một số khó khăn, bất đồng, mâu thuẫn Vấn đề lý luận về
mô hình, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội chưa sáng tỏ
* Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa (1954-1975)
- Giai đoạn 1954-1957 Để thực hiện quyền dân chủ cho nhân dân, Đảng tiếptục lãnh đạo tiến hành giảm tô, giảm tức, cải cách ruộng đất ở những nơi trước đâychưa có điều kiện thực hiện do nằm trong vùng địch chiếm đóng Nghị quyết của BộChính trị (9-1954) và Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ươngkhóa II (5-1955) chỉ rõ: “Để củng cố miền Bắc, trước hết cần hoàn thành cải cáchruộng đất ở miền Bắc” Cải cách ruộng đất được tiến hành với 8 đợt giảm tô, 5 đợtcải cách ruộng đất Đến tháng 7-1956, căn bản hoàn thành cải cách ruộng đất ở đồngbằng, trung du và một số xã miền núi; đã chia 334.000 ha ruộng đất cho 2 triệu hộnông dân Giai cấp địa chủ và tàn dư của xã hội phong kiến bị xóa bỏ hoàn toàn.Tuy nhiên, trong quá trình cải cách ruộng đất, Đảng đã phạm sai lầm nghiêm trọng,phổ biến và kéo dài trong chỉ đạo thực hiện, về phương pháp tiến hành và phân địnhthành phần giai cấp Tại Hội nghị lần thứ 10 (9-1956), Đảng đã nghiêm khắc kiểmđiểm những sai lầm, chủ trương sửa sai một cách kiên quyết, khẩn trương, thậntrọng và có kế hoạch chặt chẽ Qua sửa sai, vai trò lãnh đạo của Đảng và chínhquyền được củng cố; sự đoàn kết trong cán bộ, đảng viên được tăng cường; tìnhhình nông thôn từng bước đi vào ổn định Về nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiếntranh, khôi phục kinh tế: Đảng và Nhà nước đã đề ra chủ trương, chính sách phù hợp
để khuyến khích phát triển các ngành kinh tế Sản xuất nông nghiệp được khôi phục
và phát triển nhanh chóng; năm 1957, các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp đều vượt
Trang 13mức năm 1939 (năm có sản lượng cao nhất dưới thời Pháp thuộc) Nạn đói bị đẩylùi, bình quân lương thực hàng năm đạt 390 kg/người Lĩnh vực công nghiệp,thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được đẩy mạnh Đến cuối năm 1957, miền Bắc
có 78 xí nghiệp với 46.430 công nhân; 150.000 cơ sở sản xuất thủ công nghiệp, với430.000 lao động Tỷ trọng hàng tiêu dùng, sản xuất công nghiệp và thủ côngnghiệp tăng từ 8,4% năm 1955 lên 68,6% năm 1957 Giá trị tổng sản lượng côngnghiệp chiếm 10% tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp và bằng mức năm 1939.Nhà nước tập trung đầu tư, khôi phục và phát triển giao thông, vận tải Chỉ sau mộtthời gian ngắn, bốn tuyến đường sắt nối Thủ đô Hà Nội với các tỉnh đã nhanh chóngđược khôi phục, Ngày 28-2-1955, tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - ĐồngĐăng (Lạng Sơn) được khánh thành Ngày 1-1-1956, xe lửa đã chạy đến Lào Cai.Các tuyến đường bộ, đường thủy, đường không chủ yếu của miền Bắc đều đượckhôi phục - Giai đoạn 1958-1960 Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ươngkhóa II (11-1958) đề ra kế hoạch 3 năm (1958-1960), chủ trương cải tạo nôngnghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tự doanh theo chủ nghĩa xãhội Hội nghị lần thứ 16 khóa II (4-1959) thông qua: Nghị quyết về hợp tác hóanông nghiệp và Nghị quyết về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh theo chủnghĩa xã hội Chủ trương của Đảng là đưa nông dân từ làm ăn cá thể, đi dần từ tổđổi công lên hợp tác xã bậc thấp, rồi hợp tác xã bậc cao; đưa thợ thủ công vào hợptác xã thủ công nghiệp: đưa những người buôn bán nhỏ vào hợp tác xã mua bán vàchuyển dần sang sản xuất; “cải tạo hòa bình” đối với giai cấp tự sản Đến năm 1960,100% hộ tư sản công nghiệp và 97,2% hộ tư sản thương nghiệp được cải tạo Sau 3năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế miền Bắc được khôi phục và bước đầuphát triển Lĩnh vực văn hóa - xã hội từng bước ổn định Đời sống vật chất và tinhthần của nhân dân được cải thiện một bước Vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lýcủa Nhà nước ngày càng được củng cố và tăng cường Tuy nhiên, trong quá trìnhcải tạo, Đảng đã mắc phải sai lầm chủ quan, duy ý chí, nóng vội, muốn nhanh chóng
Trang 14xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa mà không tôn trọng quy luậtkhách hoàn cảnh cụ thể của đất nước và tình hình miền Bắc - Giai đoạn 1961-1965
Từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảngđược tổ chức tại Thủ đô Hà Nội Đại hội đề ra chiến lược của cách mạng Việt Namtrong giai đoạn mới là tiến hành đồng thời cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc
và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Đại hội xác định đường lốichung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc: “Đoàn kết toàn dân, phát huytinh thần yêu nước nồng nàn và truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cùcủa nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh
em do Liên Xô đứng đầu để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lênchủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miềnBắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nướcnhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á vàthế giới” Đại hội thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), với nhiệmvụ: “Thực hiện một bước công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng bước đầu cơ
sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời hoàn thành cải tạo xã hội chủnghĩa, làm cho nền kinh tế miền nước ta trở thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa”.Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa (1-1961) nhấn mạnh nhiệm vụquan trọng nhất là củng cố và phát triển hợp tác xã sản xuất nông nghiệp, phát triểnnông nghiệp một cách toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc Hội nghị Trung ương 5khóa III (7-1961) xác định nhiệm vụ và phương hướng chung phát triển nông nghiệptrong kế hoạch 5 năm là phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vànâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân Hội nghị Trung ương 7 khóaIII (6-1962) cụ thể hóa đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, bàn về nhiệm
vụ và phương hướng xây dựng, phát triển công nghiệp trong thời kỳ kế hoạch 5 nămlần thứ nhất Hội nghị Trung ương 10 khóa III (12-1964) bàn về vấn đề thươngnghiệp và giá cả Nhằm khắc phục những yếu kém, tiêu cực nảy sinh trong quá trình
Trang 15xây dựng chủ nghĩa xã hội và để đáp ứng nhiệm vụ của cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa, năm 1963, Trung ương Đảng phát động ba cuộc vận động lớn: cuộc vận độngcải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật trong nông nghiệp; cuộc vận động nângcao tinh thần trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật,chống tham ô, lãng phí, quan liêu (cuộc vận động ba xây, ba chống); cuộc vận độngxây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa miền núi Nhà nước cũng phát động nhiềuphong trào thi đua sôi nổi trong các ngành, các giới, các địa phương, đơn vị
Kết quả thực hiện kế hoạch nhà nước 5 năm (1961-1965): Về lĩnh vực nôngnghiệp, các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp được củng cố; quy mô của nhiều hợptác xã được mở rộng và chuyển lên bậc cao Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp bìnhquân hàng năm tăng 4,1%, cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp ngày càngđược tăng cường Tốc độ phát triển công nghiệp đạt 13,6% bình quân mỗi năm, bảođảm 90% hàng tiêu dùng thông thường cho nhân dân Đến năm 1965, miền Bắc xâydựng được 1.132 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh cùng hàng chục nghìn cơ sở thủcông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, với 650.000 lao động công nghiệp và thủ côngnghiệp, trong đó có 2.615 người có trình độ đại học và trên đại học, 11.600 cán bộ
có trình độ trung cấp Lĩnh vực văn hóa, xã hội và giáo dục cũng đạt được nhiềuthành tựu quan trọng Hầu hết các xã vùng đồng bằng, trung du và nhiều xã ở miềnnúi có trường cấp I, cấp II, huyện có trường phổ thông cấp III Ngành đại học vàtrung học chuyên nghiệp cũng phát triển mạnh Toàn miền Bắc có hơn 4,5 triệungười đi học trên tổng số 16 triệu dân Sức khỏe của nhân dân được chú ý bảo vệ,mạng lưới y tế được xây dựng rộng rãi từ thành thị đến nông thôn - Giai đoạn 1965-
1975 Trước sự thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, từ đầunăm 1965, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân
và hải quân Trong bối cảnh đó, Hội nghị Trung ương 11 khóa III (3-1965) ra Nghịquyết về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt, xác định: miền Bắc phải kịpthời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng
Trang 16cường lực lượng quốc phòng cho phù hợp với tình hình mới Thực hiện chủ trươngcủa Đảng, toàn miền Bắc dấy lên cao trào chống Mỹ, cứu nước, vừa sản xuất vừachiến đấu Mọi hoạt động ở miền Bắc nhanh chóng chuyển hướng sang thời chiến.Các cơ quan, nhà máy, trường học và một bộ phận dân cư khẩn trương phân tán, sơtán khỏi những vùng trọng điểm đánh phá của địch Cả miền Bắc thực hiện chuyểnhướng xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội khẩn trương song vẫn đảm bảo hiệu quả.Đồng thời với quá trình chuyển hướng xây dựng và phát triển kinh tế, quân và dânmiền Bắc đã kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc
Mỹ Từ ngày 7-2-1965 đến ngày 31-10-1968, quân dân miền Bắc đã bắn rơi 3.243máy bay, bắn chìm và cháy 143 chiếc tàu chiến, tàu biệt kích của đế quốc Mỹ, tiêudiệt và bắt sống nhiều giặc lái; đồng thời, bảo đảm giao thông vận tải thông suốt,liên tục, phục vụ sản xuất, chiến đấu và chi viện cho tiền tuyến Bị thất bại nặng nề
ở cả hai miền Nam, Bắc, từ ngày 1-11-1968, đế quốc Mỹ buộc phải xuống thangchiến tranh, chấm dứt đánh phá bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc.Trong điều kiện hòa bình, nhân dân miền Bắc tranh thủ khắc phục hậu quả của cuộcchiến tranh phá hoại, ổn định mọi mặt đời sống, chuyển các hoạt động kinh tế từtrạng thái thời chiến sang thời bình Để cứu vãn nguy cơ phá sản của chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam, từ ngày 6-4-1972, đế quốc Mỹ tiến hànhchiến tranh phá hoại lần thứ hai và phong tỏa đường biển, đường sông đối với miềnBắc Quân và dân miền Bắc đã kiên cường chiến đấu, giành thắng lợi trong 10 ngàyđêm cuối tháng 12-1972, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máybay B52 của đế quốc Mỹ Chiến thắng của quân dân miền Bắc góp phần quan trọngbuộc Mỹ và chính quyền Sài Gòn phải ký kết Hiệp định Pari về chấm dứt chiếntranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973 Trong điều kiện có hòa bìnhtrở lại, nhân dân miền Bắc nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh; khôi phục
và phát triển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và dồn sức chi
Trang 17viện cho cách mạng miền Nam, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.3.1.2 Đảng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước (1975-1986)
* Hoàn cảnh lịch sử
- Thuận lợi
Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở ra một thời
kỳ mới cho cách mạng Việt Nam: Thời kỳ độc lập, thống nhất, cả nước quá độ đilên chủ nghĩa xã hội Ngày 25-4-1976, diễn ra cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hộichung của nước Việt Nam thống nhất, với tỷ lệ cử tri cả nước đi bỏ phiếu đạt98,77% Từ ngày 24-6 đến ngày 3-7-1976, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI họptại Hà Nội, quyết định các vấn đề quan trọng gồm: đổi tên nước là Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam; Quốc kỳ nền đỏ sao vàng; Quốc ca là Tiến quân ca; Thủ đô là
Hà Nội; quyết định thành phố Sài Gòn mang tên Hồ Chí Minh và thành lập Ủy ban
dự thảo Hiến pháp Quốc hội bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước, đồngchí Trường Chinh là Chủ tịch Quốc hội, đồng chí Phạm Văn Đồng làm Thủ tướngChính phủ Sau 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã đạt được nhữngthành quả to lớn, hình thành những trung tâm công nghiệp lớn, cơ sở vật chất - kỹthuật được tăng cường Sau ngày giải phóng, miền Nam đã tiếp quản phần lớn cơ sởvật chất, kỳ thuật của chế độ cũ để lại, gồm chủ yếu là các cơ sở sản xuất , kinhdoanh của tư bản nước ngoài, gồm các kho tàng, bến, bãi Vị thế của Việt Nam trêntrường quốc tế được nâng cao Đến ngày 19-8-1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệngoại giao với 97 nước trên thế giới Ngày 20-9-1977, nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc và thànhviên của hơn 20 tổ chức quốc tế khác - Khó khăn Việt Nam cơ bản vẫn là một nướcnông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, bên cạnh đó, còn phải chịu hậu quả nặng nề củachiến tranh kéo dài và ác liệt: gần 2 triệu người bị chết, gần 2 triệu người bị tàn tật
và ảnh hưởng chất độc hóa học ; gần như toàn bộ các thành phố, thị xã, cơ sở hạtầng, tài nguyên, môi trường bị tàn phá Sau chiến tranh, Mỹ vẫn tiếp tục chính sách
Trang 18thù địch, chống phá Việt Nam, thực hiện cấm vận, lôi kéo các nước bao vây, cắtviện trợ kinh tế cho Việt Nam Các lực lượng phản động trong nước tiến hành nhiềuhoạt động phá hoại, chống đối, bạo loạn nhằm lật đổ Đảng và Nhà nước Việt Nam,kích động và chia rẽ Học viện CTQG Hồ Chí Minh gây hận thù dân tộc Sau chiếntranh, nguồn viện trợ không hoàn lại của quốc tế cho Việt Nam giảm mạnh Từ nửacuối thập niên 70 (thế kỷ XX), các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng trì trệ,khủng hoảng ngày càng trầm trọng * Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trên
cả nước (1975-1986) - Thực hiện chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủnghĩa Từ ngày 14 đến ngày 20-12-1976, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV củaĐảng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội Đại hội đề ra đường lối chung của cách mạng
xã hội chủ nghĩa là: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ củanhân dân lao động; tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệsản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đócách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựngchế độ làm chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xâydựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa Đại hội đề ra kếhoạch Nhà nước 5 năm (1976-1980) và nhiệm vụ cụ thể của miền Bắc là: Tiếp tụchoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam tiến hành cải tạo xã hộichủ nghĩa đồng thời với xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đến cuối năm
1978, miền Nam về cơ bản đã tiến hành xong cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với côngthương nghiệp tư bản tự doanh; đến cuối năm 1979, căn bản hoàn thành việc đưanông dân vào hợp tác xã và tập đoàn sản xuất Thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm(1976-1980), nông nghiệp được Nhà nước đầu tư nhưng trên thực tế, năng suất lúcngày càng giảm Sản lượng lương thực bình quân 5 năm (1976, 1980) của cả nướcchỉ đạt 13,4 triệu tấn Tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân chỉ đạt 0,6% Tổngsản phẩm xã hội tăng 1,4% hàng năm, thu nhập quốc dân tăng 0,4% Nhìn chung,
Trang 19các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm do Đại hội IV đề ra đều không đạt Trong giai đoạn1975-1979, tình hình biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của Tổ quốc diễn biếnngày càng căng thẳng Trước hành động xâm lược trắng trợn của quân Pôn Pốt ởbiên giới Tây Nam và quân Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, quân và dân Việt Nam
đã kiên quyết, kiên cường chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổcủa Tổ quốc Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam và phía Bắc của nhândân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi Từ năm 1979, Việt Nam lâm vào tình trạngkhủng hoảng kinh tế - xã hội Sản xuất trì trệ, năng suất lao động và hiệu quả kinh tếgiảm sút, nhiều mặt bị mất cân đối nghiêm trọng, lưu thông phân phối ách tắc.Lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng khan hiếm trầm trọng Lạm phát tăngnhanh: năm 1976 là 128%, năm 1981 tăng lên 313% Đời sống nhân dân, cán bộviên chức và lực lượng vũ trang ngày càng khó khăn Từng bước khảo nghiệm thựctiễn, tìm đường đổi mới - Trước yêu cầu và đòi hỏi từ thực tiễn đất nước, Đảngkhông ngừng nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm từ các mô hình quản lý sảnxuất, kinh doanh hiệu quả, từng bước đổi mới tư duy tìm con đường đổi mới đấtnước Bước đột phá thứ nhất: Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa
IV (từ ngày 15 đến ngày 23-8-1979) chủ trương: Các chính sách phải thúc đẩy sảnxuất bung ra, khuyến khích mọi người lao động, mọi năng lực sản xuất và các thànhphần kinh tế làm ra nhiều của cải vật chất; chú trọng kế hoạch với thị trường, vậndụng rộng rãi các quan hệ thị trường; duy trì 5 thành phần kinh tế ở miền Nam Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) Đại hội khẳng định tiếp tục thựchiện đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng kinh
tế do Đại hội IV đề ra Đại hội nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng tronggiai đoạn mới là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo
vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đại hội xác định, cả nước đang ở
“chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, với mục tiêu là tạo ra những tiền đề cầnthiết để đẩy mạnh công nghiệp hóa Đại hội điều chỉnh nội dung bước đi của công