1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích quan điểm kinh tế chính trị mác lênin về nguồn gốc và giátrị thặng dư, nêu ý nghĩa thực tiễn

14 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có được giá trị thặng dư mà vẫn tuân thủ các quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hóa, đặc biệt là quy luật giá trị, thì trên thị trường sản xuất hiện phổ biến một loại hàng hóa c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHENIKAA Khoa Khoa Học Cơ Bản

TIỂU LUẬN

Đề Tài: Phân tích quan điểm kinh tế chính trị Mác-LêNin về nguồn gốc và giá

trị thặng dư?Nêu ý nghĩa thực tiễn

Lớp: Kinh tế chính trị Mác-Lênin 11_1.1(14.FS).4_LT

Năm học: 2021-2022

Trang 2

_MỤC LỤC

PHẦN I MỞ ĐẦU 3

PHẦN II NỘI DUNG 4

1.Định nghĩa về giá trị thặng dư 4

2.Nguồn gốc giá trị thặng dư 4

2.1.Công thức chung của tư bản 4

2.2. Hàng hóa sức lao động 5

3 Sự sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản 6

4.Bản chất giá trị thặng dư 8

5.Tỷ suất và khối lượng của giá trị thặng dư 9

6 Ý nghĩa tiễn giá trị thặng dư 10

PHẦN III.KẾT LUẬN 13

Tài liệu tham khảo 14

Trang 3

PHẦN I MỞ ĐẦU

Giá trị thặng dư là mục tiêu của các nhà tư bản, là điều kiện tồn tại và phát triển của tư bản Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hóa theo quy

mô lớn Đó là sự kết hợp của ba quá trình: sản xuất ra giá trị sử dụng, sản xuất

ra giá trị và sản xuất ra giá trị thặng dư – đây là mục đích tuyệt đối hóa của

Tư bản chủ nghĩa Chính vì thế, để đạt được mục đích tối đa của mình, họ đã mua sức lao động của người công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm và thu về giá trị thặng dư Bất kỳ một nền sản xuất nào muốn phát triển được, muốn đáp ứng nhu cầu của con người về điều kiện sống đều phải tái sản xuất, mở rộng và phải tạo ra được sản phẩm thặng dư Bởi mức độ giàu có của xã hội tuỳ thuộc vào khối lượng sản phẩm thặng dư

Xã hội càng phát triển thì sản phẩm thặng dư càng nhiều Song trong mọi xã hội, sản phẩm thặng dư bán trên thị trường đều có giá trị, nhưng chỉ có ở nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì giá trị của sản phẩm thặng dư mới là giá trị thặng dư Từ đó có thể khẳng định sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh

tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Cho nên để nghiên cứu giá trị thặng dư, ta chỉ nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Vậy vấn đề cần đặt ra là giá trị thặng dư là gì? Nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư? Các ý nghĩa thực tiễn của giá trị thặng dư? Đây là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn Việc nghiên cứu nó phải được xuất phát từ các quan điểm đúng đắn của học thuyết Mác và thực tiễn Vì vậy mà nhóm đã chọn đề tài “Phân tích quan điểm kinh

tế chính trị Mác – Lênin về nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư? Nêu ý nghĩa thực tiễn.”

Trang 4

PHẦN II NỘI DUNG 1.Định nghĩa về giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư là mức độ dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, giá trị thặng dư là nguồn gốc hình thành lên thu nhập của các nhà tư bản và các giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản

2.Nguồn gốc giá trị thặng dư

2.1.Công thức chung của tư bản

Nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, do đó có biểu hiện giống như nền kinh tế hàng hóa thông qua sự vận động của các yếu tố cơ bản là hàng hóa và tiền, những hoạt động kinh tế cơ bản là mua và bán, những quan hệ kinh tế cơ bản giữa người mua và người

bán Tuy nhiên nếu như lưu thông hàng hóa biểu hiện qua công thức H T

-H, có mục đích chủ yếu là giá trị sử dụng thì mục đích của lưu thông tư bản

lại là giá trị biểu hiện thông qua công thức T - H - T, và đặc biệt là giá trị thặng dư với tư cách là nguồn làm giàu cho chủ tư bản, do đó công thức chung của lưu thông tư bản phải là T - H - T’ trong đó T’ = T + t, C.Mác gọi

t là giá trị thặng dư

Qua nghiên cứu, Mác đi đến kết luận: “Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông mà cũng không xuất hiện ở ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” Đây chính là mâu thuẫn chung của công thức tư bản

Để có được giá trị thặng dư mà vẫn tuân thủ các quy luật khách quan của nền kinh tế hàng hóa, đặc biệt là quy luật giá trị, thì trên thị trường sản xuất hiện phổ biến một loại hàng hóa có giá trị sử dụng đặc biệt là tạo ra giá trị

Trang 5

mới lớn hơn giá trị của bản thân nó Hàng hóa đó gọi là hàng hóa sức lao động

2.2 Hàng hóa sức lao động

“Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất

và tinh thần tồn tại trong một cơ thể trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” Sức lao động là yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất trong mọi thời đại Để sức lao động trở thành hàng hóa phổ biến theo thực tiễn lịch sử phát triển kinh tế thế giới cần phải có hai điều kiện cơ bản:

 Một là, “người trụ sức lao động ấy có thể bán được nó với tư cách là hàng hóa, thì người đó phải có khả năng chi phối được sức lao động

ấy, do đó, người ấy phải là kể tự do sở hữu năng lực lao động của mình, thân thể của mình” đồng thời “người sử giữ sức lao động bao giờ cũng chỉ bán sức lao động đó trong một thời gian nhất định”

 Hai là, “người chủ sức lao động phải không còn có khả năng bán những hàng hóa trong đó lao động của anh ta được vật hóa, mà trái lại, anh ta buộc phải đem bán, với tư cách là hàng hóa, chính ngay cái sức lao động chỉ tồn tại trong cơ thể sống của anh ta thôi” Ngày nay trong nền kinh tế thị trường hiện đại, sức lao động vẫn là một trong những hàng hóa phổ biến và quan trọng, tuy nhiên những điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa có sự thay đổi lớn Người lao động có thể đem bán sức lao động khi lao động làm thuê có thể mang lại lợi ích cao hơn Hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng “Giá trị của sức lao động cũng như mọi hàng hóa khác được quyết định bởi số thời gian lao động cần thiết để sản xuất, và do đó, để sản xuất ra thứ sản phẩm đặc biệt ấy” Quá trình đó chỉ có thể thực hiện với một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định, vì vậy “thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra sức lao

Trang 6

động sẽ quy thành thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt ấy, hay nói một cách khác giá trị của sức lao động là giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của con người có sức lao động ấy” Giá trị hàng hóa sức lao động không những bao gồm giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động ở mức giản đơn,

mà còn bao gồm những giá trị những tư liệu sinh hoạt cho những người thay thế và chi phí đào tạo, đồng thời chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố tinh thần

và lịch sử

Giá trị sử dụng của sức lao động mà người chủ tiền nhận được khi trao đổi, chỉ thể hiện ra trong quá trình sử dụng thực sự, tức là trong quá trình tiêu dùng sức lao động Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, “quá trình tiêu dùng sức lao động đồng thời cũng là quá trình sản xuất ra hàng hóa và giá trị thặng dư”

3 Sự sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản

Sản xuất giá trị thặng dư trước hết là sản xuất hàng hóa, là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra một giá trị sử dụng với quy cách, phẩm chất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường Tuy nhiên, đó là quá trình kết hợp giữa lao động với tư liệu sản xuất mà nhà tư bản đã mua được, nên có những đặc điểm khác biệt so với sản xuất hàng hóa giản đơn: công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản và sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản Đồng thời đó là quá trình sản xuất giá trị và giá trị thặng dư dựa trên cơ sở của quy luật giá trị

Ví dụ dệt tơ thành lụa

Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa trong sự thống nhất của nó như là quá trình lao động và quá trình tăng thêm giá trị qua ví dụ về sản xuất lụa.

Trang 7

Giả định sản xuất 10kg lụa cần 10 kg tơ và giá 10kg tơ là 10 USD Để biến số tơ đó thành sợi, một công nhân phải lao động trong 6 giờ và hao mòn máy móc là 2 USD; giá trị sức lao động trong một ngày cùa người công nhân

là 3 USD; trong một giờ lao động người công nhân đã tạo một giá trị là 0.5 USD; cuối cùng, ta giả định rằng trong quá trình sản xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết.

Với giả định như vậy, nếu như quá trình lao động kéo dài đến cái điểm

mà ở đó bù đắp được giá trị sức lao động (6 giờ), tức là bằng thời gian lao động cần thiết thì chưa có sản xuất giá trị thặng dư, do đó tiền chưa biến thành tư bản.

Trong thực tế quá trình lao động không dừng lại ở điểm đó Giá trị sức lao động mà nhà tư bản phải trả khi mua và giá trị mà sức lao động có thể tạo ra cho nhà tư bản là hai đại lượng khác nhau mà nhà tư bản đã tính đến điều đó trước khi mua sức lao động Nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động trong ngày Vậy việc sử dụng sức lao động trong ngày đó thuộc về nhà tư bản Chẳng hạn, nhà tư bản bắt công nhân lao động trong 1 giờ 1 ngày thì:

Chi phí sản xuất Giá trị của sản phẩm mới (20kg

lụa)

- Tiền mua tơ là 20 USD

- Hao mòn máy móc là 4 USD

- Tiền mua sức lao động trong một

ngày là 3 USD

- Giá trị của tơ được chuyển vào lụa

là 20 USD

- Giá tị của máy móc được chuyển vào sợi là 20 USD

- Giá trị do lao đọng của công nhân tạo ra 12h lao lao động là 6 USD

Trang 8

Ta thấy rằng, toàn bộ chi phí của nhà tư bản để mua tư liệu sản xuất và sức lao động là 27 USD Trong 12h lao động, công nhân tạo ra một sản phẩm mới (20kg lụa) có giá trị bằng 3 USD, lớn hơn giá trị ứng trước là 3 USD Vậy 27 USD ứng trước thành 30 USD, đã đêm lại một giá trị thặng dư là 3 USD Do đó tiền biến thành tư bản Phần giá trị mới dôi ra so với giá trị sức lao động gọi là giá trị thặng dư.

4.Bản chất giá trị thặng dư

Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi để tạo nên giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất của nhà tư bản thì C.Mác đã chia tư bản thành hai bộ phận tư bản bất biến và tư bản khả biến Như vậy ta muốn cho tư bản khả biến hoạt động thì phải có một tư bản bất biến đã được ứng trước với tỷ lệ tương đương Giá trị của một hàng hóa của một hàng hóa bằng giá trị tư bản bất biến mà nó chứa đựng cộng giá trị của tư bản khả biến:

 Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, từ là giá trị không biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất, ký hiệu là c

 Tư bản khả biến là bộ phận tư bản biểu hiện dưới hình thức giá trị sức lao động trong quá trình sản xuất đã tăng thêm về lượng, kí hiệu

v

Qua sự phân chia tư bản khả biến và tư bản bất biến, ta thấy được bản chất bóc lột của tư bản chủ nghĩa, chỉ có lao động của công nhân làm thuê mới tạo ra giá trị thặng dư của nhà tư bản Tư bản đã bóc lột một phần giá trị

mới do công nhân tạo ra Như vậy giá trị mà tư bản bỏ ra một giá trị c + v

nhưng mà giá trị mà tư bản thu vào là c + v + m và phần là phần dôi ra màm

tư bản bóc lột

Trang 9

Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không những chỉ dừng lại ở mức có giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu được nhiều giá trị thặng dư, do đó cần có thước đo để đo lường giá trị thặng dư về lượng C.Mác đã sử dụng tỷ suất và đối khối lượng giá trị thặng

dư để đo lường giá trị thặng dư

5.Tỷ suất và khối lượng của giá trị thặng dư

Sau khi vạch rõ bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, C.Mác nghiên cứu trình độ và quy mô của sự bóc lột, tức là nghiên cứu tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư

a) Tỷ suất giá trị thặng dư

Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư

và tư bản khả biến tương ứng để sản xuất ra giá trị thặng dư đó

Nếu ký hiệu m' là tỷ suất giá trị thặng dư, thì m’ được xác định bằng công thức:

m' = (m/v)*100%

Tỷ suất giá trị thặng dư chỉ rõ trong tổng số giá trị mới do sức lao động tạo ra, thì công nhân được hưởng bao nhiêu, nhà tư bản chiếm đoạt bao nhiêu

Tỷ suất giá trị thặng dư còn chỉ rõ trong một ngày lao động, phần thời gian lao động thặng dư mà người công nhân làm cho nhà tư bản chiếm bao nhiêu phần trăm so với thời gian lao động tất yếu làm cho mình Do đó, có thể biểu thị tỷ suất giá trị thặng dư theo một công thức khác:

m’=

Tỷ suất giá trị thặng dư nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy mô bóc lột Để phản ánh quy mô bóc lột, C.Mác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư

Ví dụ :1 người lao động làm việc 1 ngày là 8h và 4h là thời gian lao động tất

yếu thì:

Trang 10

m’ = 4/4 x 100% = 100% => Tỷ suất thặng dư là 100%

b) Khối lượng giá trị thặng dư

Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng dư và tổng

tư bản khả biến đã được sử dụng

Nếu ký hiệu là khối lượng giá trị thặng dư thì M được xác định bằngM

công thức:

M= m.V hay M=

Trong đó:

- v: tư bản khả biến đại biểu cho giá trị 1 sức lao động

- V: Tổng tư bản khả biến đại biểu cho giá trị của tổng số sức lao động.

Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng dư càng tăng, vì trình độ bóc lột sức lao động càng tăng

Ví dụ về khối lượng giá trị thặng dư: Một doanh nghiệp thuê 100 công nhân

lương là 200 đô/tháng, tỷ suất khối lượng thặng dư là 150%.

m’ = m/v x 100% = 150/100%/200 = 300$

=> Khối lượng giá trị thặng dư cả năm của doanh nghiệp đó là

M = m’ x V = 300 x 100 x 12 = 360.000$

6.

Ý nghĩa tiễn giá trị thặng dư

Học thuyết về giá trị thặng dư của Các Mác được ra đời trên cơ sở từ việc nghiên cứu, tìm hiểu rõ các phương thức sản xuất của chủ nghĩa tư bản Với việc ra đời học thuyết này đã vạch trần, làm rõ thực chất sự bóc lột tư bản chủ nghĩa, là cội nguồn của việc đối lập kinh tế giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, cơ sở vũ trang của giai cấp vô sản và lý luận cách mạng sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, ý nghĩa thực tiễn mà học thuyết giá trị thặng dư này đem lại không chỉ dừng ở đó Học thuyết này

Trang 11

còn có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng trong hiện nay và đặc biệt đối với quan điểm đổi mới về chủ nghĩa xã hội và cụ thể trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Việc vận dụng các nội dung của học thuyết giá trị thặng dư là một yêu cầu cần thiết và quan trọng nhằm đảm bảo tính phù hợp và khoa học, đồng thời phù hợp với thực tiễn của Việt Nam

Có thể thấy rõ trên học thuyết và thực tế thì giá trị thặng dư là nguồn cấu thành động lực để tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhất là đối với nền sản xuất xã hội Tuy nhiên, vấn đề được quan tâm là giá trị thặng được sản xuất ra này nhằm phục vụ cho ai, cho nhân dân hay xã hội…? Vấn đề này thuộc về ngay từ góc độ nhận thức, do đó, cần quán triệt và làm rõ một số nội dung chính sau:

 Thứ nhất, để có thể tạo ra được giá trị thặng dư thì người công nhân, người lao động phải đạt được một năng suất lao động nhất định phù hợp với một độ

 Thứ hai, phải tập trung nhấn mạnh, coi trọng việc tăng năng suất lao động và trước hết là ở những ngành sản xuất tư liệu sản xuất và những ngành thuộc sản xuất tư liệu sinh hoạt dài ngày lao động nhất định và cường độ lao động nhất định

 Thứ ba, cần nhận thức rõ ràng và đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng của nhân tố vật chất và nhân tố con người trong quá trình sản xuất nhằm tạo ra giá trị thặng dư

Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do nhân công tạo ra và thuộc quyền sở hữu của người chủ vốn Giá trị thặng dư

là nguồn thu nhập cơ bản của các nhà tư bản, là cơ sở của toàn bộ các quan hệ

tư bản chủ nghĩa Vì vậy cho nên giá trị thặng dư là mục đích quyết định của sản xuất tư bản chủ nghĩa

Ngày đăng: 17/06/2022, 00:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu tập huấn giảng viên lý luận chính trị (8/2019), Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Dành cho bậc đại học – không chuyên lý luận chính trị) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn giảng viên lý luận chính trị (8/2019): Kinh tế chính trị Mác - Lênin (Dành cho bậc đại học – không chuyên lý luận chính trị)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2019
[2] khotrithucso.com K. T. T. S.-. (không ngày-a). Triết mác Lí luận giá trị thặng dư của C Mác và ý nghĩa lí luận ý nghĩa thực tiễn của học thuyết giá trị thặng dư đối với nước ta. Truy vấn 8 Tháng Mười 2021, từ https://khotrithucso.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết mác Lí luận giá trị thặng dư của C Mác và ý nghĩa lí luận ý nghĩa thực tiễn của học thuyết giá trị thặng dư đối với nước ta
Tác giả: K. T. T. S.-
Nhà XB: khotrithucso.com
[3] khotrithucso.com K. T. T. S.-. (không ngày-b). Tỷ suất giá trị thặng dư ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Truy vấn 8 Tháng Mười 2021, từ https://khotrithucso.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ suất giá trị thặng dư ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Tác giả: K. T. T. S.-
[5] Mối Quan Hệ Giữa Lợi Nhuận Và Giá Trị Thặng Dư? | Vatgia Hỏi &Đáp. (không ngày). Vatgia.Com. Truy vấn 8 Tháng Mười 2021, từ http://vatgia.com/hoidap/4006/66988/moi-quan-he-giua-loi-nhuan-va-gia-tri-thang-du.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối Quan Hệ Giữa Lợi Nhuận Và Giá Trị Thặng Dư
Nhà XB: Vatgia.Com
[4] Giá trị thặng dư là gì? Ví dụ giá trị thặng dư. (2020, Tháng Mười-Một 24).Luật Hoàng Phi. https://luathoangphi.vn/khai-niem-gia-tri-thang-du-la-gi/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w