1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chứng minh ( bằng minh họa thực tiễn), việc tôn trọngvi phạm một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, đồng thời thể hiện việc tôn trọng vi phạm một hay các nguyên tắc cơ bản khác

4 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 27,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tên Nguyễn Trọng Thành Đề Chứng minh ( bằng minh họa thực tiễn), việc tôn trọngvi phạm một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, đồng thời thể hiện việc tôn trọng vi phạm một hay các nguyên tắc cơ bản khác Bài làm Cũng như trong các nghành luật khác, Luật quốc tế được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của nghành Đó là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính bao trùm, có giá trị bắt buộc chung, là chuẩn mực, cơ sở để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quố.

Trang 1

Tên: Nguyễn Trọng Thành

Đề : Chứng minh ( bằng minh họa thực tiễn), việc tôn trọng/vi phạm một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, đồng thời thể hiện việc tôn trọng/ vi phạm một hay các nguyên tắc cơ bản khác.

Bài làm

Cũng như trong các nghành luật khác, Luật quốc tế được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của nghành Đó là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính bao trùm, có giá trị bắt buộc chung, là chuẩn mực, cơ sở để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có quan hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất theo nghĩa có sự ràng buộc qua lại giữa các nguyên tắc

về nội dung và yêu cầu thực hiện những nội dung đó Qua đó, đã có nhận định cho rằng: “ việc vi phạm một nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, đồng thời thể hiện việc vi phạm một hay các nguyên tắc cơ bản khác”

Để chứng minh nhận định trên, bên cạnh cơ sở lý luận, chúng ta có thể dựa trên thực tiễn thông qua cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam ( 1978- 1979)

Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam là cuộc xung đột quân sự giữa Việt

Nam và Campuchia Dân chủ Cuộc chiến này được khởi phát từ các hoạt động quân sự của quân Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc, sát hại người dân và tàn phá, đốt cháy nhiều làng mạc của Việt Nam trong những năm từ 1975 đến 1978

Cho đến đầu năm 1979, việc đánh đổ Khmer Đỏ hầu như đã được thực hiện xong, tuy nhiên tàn quân Khmer Đỏ vẫn còn tồn tại và đe dọa chính phủ mới tại Campuchia Không những vậy, Khmer Đỏ còn được một số nước lớn và nước láng giềng (gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thái Lan) viện trợ một mặt để giành lại chính quyền, một mặt nhằm chống lại và đánh đuổi Việt Nam Nếu tại thời điểm đó, Việt Nam rút quân sớm, Campuchia sẽ xảy nội chiến

và có thể Khmer Đỏ sẽ trở lại nắm quyền, những nỗ lực trước đó sẽ trở nên uổng phí Vì vậy, yêu cầu bắt buộc đối với Việt Nam là phải cố lập tàn quân Khmer Đỏ, giúp chính quyền mới tại Campuchia tự đứng vững và có giải pháp ngoại giao để quốc tế phải công nhận chính quyền mới tại Campuchia, do đó Việt Nam vẫn duy trì đóng quân ở lại Campuchia trong suốt 10 năm tiếp theo Sau khi Campuchia giải phóng, Việt Nam đã quyết định để bộ đội tình nguyện tiếp tục ở lại Campuchia đề phòng Khmer Đỏ quay lại cướp chính quyền Thủ tướng Campuchia Hun Sen cho biết quân tình nguyện Việt Nam đã đóng vai trò giải phóng Campuchia: “Tôi đã nói với họ (Việt Nam) là nếu họ rút quân và Pol Pot quay trở lại thì nhiều người sẽ bị giết Vào thời điểm đó, các lực lượng của Campuchia không đủ sức chống lại Pol Pot và chúng tôi cần thời gian để củng cố lực lượng và nền kinh tế của mình”

Trong thời kỳ đóng quân tại Campuchia, quân đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp đỡ hàng triệu người dân Campuchia trở về quê cũ, khôi phục sản xuất, làm lại nhà cửa, trường học, chùa chiền Nhân dân Campuchia đã dấy lên một cao trào quần chúng hồi sinh từng người, từng gia đình, từng thôn ấp và hồi sinh toàn dân tộc Quân đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp những người dân này sửa lại nhà, ai không còn nhà thì dựng lại nhà, làm sạch giếng cho người dân Campuchia uống, cung cấp lương thực cho người dân Campuchia, khôi phục và sửa chữa lại trường học Lực lượng ngành y của Việt Nam đi cùng bộ đội thời bấy giờ cũng

Trang 2

tăng cường các hoạt động y tế, chữa bệnh cho người dân Campuchia Dần dần cơ sở hạ tầng, chất lượng trường lớp, làng mạc, bệnh viên, trường học… đã được khôi phục trở lại

Trong quá trình hoạt động khôi phục tại Campuchia, Việt Nam đã chủ trương chỉ đạo hành động theo từng giai đoạn Theo đó, giai đoạn đầu do người dân Campuchia chưa có gì, Việt Nam sẽ thực hiện “Việt Nam làm giúp Campuchia” - nghĩa là đánh giặc cũng Việt Nam, giúp dân sản xuất cũng Việt Nam, xây dựng chính quyền cũng Việt Nam (bởi khi đó chính quyền của Campuchia đã bị Khmer Đỏ phá hủy) Khi người dân Campuchia đã có cơ sở, Việt Nam chuyển sang khẩu hiệu “Ta, bạn cùng làm” Giai đoạn ba là “Bạn làm ta giúp” - nghĩa là khi người dân Campuchia đã đủ khả năng, người dân Campuchia yêu cầu tới đâu Việt Nam giúp tới đó Cuối cùng, khi người dân Campuchia thực sự lớn mạnh thì Việt Nam

sẽ rút toàn bộ quân tình nguyện về nước, để người dân Campuchia tự đảm đương mọi công việc trong nước

Xét về mặt hình thức thì lực lượng vũ trang Việt Nam nói riêng và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói chung đã vi phạm nguyên tắc “ không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau” và nguyên tắc “ đe cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng vũ lực” trong Luật quốc tế Tuy nhiên nếu nghiên cứu kỹ về những động thái quân sự và những việc mà lực lượng vũ trang Việt Nam đã làm từ khi tiến vào cho đến khi rút quân khỏi lãnh thổ Vương Quốc Campuchia ta có thể thấy quân đội và nhà nước Việt Nam đã linh hoạt trong tình huống nguy cấp cụ thể của đất nước nói riêng và khu vực nói chung để bảo vệ lãnh thổ nước mình

và an toàn, an ninh quốc gia láng giềng, khu vực

Cụ thể, khi được Việt Nam hậu thuẫn, ngày 8/ 1/1979 Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập Đứng đầu cầm quyền là Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia Với sự non yếu do tổ chức này mới được thành lập, chưa đủ sức mạnh bảo vệ chính phủ mới khỏi trước sức mạnh quân

sự của Khmer Đỏ, đã biến hành động của Việt Nam trên địa bàn Campuchia trở thành lý do làm cho Việt Nam bị cấm vận thông qua cuộc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc vào năm 1985 Trong đó, chỉ có Lào, Syria, Ba Lan, Mông Cổ, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, Liên Xô, Samoa, Nicaragua, Cuba, Tiệp Khắc… và một số nước khác bỏ phiếu phản đối cấm vận Việt Nam, còn lại , tất cả đều đồng ý cấm vận Việt Nam.Tổng cộng có 124 phiếu thuận, 17 phiếu chống và kết quả Việt Nam lâm vào tình cảnh bị cấm vận, thiếu thốn

Từ năm 1979 đến giữa năm 1985, quân đội Việt Nam triển khai thực hiện các chiến dịch quân sự truy quét đánh phá các căn cứ của Khmer Đỏ Tháng 1 năm 1980, chiến dịch quân

sự nhằm vào Khmer Đỏ tại Phnom Chhat bắt đầu và lan sang cả lãnh thổ Thái Lan.Bởi vì, tại thời điểm này, Khmer Đỏ bắt đầu tái xâm nhập Campuchia từ Thái Lan với khoảng 3-4 ngàn quân Khi mùa mưa tới, Khmer Đỏ đã tái tổ chức lực lượng, chỉ huy và huấn luyện, bắt đầu các cuộc giao tranh quy mô nhỏ như đánh du kích, phục kích, pháo kích quấy rối

Năm 1982, trong một chiến dịch dữ dội nhất kể từ khi quân Việt Nam tiến vào lật đổ Khmer

Đỏ, sư đoàn 7 Việt Nam đánh vào trại Sokh San của Mặt trận Nhân dân Giải phóng Quốc gia Campuchia, buộc họ phải bỏ chạy vào Thái Lan Tới tháng 7 năm 1982, Việt Nam tuyên

bố sẽ rút quân từng phần khỏi Campuchia đơn phương và vô điều kiện Ngay lập tức, các lực lượng đối lập tăng cường các hoạt động quân sự Quân Khmer Đỏ tăng cường hoạt động vũ

Trang 3

trang tại các tỉnh Kampot, Takeo, Kampong Cham và Kampong Thom Tuy nhiên, với sự yếu ớt của quân đội chính phủ Phom Penh, họ không thể chống đỡ được sự trỗi dậy của Khmer Đỏ Tình hình quân sự tại Campuchia trong năm 1983 ngày càng trở nên xấu đi, buộc Việt Nam phải ngừng việc rút quân khỏi Campuchia

Tương quan lực lượng năm 1984 là Việt Nam có khoảng 180 ngàn quân tại Campuchia, cùng với khoảng 17 ngàn quân của Mặt trận Nhân dân Giải phóng Quốc gia Campuchia, so với khoảng 30-50 ngàn quân Khmer Đỏ và khoảng 5 ngàn quân thuộc lực lượng Sihanouk Tới mùa khô năm 1984 - 1985, Việt Nam huy động khoảng 60 ngàn quân cho chiến dịch tấn công quyết định nhằm triệt hạ các căn cứ của Khmer Đỏ nằm gần Thái Lan, cùng với hàng chục ngàn dân công Campuchia xây đường và mở rộng các sân bay dã chiến tại khu vực biên giới Cuối tháng 12 năm 1984, khoảng 1.000 quân Việt Nam đánh hạ căn cứ Nong Samet

Tháng 1 năm 1985, khoảng 4.000 quân Việt Nam, với hơn 30 xe tăng và xe bọc thép hỗ trợ, đánh vào căn cứ Ampil của lực lượng Mặt trận Nhân dân Giải phóng Quốc gia

Campuchia với 5.000 quân phòng ngự và triệt hạ hoàn toàn căn cứ này sau 36 giờ Quân Việt Nam và quân chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia cũng mở chiến dịch tấn công căn cứ lớn có gần 10.000 quân Khmer Đỏ đóng giữ tại Phnom Malai, nơi mà họ từng định đánh chiếm năm 1982 nhưng bất thành, và đã triệt hạ căn cứ này sau 2 ngày giao tranh Chiến dịch mùa khô năm 1984-1985 là chiến dịch lớn chưa từng có của Việt Nam kể cả về quy mô, thời gian và mức độ thành công

Sau các chiến dịch 1984-1985 của Việt Nam, lực lượng đối lập bị nhiều tổn thất Liên quân Mặt trận Nhân dân Giải phóng Quốc gia Campuchia và Khmer Đỏ ước tính đã bị mất

khoảng 1/3 lực lượng do thương vong và đào ngũ Liên minh này mất toàn bộ các căn cứ trên đất Campuchia, trong đó có thủ đô lâm thời đặt tại một ngôi làng có tên Phum Thmei trong rừng sát biên giới Thái Lan Khmer Đỏ buộc phải rút một phần về Thái Lan, một phần chia nhỏ và ẩn trong nội địa Hai phe Sihanouk và Son Sann rút hẳn vào trong lãnh thổ Thái Lan Chiến dịch truy quét quy mô lớn kéo dài 5 tháng của Việt Nam đã chấm dứt hy vọng lật ngược tình thế của Khmer Đỏ và Mặt trận Nhân dân Giải phóng Quốc gia Campuchia

Kể từ cuối năm 1985, các lực lượng này về cơ bản không thể là mối đe dọa lớn đối với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia được nữa

Ngày 16 tháng 8 năm 1985, thông cáo của cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ba nước Đông Dương tại Phnom Penh tuyên bố Việt Nam sẽ rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia và đến

1990 thì quá trình rút quân này được hoàn thành

Tháng 6 năm 1988, trên cơ sở trưởng thành của quân đội Campuchia cùng với sự thỏa thuận của giữa Việt Nam và Campuchia, Việt Nam đã rút toàn bộ chuyên gia dân sự và đến ngày

26 tháng 9 năm 1989, Việt Nam rút toàn bộ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam về nước Sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút hết, lúc đầu phía Campuchia có lúng túng trước các hoạt động giành dân, chiếm đất của Khmer Đỏ và đồng minh nhưng dần dần Campuchia đã vươn lên làm chủ tình hình, kiểm soát trên 90% lãnh thổ

Dựa trên những hành động tích cực của lực lượng vũ trang Việt Nam trên lãnh thổ

Camphuchia đã nêu trên cùng với “nhận thức của các tổ chức quốc tế” tại thời điểm bấy

giờ, có thể thấy được Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng đồng thời 2 nguyên tắc “không can

Trang 4

thiệp vào công việc nội bộ của nhau” và nguyên tắc “ đe cấm đe dọa dùng vũ lực hay dùng

vũ lực” trong Luật quốc tế Và từ những bằng chứng phân tích nói trên có thể khẳng định 7 nguyên tắc của luật quốc tế là một chỉnh thế thống nhất chặt chẽ không thể tách rời, khi một hành vi hoặc chuỗi hành vi của một quốc gia, một tổ chức hay một chủ thể vi phạm đến 1 trong 7 nguyên tắc thì hành vi hoặc chuỗi hành vi đó chắc chắn sẽ có liên quan dinh líu đến các nguyên tắc còn lại và thường theo chiều hướng thuận Ví dụ như một hành vi vi phạm đến 1 nguyên tắc họạt động thì thường vi phạm tiếp một trong số các nguyên tắc còn lại ( số

ít trường hợp sẽ tôn trọng các nguyên tắc hoạt động của luật kinh tế) nhưng thường hiếm hoặc rất hiếm xảy ra

Tóm lại, thông qua những phân tích, lập luận về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và những vi phạm về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế thì có thể chứng minh được “việc tôn trọng/vi phạm một nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, đồng thời thể hiện việc tôn trọng/

vi phạm một hay các nguyên tắc cơ bản khác” là 1 nhận định đúng Các nguyên tắc cơ bản trong Luật quốc tế là những yếu tố tiên quyết bao trùm và có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ, không thể tách rời với nhau để cấu thành tội phạm khi vi phạm một nguyên tắc sẽ đồng thời

vi phạm thêm một hay nhiều nguyên tắc khác còn lại Qua đó, khi tham gia vào quan hệ quốc tế với tư cách là 1 chủ thể quốc tế cần tôn trọng, tuân thủ, thực hiện đúng và đầy đủ theo những gì luật pháp quốc tế quy định, cho phép Trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, cần ưu tiên biện pháp đàm phán, ngoại giao song phương trên cơ sở hòa bình để giải quyết mâu thuẫn, vừa tránh được gia tăng căng thẳng giữa các quốc gia, hạn chế được những hậu quả nhất định có thể xảy ra từ xung đột, chiến tranh, vừa đảm bảo an ninh khu vực, thế giới nói chung và sự độc lập, an toàn của chủ thể nói riêng

Ngày đăng: 16/06/2022, 22:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w