1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chuyên đề triết quan điểm nhân sinh quan trong triết học phật giáo

8 24 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 26,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích những ưu điểm và nhược điểm trong quan điểm về nhân sinh quan trong triết học phật giáo và ý nghĩa của nó đối với đời sống văn hóa Việt Nam hiện nay. Phân tích những ưu điểm và nhược điểm trong quan điểm về nhân sinh quan trong triết học phật giáo và ý nghĩa của nó đối với đời sống văn hóa Việt Nam hiện nay

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, trước những biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, tôn giáo ở Việt Nam đang có những biến động phức tạp theo nhiều chiều hướng Vì vậy, nhiều vấn đề được đặt ra cho toàn xã hội, nhất là xung quanh việc nhìn nhận và đánh giá những ảnh hưởng của tôn giáo đến lĩnh vực tinh thần của xã hội Việt Nam trong thời điểm hiện tại và tương lai như vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo với chính trị hay rộng lớn hơn là ảnh hưởng của tôn giáo với văn hoá

Trong đó, Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn du nhập vào Việt Nam rất sớm, khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển ở Việt nam Phật giáo đã có những đóng góp nhất định cho dân tộc, đặc biệt trên lĩnh vực đời sống văn hóa, tinh thần Nhiều chuẩn mực, quy phạm, giáo luật đã được cụ thể hóa thành những hoạt động hữu ích thiết thực, trên cơ sở lựa chọn những điều phù hợp, tích cực để phát huy và hạn chế những điều không phù hợp, đã góp phần hình thành những giá trị, chuẩn mực trong đời sống của người dân Việt Nam theo thời gian Có thể nói, với sự tồn tại cùng dân tộc qua hơn hai ngàn năm thì hiện nay Phật giáo trở thành một phần không thể thiếu trong nên văn hóa Việt nam

Trong quá trình xây dựng đạo cần kế thừa để xây dựng đạo đức, đời sống mới xã hội chú nghĩa thì việc kế thừa những giá trị trong đời sống truyền thống của dân tộc, trong đó có những đóng góp của các tôn giáo là điều không thể bỏ qua Ở đây, đọa đức đời sống Phật giáo hiện vẫn có những giá trị cần tiếp thu

Vì vậy, em làm chuyên đề này vối mục đích:

-Phân tích những giá trị tích cực và hạn chế trong quan điểm về nhân sinh quan của triết học phật giáo

-Ảnh hưởng của nó đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiện nay

-Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề trên đối với bản thân

NỘI DUNG I.Tổng quan về phật giáo

1 Thái tử Tất Đạt Đa

Người sáng lập ra Phật giáo là Hoàng tử Tất Đạt Đa - con vua Tịnh Phạn

Ông sinh năm 563 mất năm 483 trớc công nguyên ở Ấn Độ Sau khi tu hành

đắc đạo có danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Tương truyền, Hoàng tử Tất Đạt Đa từ khi sinh ra đã được vua cha hết đối chiều chuộng, “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa” Hoàng tử vốn là con độc nhất, được sống trong nhung lụa, được

Trang 2

chăm sóc, giáo dục đầy đủ, toàn diện Chẳng bao lâu Hoàng tử đã trở thành

ngời văn võ song toàn Hoàng tử được vua cha cưới vợ năm 17 tuổi, về sau có một người con trai tên là La Hầu La Vua không muốn cho Hoàng tử phải

chứng kiến quy luật của cuộc sống là sinh- lão-bệnh - tử Mặc dù vậy, sau

những lần dạo chơi ở cổng thành Hoàng tử đã chứng kiến nỗi khổ của người

dân trong xã hội Ấn cổ đại lúc bấy giờ, vốn có sự phân chia đẳng cấp nghiệt ngã Hoàng tử lại là ngời có tấm lòng từ bi, bác ái vô hạn sống gần gũi với con người đầy tình người và trí tuệ

Cái tâm đức Phật là từ bi

Còn trong Thái từ thời kỳ

Xem người cày rộng mới đi ra ngoài

Thấy cò cứ mổ sâu hoài

Động lòng thương sót mọi loài chúng sinh

(từ bi) Chứng kiến đời sống khổ cực và bất lực của con người trong xã hội đường thời, đã khiến hoàng tử Tất Đạt Đa có ý định từ bỏ cuộc sống giàu sang để đi tìm đạo lý cứu đời Năm 29 tuổi, nhân lúc vua cha, vowjj con đang ngủ say, Tất Đạt Đa rời bỏ hoàng cung ra đi trở thành người tu tập thiền định và bắt đầu cuộc sống khổ hạnh Qua một thời gia học đạo, người nhận thấy, cuộc sống giàu sang về vật chất, thỏa mãn dục vọng và cả cuộc sống tu hành khổ hạnh ép xác đều là con đường sai lầm Người cho răng, cuộc sống dù giàu sang đến đâu cũng chỉ là tầm thườn, còn cuộc đời tu hành khổ hạnh thì tăm tối, mà chỉ có con đường tu dạo mối là con đường đúng đắn Người nói: “ta tu khổ hạnh mà như thế này, mà không thấy rõ đạo thì cái

tu của ta vẫn chưa phải Ta nên theo con đường giữa, cứ ăn uống bình thường, không say mê việc đời nào vẫn không khắc khổ hại thân rồi mới thành đạo được Sau khi tự mình đào sâu suy nghĩ tìm con đờng giác ngộ chân lý mới, Tất Đạt Đa quyết định từ bỏ cuộc sống tu hành khổ hạnh để đi vào tư duy trí tuệ Qua nhiều lần tu tập, sau 49 ngày ngồi thiền định dới gốc cây Bồ đề, với những suy nghĩ sâu thẳm, Người đã giác ngộ độc chân lý Tất Đạt Đa đã lý giải được nguồn gốc nỗi khổ của con người, cũng như phơng pháp giải thoát diệt khổ Là một tôn giáo, Phật

Trang 3

giáo ra đời nhằm xoa dịu nỗi khổ của con người, trong xã hội có sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của xã hội Ấn Độ cổ đại

Sinh thời, Đức Phật không viết sách, mà chỉ thuyết giảng cho các học trò của mình bằng lời nói Sau khi Đức Phật niết bàn, các đệ tử đã tập hợp, phát triển tư tưởng của người để xây dựng một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh (Kinh, luận và luận tạng) về sau Phật giáo chia thành Tiêu thừa và Đại thừavới nhiều tông phái khác nhau, du nhập và phát triển ra nhiều nước trên thế giới Dù đã trải qua thăng trầm hơn 2500 năm với nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau nhng Phật giáo, mà trước hết là triết lý nhân sinh của nó giàu lòng vị tha, thương người rất gần gũi với con người và mang nặng tính nhân sinh hơn các tôn giáo khác

Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm về nhận thức luận, thế

giới quan và nhân sinh quan có kết cấu chặt chẽ Mỗi yếu tố chứa đựng những nội dung với chức năng riêng là tiền đề và hệ quả của nhau Nhân sinh quan

Phật giáo đợc bắt nguồn từ thế giới quan Tuy nhiên, mục đích chủ yếu của

Phật giáo là thoát khổ, là giải phóng con người, mang giá trị nhân sinh sâu sắc Bùi Biên Hoà (1996) Đạo Phật và thế gian, Nxb Hà Nội Tr42

2.Thế giới quan

Thế giới quan phật giáo là một thế giới quan có nhiều yếu tố suy vật và biện

chứng hưng về cơ bản triết học phật giáo vẫn lad triết học duy tâm chủ quan

Đặc điểm:

+ Thế giới là vô tạo giả: Đây là nét độc đáo của Phật giáo, không thừa nhận tồn tại Brahman sáng tạo ra thế giới và Atman – linh hồn bất tử Phật giáo cho rằng thế giới tồn tại khách quan không phụ thuộc vào thần thánh, không do thần thánh sáng tạo ra, mặc dù Đạo Phật thừa nhận có thần tiên là đẳng cấp cao hơn con người, nhưng thần tiên lại không có vai trò đặc biệt, không sáng tạo thế giới Theo Phật giáo, mọi sự vật hiện tượng đều có nguyên nhân của nó nhưng không có gì xác định được nguyên nhân của mọi nguyên nhân, tức không thể tìm ra một nguyên nhân đầu tiên (nghĩa là không có một Đấng tối cao nào sáng tạo ra vũ trụ)

Phật giáo thừa nhận thế giới tồn tại cả vật chất và tinh thần: Thế giới do các yếu tố vật chất và tinh thần kết hợp với nhau tạo nên Vật chất gồm sắc là những yếu tố có hình thù như địa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa), phong (gió) và không là những yếu

Trang 4

tố không có hình thù Các yếu tố tinh thần gọi là danh gồm thụ (cảm giác), tưởng (suy nghĩ, tư tưởng), hành (suy lí), thức (ý thức) Tính biện chứng sâu sắc của triết học Phật giáo đặc biệt thể hiện rõ qua việc luận chứng về tính chất vô ngã và vô thường của vạn vật

+ Thuyết vô thường

Vô thường có nghĩa là không có ổn định, bất biến, Phật giáo cho rằng thế giới không có gì là vĩnh hằng mà thế giới là một dòng chuyển biến liên tục, tuyệt đối Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, và con người Thế giới biến đổi không ngừng, sự biến đổi diễn ra trong khoảnh khắc gọi là niệm vô thường và sự biến đổi diễn ra theo những chu kì nhất định gọi là nhất kì vô thường, mỗi chu kì có 4 giai đoạn, ở thế giới vật thể nói chung là sinh, trụ, dị, diệt và ở thế giới sinh vật nói riêng là sinh, lão, bệnh, tử

Thuyết vô thường là một trong những thuyết cơ bản trong giáo lý Phật, là cơ sở của lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của những con người tu dưỡng theo giáo lý phật

Phật giáo trong quá trình giải thích sự biến hoá vô thường của vạn vật, đã xây dựng nên thuyết nhân duyên Nhân duyên là tư tưởng, giáo lý cơ thể hiện quan điểm của Phật giáo đối với đời người, với tồn tại và sinh mệnh, là cơ sở triết học của giáo thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng của Phật giáo, như nhân quả, không hữu, trung đạo, bình đẳng, từ bi, giải thoát vv Nó là một luận thuyết tương đối hợp lý về sự sinh thành diễn biến và về bộ mặt vốn có của thế giới; là thế giới quan độc đáo của Phật giáo và là đặc trưng cơ bản để phân biệt Đạo Phật với các tôn giáo khác

Trong thuyết nhân duyên có ba khái niệm chủ yếu là Nhân Quả và Duyên

- Cái gì phát động ra ở vật gây ra một hay nhiều kết quả nào đó, được gọi là Nhân (nguyên nhân)

- Cái gì tập lại từ Nhân được gọi là Quả

- Duyên: là điều kiện, mối liên hệ, giúp Nhân tạo ra Quả Duyên không phải là một cái gì đó cụ thể, xác định mà nó là sự tương hợp, điều kiện để giúp cho sự biến chuyển của vạn Pháp

Phật giáo dùng thuyết nhân duyên để giải thích nguồn gốc của tất cả các sự vật, hiện tượng Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân Nhân kết hợp với duyên thì sinh ra quả Quả lại kết hợp với duyên lại biến thành nhân và sinh ra quả

Trang 5

khác Như vậy mối quan hệ nhân duyên bao trùm toàn bộ thế giới, thế giới đa dạng, phong phú, nhiều hình và cũng chỉ là một dòng biển hóa hư ảo vô cùng không có gì là thường định, là thực và là không thực Tất cả đều nằm trong một dòng sinh diệt bất tận Ở quan điểm này cho thấy một hạn chế của Phật giáo là chỉ thấy sự vận động, tuyện đối hóa sự vận động mà không nhìn thấy sự đứng yên tương đối

+ Thuyết vô ngã: phủ nhận sự tồn tại vĩnh viễn của linh hồn cá thể, phủ nhận sự tồn tại thực sự của con người, coi sự tồn tại của con người chỉ là giá hợp của các yếu tố danh và sắc Vì vậy không có cái tôi thường định, cái tôi hôm nay khác cái tối hôm qua và cải tối ngày mai Con người chỉ là sự hội tụ tạm thời giây lát của các yếu tố vật chất và tinh thần rồi lại tan ra trong dòng chảy biến hóa tan hợp hợp tan một cách vô tận

3.Nhân sinh quan

- Nhân sinh quan Phật giáo:

+ Triết lý nhân sinh và con đường giải thoát: Con người không phải do Thượng đế sinh ra mà chỉ là sự kết hợp của ngũ uẩn bao gồm sắc (vật chất đất, nước, lửa, gió)

và danh (tinh thần: hành, tưởng, thụ, thức)

Thuyết luân hồi, nghiệp bảo: Phật giáo tuy bác bỏ Brahman và atman nhưng lại kế thừa thuyết luân hồi, nghiệp báo trong đạo Balamôn Con người sau khi chết sẽ chịu sự luân hồi qua sáu kiếp địa ngục, ác quỷ, attula, súc vật, người, thần tiên Muốn chuyên nghiệp thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử con người sẽ phải tu luyện,

tu hành, tu nhân tích đức Cái chi phối luân hồi là nghiệp lực (ý nghiệp, khẩu nghiệp, thân nghiệp) tức là hành vi, suy nghĩ của con người gây ra ở kiếp trước quy định kiếp sau là gì, từ đó Phật giáo đưa ra con đường giải thoát luân hồi sinh tử + Tứ diệu đế: là bốn chân lí cao cả về sự đau khổ của con người và con đường giải thoát Đó là:

1/ Khổ đế: Quan niệm của Phật giáo về những nỗi khổ của cuộc đời Theo Phật giáo, đời là bể khổ Ở đời có vạn sự khổ, vạn sự có thể biến thành cái khổ mà khái quát lại có tám cái khổ phổ biến là: sinh khô, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, đi biệt ly khô, bản tăng hội khô, sở cầu bất đắc khổ, ngũ uẩn khổ

- Sinh khô: Sự sinh sống của con người khổ (khổ trong lúc sanh và khổ trong đời sống)

Trang 6

- Lão khổ Con người đến lúc già, thân thể hao mòn, suy kém, trí huệ lu mờ, khô ca thể xác lẫn tinh thần

- Bệnh khổ: Hành hạ xác thân con người, làm cho nó khổ sở, không gì hơn là đau bệnh

- Tử khổ: Khổ của sự chết Con người sợ nhất là cái chết vì phải xa lìa vĩnh viễn tất cả bà con, của cải

- Ái biệt ly khổ: Khổ của sự chia ly với những gì thân yêu

- Oán tăng hội khổ: Đây là cái khổ gây ra do sự thù ghét, hiềm khích nhau mà cứ phải gần gũi, chung đụng

- Sở cầu bất đắc khổ: Khổ của sự mong cầu, hy vọng mà không toại nguyện

- Ngũ uẩn thủ khổ: Nỗi khổ của sự tồn tại của con người Khổ do sự bám víu, ái nhiễm của ngũ uẩn

2/ Tập đế (còn gọi là Nhân đế): Những nguyên nhân gây ra nỗi khổ của con người Phật giáo xác định 12 nguyên nhân của cái khổ vô minh (ngu tối), hành (suy nghĩ dẫn tới hành động), thức (hành động tác động đến ý thức), danh sắc, lục nhập (6 giác quan của con người), xúc (tiếp xúc), thụ (cảm thụ), ải (yêu thích), thủ (chiếm đoạt), hữu (sở hữu), sinh (xuất hiện), lão (giả) và tử (chết) Phật giáo nói đau khổ là

vô tận (nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển), chết vẫn chưa hết khổ vì kiếp luân hồi

3/ Diệt đế: Khả năng của con người về tiêu diệt những nguyên nhân gây ra nỗi khổ hay nói khác đi là trạng thái của con người sau khi diệt trừ được nổi khổ Theo Phật giáo, ta có thể tiêu diệt được khô do đã biết được nguyên nhân dẫn đến khổ;

có thể đoạn hết kiếp nghiệp, thoát khỏi vòng sinh tử và đến được cõi Niết bàn 4/ Đạo để Chiều hướng và những việc con người phải làm để đạt đến trạng thải Niết bàn Phật giáo đưa ra bát chính đạo (8 con đường đúng đắn để diệt khô):

- Chính kiến thấy, xem xét sự vật một cách đúng đắn Chính kiến cũng có nghĩa là hiểu biết đúng đắn

- Chính tư duy suy nghĩ đúng đắn

- Chính ngữ: lời nói đúng đắn (không nói dối, không nói lời ác, không nói chia rẽ, phải nói lời có ích, nói đúng chỗ, đúng lúc)

- Chính nghiệp: hành vi đúng, ứng xử đúng, làm điều thiện

Trang 7

- Chính mệnh: sinh sống lương thiện, tiết chế dục vọng và giữ giới luật

- Chính tỉnh tiến: cố gắng, nỗ lực phấn đấu một cách đúng đắn, siêng năng học tập,

tu luyện, tìm kiếm và truyền bá chân lí của Đức Phật

- Chính niệm: thường xuyên tâm niệm chính pháp, nhớ Phật, niệm Phật

- Chính định: tập trung tư tưởng cao độ để suy nghĩ về tứ đế, về vô ngã, vô thường

để kiên định theo con đường chân chính của Đức Phật

Tám con đường này được gộp lại thành 3 điều: Giới gồm chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, Định gồm chính tình tiến, chính niệm, chính định; Tuệ gồm chính kiến, chỉnh tư duy Muốn thực hiện được Bát chính đạo thì phải có phương pháp để thực hiện nhằm ngăn ngừa những điều gian ác gây thiệt hại cho mình và khuyến khích những người làm điều thiện có lợi ích cho mình và cho người Nội dung của các phương pháp đó là thực hiện Ngũ giới (Năm điều răn) và Lục độ (Sáu phép tu) Ngũ giới gồm:

-Bất sát: Không sát sinh, không được ăn các loại thịt như: thịt người, thị hồ, thịt báo, thịt rắn, thịt chó, hoặc những loại thịt do mình nên mới có

- Bất tà đạo: Không làm điều phi nghĩa, không được trộm cắp

- Bất tà dâm: Không tà dâm, dâm ô

- Bất vọng ngữ: Không bịa đặt, không vu oan giá họa cho kẻ khác, không nói dối, không nói những điều mình không biết chắc chắn,

- Bất ẩm tửu: Các loại hình làm cho đầu óc con người đen tối, dẫn đến phá giới, nhẹ là trong suy nghĩ, nặng hơn là ngôn ngữ và nặng hơn nữa là dẫn đến hành động

Lục độ gồm:

-Bố thí: Đệm công sức, tài trí, của cải để giúp người một cách thành thực chứ không để cầu lợi hoặc ban ơn

- Tri giới: Trung thành với điều răn, kiên trì tu luyện +

-Nhẫn nhục: Phải biết kiên nhẫn, nhường nhịn, chịu đựng để làm chủ được mình +

- Tịnh tiến: Cố gắng nỗ lực vươn lên

- Thiền định: Tư tưởng phải tập trung vào điều ngay, chính không để cho cái xấu cho lấp

Trang 8

- Bát nhã Trí tuệ thấy rõ hết, hiểu thấu hết mọi chuyện trên thế gian Phật giáo cho rằng chỉ có bằng sự kiên định để thực hiện Bái chính đạo, Ngũ giới, Lục độ thì chúng sinh mới có thể giải thoát minh ra khỏi nỗi khổ Mục đích cao nhất của Đạo Phật là sự giải thoát, bằng cách tu luyện để từ bỏ mọi ham muốn dục vọng đời thường, tiêu diệt vô minh, đạt đến sự sáng suốt (sự giác ngộ), khi đó con người sẽ thoát khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo, hòa nhập với cõi vĩnh hằng - nhập Niết bàn

II Những giá trị tích cực và hạn chế trong quan điểm về nhân sinh quan của triết học phật giáo

1.Giá trị tích cực

Ngày đăng: 16/06/2022, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w