TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ====== NGUYỄN THỊ HƢỜNG ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA TIÊU ĐỀ PHIM TRUYỆN VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ học Hà Nội, 2022 TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ====== NGUYỄN THỊ HƢỜNG ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH CỦA TIÊU ĐỀ PHIM TRUYỆN VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ học Ngƣời hƣớng dẫn khoa học TS ĐỖ THỊ HIÊN Hà Nội, 2022 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đặc điểm định.
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội, 2022
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐỖ THỊ HIÊN
Hà Nội, 2022
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn và các thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã luôn nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm để em có thể hoàn thành khóa luận này Tôi cũng xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong thư viện nhà trường đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và người thân đã luôn ủng hộ, quan tâm và động viên em hoàn thành tốt khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hường
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Đặc điểm định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam” là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng
dẫn của TS Đỗ Thị Hiên Những tài liệu tham khảo dùng trong khóa luận đều được trích dẫn rõ ràng, các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2022
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hường
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết quả dự kiến 6
7 Đề cương khóa luận 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Khái quát đặc điểm cấu tạo của từ, ngữ và câu 7
1.1.1 Đặc điểm cấu tạo của từ 7
1.1.2 Đặc điểm cấu tạo của ngữ 9
1.1.3 Đặc điểm cấu tạo của câu 14
1.2 Khái quát về định danh 16
1.2.1 Khái niệm định danh 16
1.2.2 Đặc điểm định danh 16
1.3 Khái quát về phim truyện và tiêu đề phim truyện Việt Nam 17
1.3.1 Phim truyện Việt Nam 17
1.3.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam 19
Tiểu kết chương 1 20
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỊNH DANH TIÊU ĐỀ PHIM TRUYỆN VIỆT NAM 21
2.1 Cấu trúc định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam 21
2.1.1 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là một từ 21
2.1.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là một cụm từ 26
2.1.3 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là một câu chủ - vị 33
2.2 Ý nghĩa của việc định danh tiêu đề phim truyện Việt Nam 38
Trang 72.2.1 Thu hút và tạo hứng thú cho khán giả 38
2.2.2 Thể hiện sự tương quan giữa tiêu đề và nội dung phim 41
2.2.3 Định hướng nội dung phim cho khán giả 46
Tiểu kết chương 2 52
KẾT LUẬN 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 57
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Cấu tạo của cụm từ tiếng Việt 10
Bảng 1.2 Cấu tạo cụm danh từ 12
Bảng 1.3 Cấu tạo cụm động từ 13
Bảng 1.4 Cấu tạo cụm tính từ 14
Bảng 2.1 Tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ 21
Bảng 2.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam là cụm từ 26
Bảng 2.3 So sánh cấu trúc tiêu đề phim truyện Việt Nam 37
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ của các loại từ 22 Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ của các loại cụm từ 27 Biểu đồ 2.3 So sánh tỉ lệ cấu trúc tiêu đề phim truyện Việt Nam 37
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngôn ngữ được biết đến là một phương tiện quen thuộc không thể thiếu
trong đời sống con người Tuy nhiên, đây vẫn là một yếu tố kì diệu mà chúng ta khó nắm bắt hết Nên nghiên cứu về ngôn ngữ cũng luôn là một ngành quan trọng, thu hút mọi người trong giới nghiên cứu Ngôn ngữ đã tiếp cận và đi vào đời sống ở nhiều phương diện Chính vì vậy, ngôn ngữ học đã trở thành một ngành khoa học có tính ứng dụng phổ biến về các lĩnh vực trong cuộc sống, trong đó có lĩnh vực giải trí Một trong những vấn đề lí thú và đáng được quan tâm là vấn đề định danh của ngôn ngữ trong các mối quan hệ với các lĩnh vực khác Mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại trong đời sống đều phải có tên gọi riêng giúp con người có thể phân biệt được giữa sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác
1.2 Trong tiến trình phát triển của xã hội nói chung và đời sống tinh thần của
người Việt Nam nói riêng, điện ảnh Việt Nam đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu, đặc biệt là thể loại phim truyện Không chỉ hấp dẫn về nội dung phim, tiêu đề phim truyện cũng đóng một vai trò thiết yếu trong việc tạo nên sức hút của phim đối với khán giả vì nó là những từ ngữ đầu tiên gây nên những ấn tượng đầu tiên về bộ phim Mỗi bộ phim truyện lại có một tiêu đề không trùng lặp để chúng ta phân biệt từng bộ phim khác nhau và cho thấy sự thông minh trong cách đặt tiêu đề của các nhà làm phim khác nhau Cách đặt tiêu đề phim cũng cho thấy tính ứng dụng của hệ thống ngôn ngữ Tên phim hay tiêu đề phim là một đề tài rất lôi cuốn cho các nhà nghiên cứu khai thác ở nhiều khía cạnh Tiêu đề của một bộ phim truyện tuy chỉ có một số lượng
từ ngữ cô đọng nhưng lại phản ảnh nhiều phương diện cho bộ phim đó Mỗi tiêu đề phim sẽ chứa đựng ý nghĩa và đặc điểm riêng Do đó, với mỗi bộ phim truyện, tiêu đề phim lại có cấu tạo và cách đặt khác nhau, tạo nên sự phong phú và đa dạng của ngôn ngữ Vì vậy, việc định danh tiêu đề phim truyện Việt Nam là quan trọng trong đời sống, đặc biệt là đời sống tinh thần của con người
Từ những cơ sở trên, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu về “Đặc điểm định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam” để nhằm xem xét, phân tích cái độc
đáo, đa dạng trong việc đặt tiêu đề cho phim truyện Việt Nam Qua đó, chúng ta có thể thấy được sự biến đổi kì diệu của ngôn ngữ
Trang 112 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Điện ảnh Việt Nam những năm gần đây không những phát triển mạnh mà còn trở thành đối tượng rất đáng được quan tâm Đặc biệt, phim truyện Việt Nam đã tạo nên sức hút với nhiều bộ phim chất lượng, thu hút đông đảo và nhận được sự quan tâm của nhiều khán giả Có rất nhiều những bài viết luôn cập nhật và đưa tin về sự phát triển và thành công của phim truyện Việt Nam Từ đó, điện ảnh cũng đến gần hơn với lĩnh vực nghiên cứu, trở thành đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học Đặc biệt, vấn
đề định danh tiêu đề phim Việt Nam đã được nhiều nhà nghiên cứu hướng đến, khai thác và đi vào nghiên cứu
Bài báo “Cấu trúc và ngữ nghĩa của tiêu đề phim lãng mạn trong tiếng Việt và tiếng Anh” của Ngô Thị Khai Nguyên [17], đã đi sưu tầm và thu thập 120 tựa đề phim
lãng mạn bao gồm cả tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó đi vào tìm hiểu và nghiên cứu về hình thức cấu tạo tiêu đề phim Bài báo cho thấy được tiêu đề phim tiếng Anh và tiếng Việt bao gồm nhiều hình thức cấu tạo có tính chất hấp dẫn đối với khán giả như từ, cụm từ và câu Bên cạnh đó, bài báo cũng đi khảo sát cách đặt tiêu đề phim lãng mạn
có tựa đề tiếng Việt và tiếng Anh xét về mặt ngữ nghĩa, sau đó đối chiếu và so sánh sự giống nhau, khác nhau về hình thức cấu tạo tựa đề phim trong tiếng Anh và tiếng Việt
và cả về mặt ngữ nghĩa Đề tài chứng minh được sự phong phú trong cách đặt tên phim Tuy nhiên, bài báo này mới chỉ tập trung xem xét tiêu đề phim thuộc thể loại phim lãng mạn mà chưa đề cập đến được các thể loại khác
Nghiên cứu vấn đề cấu tạo và định danh của ngôn ngữ cũng không phải là một hướng nghiên cứu mới về ngôn ngữ nhưng nó vẫn luôn nhận được nhiều sự quan tâm Trong những năm qua, việc nghiên cứu về đặc điểm cấu tạo của từ ngữ, của câu hay nghiên cứu về vấn đề định danh đã xuất hiện với những công trình khoa học như: sách nghiên cứu, luận án, luận văn, bài báo,…
Trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học (tập 1)” [3], GS TS Đỗ Hữu Châu và
GS TS Bùi Minh Toán đã làm rõ các cấp độ ngôn ngữ Đó là bốn cấp độ ngôn ngữ: hình vị, từ, cụm từ và câu Hai tác giả chỉ ra các đơn vị cấu tạo từ, phân tích các phương thức cấu tạo từ để phân loại các kiểu loại từ; đưa ra các quan niệm về cụm từ; chỉ ra đặc điểm của câu và phân tích các bình diện của câu Những đặc điểm cơ bản về
từ, cụm từ và câu cũng được thể hiện khá rõ ràng
Trang 12Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” của Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên),
Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Khiết [11], các tác giả đã dành hai chương để đề cập đến các vấn đề về từ vựng và ngữ pháp Các tác giả chỉ ra và phân tích một số đặc điểm
về hình vị, từ, cụm từ và câu Từ được coi là đơn vị cơ bản của từ vựng với những đặc điểm riêng như tính tách biệt và tính hoàn chỉnh Dựa vào đặc điểm này các tác giả cũng chỉ ra một số kiểu từ Khái niệm về câu, thành phần câu và cách phân loại câu được đề cập một cách chi tiết Tuy nhiên, các tác giả không đi sâu vào những đặc điểm của hình vị và cụm từ mà chỉ tập trung vào từ và câu
Trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng” và “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”
[2,4], Đỗ Hữu Châu đã nói về chức năng định danh của tín hiệu ngôn ngữ Ông nhấn mạnh vai trò của định danh trong đời sống, trong giao tiếp và tư duy của con người Bên cạnh đó, ông cũng thể hiện cụ thể quá trình định danh trong tiếng Việt Tuy nhiên, trong cuốn sách này, ông chỉ đưa ra định danh ở cấp độ từ và cho rằng cụm từ chỉ có chức năng biểu vật
Bên cạnh đó, các cuốn sách như “Ngữ pháp tiếng Việt” của Đinh Văn Đức [6];
“Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến [5]; “Cơ sở ngôn ngữ học”, “Từ vựng học tiếng Việt”, “Giáo trình ngôn ngữ học” [8,9,10] của Nguyễn Thiện Giáp; Giáo trình “Ngữ pháp Tiếng Việt” của Bùi
Minh Toán (chủ biên) và Nguyễn Thị Lương [19],… cũng đề cập ít nhiều đến những vấn đề lý thuyết về các đơn vị ngữ pháp từ, cụm từ, câu
Luận án “Thuật ngữ khoa học kỹ thuật xây dựng trong tiếng Việt” của Vũ Thị
Thu Huyền [14], đi sâu tìm hiểu đặc điểm về cấu tạo, định danh của thuật ngữ xây dựng tiếng Việt, từ đó chỉ ra hiện trạng cụ thể của chúng và có định hướng chuẩn hóa
hệ thuật ngữ này Trên cơ sở khảo sát, phân tích hệ thuật ngữ xây dựng tiếng Việt, luận
án rút ra những đặc điểm cơ bản của các thuật ngữ về mặt cấu tạo và định danh, từ đó
đề xuất định hướng chuẩn hóa thuật ngữ xây dựng tiếng Việt
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học “Đặc điểm thuật ngữ Đông y tiếng Việt” của
Nguyễn Chi Lê [16], đã đi nghiên cứu về đặc điểm, phương thức cấu tạo và đặc điểm định danh của hệ thống thuật ngữ Đông Y tiếng Việt Bên cạnh đó, luận án mang đến những tổng quan về tình hình nghiên cứu thuật ngữ cũng như thuật ngữ Đông Y
Trang 13Luận án “Thuật ngữ quân sự trong tiếng Việt trên bình diện cấu tạo và định danh” của Trần Thị Hà [12], tác giả đi vào xem xét, miêu tả những đặc điểm cơ bản
của các thuật ngữ quân sự trong tiếng Việt về mặt cấu tạo từ và đặc điểm định danh, việc sử dụng các thuật ngữ này trong thực tế ngôn ngữ nhất là trong lĩnh vực quân sự
Từ đó luận án đưa ra cách sử dụng thuật ngữ quân sự nhằm góp phần hoàn thiện và sử dụng nó phù hợp
Luận văn “Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh của hệ thống từ ngữ nghề chè trong tiếng Việt” của Lê Thị Hương Giang [7], đã đi nghiên
cứu, cung cấp một hệ thống cơ sở lí luận về từ vựng ngữ nghĩa, định danh ngôn ngữ
Từ đó, luận văn thống kê và phân loại từ ngữ, chỉ ra đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh từ ngữ nghề chè, đem đến cách nhìn nhận về hệ thống từ ngữ chè trong tiếng Việt
từ đặc điểm cấu tạo nên nó và phương thức định danh
Bài báo “Đôi nét về đặc điểm định danh của thuật ngữ chuyên ngành công an trong tiếng Hán” của Hoàng Ngọc Nguyễn Hồng [13], mang đến lý thuyết về vấn đề
định danh, đi vào lựa chọn ngẫu nhiên 500 thuật ngữ chuyên ngành công an trong tiếng Hán hiện đại làm ngữ liệu, thông qua khảo sát và phân tích kết quả khảo sát, đề tài làm nổi rõ cơ chế định danh của thuật ngữ chuyên ngành đặc thù này
Như vậy, những công trình trên của các nhà nghiên cứu đã phần nào làm sáng tỏ đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh của hệ thống từ ngữ ở các lĩnh vực khác nhau như nghề nghiệp, quân sự, xây dựng, Đông y,… Tuy nhiên vấn đề này chưa được
nghiên cứu nhiều, chưa đi sâu vào lĩnh vực giải trí Do đó, đề tài “Đặc điểm định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam” là một đề tài khá mới mẻ và hấp dẫn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Khóa luận nhằm làm rõ đặc điểm định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam trên phương diện cấu trúc định danh và ý nghĩa định danh Từ đó, khóa luận cho thấy cái hay, sự đa dạng trong cách đặt tiêu đề cho phim truyện Việt Nam nói riêng và sự phong phú, thú vị của ngôn ngữ nói chung
- Khóa luận cũng đóng góp một tư liệu hữu ích trong việc nghiên cứu đặc điểm cấu trúc của ngôn ngữ
Trang 143.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được được những mục đích trên, khóa luận đi vào giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Sưu tầm, tập hợp các lý thuyết có liên quan đến đề tài, tổng quan về tình hình phát triển của điện ảnh Việt Nam, đặc biệt là phim truyện Việt Nam
- Khảo sát, thống kê và phân loại tiêu đề phim truyện Việt Nam
- Nghiên cứu và phân tích các đặc điểm từ loại, đặc điểm cấu trúc và ý nghĩa định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tiêu đề phim truyện Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Phim truyện Việt Nam từ trước tới nay, bao gồm cả phim truyền hình và phim chiếu rạp
5 Phương pháp nghiên cứu
Với đề tài này, khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu, đưa ra được các vấn đề lí thuyết về từ, ngữ và câu; vấn đề về định danh và đặc điểm tiêu đề phim truyện Việt Nam để làm cơ sở lí luận
- Phương pháp miêu tả: Đây là phương pháp để thể hiện phương thức và đặc điểm cấu tạo của từ ngữ và câu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là phương pháp để phân tích cấu trúc của tiêu đề phim truyện Việt Nam theo từng thành tố và tổng hợp lại số lượng tiêu đề theo từng cấu trúc để chỉ ra cách định danh phổ biến
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thủ pháp này được sử dụng để thu thập một số lượng tiêu đề phim truyện Việt Nam nhất định và phân loại các tiêu đề này theo cấu trúc: từ, cụm từ và câu
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Thủ pháp này được sử dụng để so sánh số lượng,
tỉ lệ tiêu đề phim truyện Việt Nam theo từng cấu trúc, từ đó đối chiếu với nhau để đưa
ra xu hướng định danh
Trang 15Về mặt thực tiễn:
- Khóa luận sẽ là một tài liệu hữu ích, đáng tin cậy, cung cấp, bổ sung những kiến thức hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu đặc điểm định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam
- Khóa luận thúc đẩy tiến trình nghiên cứu về cấu trúc định danh ngôn ngữ, phục vụ cho quá trình nghiên cứu của chuyên ngành ngôn ngữ học
7 Đề cương khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm 2 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lí luận
Chương 2 Đặc điểm cấu trúc và ý nghĩa của định danh tiêu đề phim truyện Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Khái quát đặc điểm cấu tạo của từ, ngữ và câu
1.1.1 Đặc điểm cấu tạo của từ
Người ta chia các yếu tố ngôn ngữ vào các cấp độ khác nhau hay nói cách khác, các đơn vị ngôn ngữ tạo thành các cấp độ từ thấp đến cao Cách chia được nhiều nhà ngôn ngữ chấp nhận là: cấp độ ngữ âm - âm vị, cấp độ hình vị, cấp độ từ vựng, cấp độ câu Ở đây, chúng tôi quan tâm đến cấp độ từ vựng và cấp độ câu Trước hết, cấp độ từ
vựng “là cấp độ gồm các đơn vị thường được gọi là từ Đó là những đơn vị hai mặt, có hình thức âm thanh, có ý nghĩa và có khả năng trực tiếp kết hợp với nhau để tạo thành các câu cụ thể, gặp trong khi nói và viết” [3-tr.8]
Đỗ Hữu Châu khi nghiên cứu về từ tiếng Việt đã cho rằng: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [4] Có nhiều quan niệm về từ nhưng đây
là quan niệm ít gây tranh cãi và được nhiều người chấp nhận Dựa vào quan niệm này, chúng ta thấy rằng từ tiếng Việt có thể cố định, cũng có thể biến đổi để cấu tạo thành các kiểu từ khác
“Có thể cho rằng, trong tiếng Việt, các yếu tố cấu tạo từ là những hình thức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất - tức là những yếu tố không thể phân chia thành những yếu
tố nhỏ hơn mà cũng có nghĩa - được dùng để cấu tạo ra các từ theo các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt Chúng ta gọi các yếu tố có đặc điểm và có chức năng như trên (chức năng cấu tạo từ) bằng thuật ngữ có tính quốc tế: hình vị” [20-tr.27]
Hình vị mới chỉ được coi là nguyên liệu để cấu tạo nên từ Ngôn ngữ tác động vào các hình vị hay nói cách khác là qua quá trình cấu tạo từ để cho ta các từ Có thể hiểu như sau:
Hình vị Từ
Về mặt cấu tạo, từ tiếng Việt có thể chia ra làm hai loại: từ đơn và từ phức Thông qua các phương thức cấu tạo, từ phức lại gồm hai loại từ: từ ghép và từ láy Có thể hình dung qua sơ đồ sau:
Cấu tạo từ
Trang 171.1.1.1 Từ đơn
Từ đơn là “các từ chỉ được cấu tạo bằng một hình vị Ở đây việc biến một hình
vị thành một từ (từ đơn) là việc cung cấp cho nó những đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ pháp
để nó có thể hoạt động được trong tư cách là từ” [3-tr.21] Với kiểu ngôn ngữ đơn lập
như tiếng Việt, từ đơn có một số lượng lớn và tiêu biểu cho tính chất đơn hình vị của từ: chỉ duy nhất một hình vị
Ví dụ: Các hình vị: nhà, người, cây, ăn, đi, ngồi, đẹp, vui, buồn, ba, sẽ,… chỉ
được cấu tạo là một hình vị độc lập, chỉ chứa một tiếng, mang những đặc điểm ngữ
nghĩa và trở thành từ đơn là “nhà”, “người”, “cây”, “ăn”, “đi”, “ngồi”, “đẹp”,
“vui”, “buồn”, “ba”, “sẽ”,…
1.1.1.2 Từ ghép
Trong từ phức, thông qua phương thức ghép, ta có được từ ghép “Ghép hình vị
là phương tác động vào hai hoặc hơn hai hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ)” [20-tr.28]
Như vậy, từ ghép “được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau” [20-tr.54] Do đó có thể hiểu,
từ ghép là từ được tạo nên bởi các tiếng có nghĩa, ít nhất là hai tiếng
Có thể hình dung mô hình ghép hình vị như sau:
Hình vị A, B → từ A + B
Ví dụ: Hình vị “sách” và hình vị “vở” ghép lại cho ta từ ghép “sách vở”
Tiếng Việt có thể ghép các hình vị ngữ pháp lại với nhau để tạo thành các hư từ
như: mặc dầu, bởi vì, cho nên,… Tuy nhiên, phương thức ghép phổ biến là ghép các
Từ
Từ đơn Từ phức
Từ ghép Từ láy
Trang 18hình vị có ý nghĩa từ vựng lại để tạo các thực từ như: học hành, xe máy, đất nước, vui tươi, làm việc,… “Các hình vị này ở ngoài các từ ghép thì có thể hoạt động như các từ đơn với cùng hình thức âm thanh Chúng liên kết với nhau thuần túy theo phương thức ghép Hơn nữa, ở tiếng Việt, quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp giữa các hình vị trong từ ghép có nhiều nét gần gũi với quan hệ cú pháp giữa các từ đơn Vì thế nhiều nhà nghiên cứu tiếng Việt đã dựa vào sự gần gũi quan hệ cú pháp này mà phân biệt từ ghép tiếng Việt thành hai loại: từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ” [3-tr.25]
Trong tiếng Việt, phương thức ghép là một phương thức rất phổ biến Nó được
sử dụng nhiều và sản sinh ra rất nhiều từ ghép, tạo thành những từ mới Chính nhờ phương thức này mà tiếng Việt có sự phong phú hơn về từ vựng, đáp ứng được nhu cầu gọi tên sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày
1.1.1.3 Từ láy
Thông qua phương thức láy, ta có được từ láy “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi; thanh sắc; thanh ngang
và nhóm thấp: thanh huyền; thanh ngã; thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [20-tr.40]
“Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau từ lớn đến nhỏ Cần chú ý đến tính đồng loạt cao của tiêu chí phân loại và thứ tự vận dụng của các tiêu chí đó”
[20]
Người ta chia từ láy thành từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận
Có thể hình dung mô hình láy hình vị như sau:
Hình vị A → từ A A’
Ví dụ: Hình vị “chuồn” qua phương thức láy hình vị cho ta từ láy “chuồn chuồn” hay hình vị “trắng” cho ta từ láy “trăng trắng”
1.1.2 Đặc điểm cấu tạo của ngữ
Ngữ là cụm từ gồm có hai thành tố trở lên, có thể có sẵn hoặc được tạo thành trong ngôn ngữ, có giá trị tương đương với từ, có nhiều đặc điểm giống với từ:
Trang 19- Chúng có thể tái hiện trong lời nói như các từ
- Về mặt ngữ pháp, chúng có thể đảm nhiệm vai trò làm các thành phần câu, cũng có thể là cơ sở để cấu tạo các từ mới
- Về mặt ngữ nghĩa, chúng biểu hiện những hiện tượng của thực tế khách quan, gắn liền với những kiểu hoạt động khác nhau của con người
Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: “Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này)” [1]
Như vậy, có thể thấy, ngữ (cụm từ) là sự kết hợp giữa các tiếng với nhau để tạo nên một đơn vị ngữ pháp cao hơn Cụm từ có cấu tạo phức tạp nhưng lại mang ý nghĩa
cụ thể hơn so với từ Trong lời nói, nó hoạt động như một từ Dựa vào mức độ cố định của cụm từ hay dựa vào quan hệ ngữ pháp chính giữa các thành tố trong mà cụm tiếng Việt được chia thành các loại khác nhau, được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1 Cấu tạo của cụm từ tiếng Việt
Cụm từ tiếng Việt Cụm từ cố định
(thành ngữ,
quán ngữ)
Cụm từ tự do
Cụm từ chủ vị
Cụm từ đẳng lập
Cụm từ chính phụ
Cụm danh từ
Cụm động từ
Cụm tính từ Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung vào tìm hiểu về cụm từ chính phụ Đây
là loại cụm từ gồm một thành tố chính và một hoặc nhiều thành tố phụ ở trước và sau thành tố chính Về hình thức, thành tố chính của cụm từ chính phụ thường chỉ có một
từ (thực từ) và thành tố phụ có thể là một từ hoặc một cụm từ Đảm nhiệm vai trò thành
tố chính trong cụm từ chính phụ là các thực từ (danh từ, động từ, tính từ), có thể có các
từ thuộc nhóm trung gian (đại từ, số từ) còn đóng vai trò là thành tố phụ là thực từ hoặc
hư từ Cụm từ chính phụ được gọi tên theo từ loại của thành tố chính trong cụm, do đó trong tiếng Việt ta có thể gặp ba loại cụm từ chính phụ là: Cụm danh từ, cụm động từ
và cụm tính từ
Trang 201.1.2.1 Cụm danh từ
Cụm danh từ là tổ hợp từ tự do có thành tố trung tâm là danh từ kết hợp với một
số thành tố phụ khác, giữa các thành tố có quan hệ chính phụ với nhau, thành tố phụ bổ sung ý nghĩa cho danh từ trung tâm
Do mối quan hệ giữa danh từ với các thành tố khác là quan hệ chính phụ, các thành tố phụ bổ sung thêm thông tin, ý nghĩa cho thành tố chính nên cụm danh từ mang một số đặc điểm sau:
- Các thành tố phụ trong cụm danh từ có số lượng nhất định
- Các thành tố trong cụm danh từ được sắp xếp theo một trật tự cố định
- Chỉ thành tố chính có quan hệ với những yếu tố khác ở ngoài cấu trúc cụm danh từ
Về chức vụ ngữ pháp, cụm danh từ có thể làm chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ
Ở dạng đầy đủ, cụm danh từ có cấu tạo gồm ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước và phần phụ sau Trong đó, phần phụ trước và phần phụ sau gồm có các thành tố phụ khác:
Có thể hình dung cấu tạo của cụm danh từ như sau:
Trang 21Bảng 1.2 Cấu tạo cụm danh từ
chỉ hạn định, miêu
tả
Ấy, kia, đó, này,
Ví dụ: Những cái bút mới này, Tất cả các bạn nữ đó,…
Trong thực tế, không phải lúc nào cụm danh từ cũng đầy đủ gồm ba phần Cụm danh từ có thể gồm phần trung tâm với phần phụ trước hoặc với phần phụ sau
Ví dụ: Phần phụ trước + phần trung tâm: những cái cây, các chàng trai,…
Phần trung tâm + phần phụ sau: học sinh lớp 10, ngôi làng ấy,… 1.1.2.2 Cụm động từ
Cụm động từ là một loại cụm từ chính phụ, trong đó thành tố trung tâm là động
từ kết hợp với các thành tố phụ khác thuộc nhiều kiểu loại Các thành tố phụ có chức năng bổ sung các ý nghĩa về cách thức, mức độ, thời gian, địa điểm,… cho động từ trung tâm
Về chức vụ ngữ pháp trong câu, cụm động từ đảm nhiệm các chức vụ giống như động từ: làm chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ, đề ngữ Tuy nhiên, cụm động từ có cấu tạo phức tạp và mang ý nghĩa rõ ràng, cụ thể hơn động từ Trong cuộc sống, cụm động từ cũng được sử dụng khá nhiều
Ở dạng đầy đủ, cụm động từ có cấu tạo gồm ba phần: phần phụ trước, phần trung tâm, phần phụ sau Theo nguyên tắc, phần trung tâm của cụm động từ là động từ
và toàn bộ cấu tạo của nó thể hiện khả năng kết hợp của động từ, nhưng thực tế lại phức tạp hơn Với trường hợp cụm động từ chỉ gồm một động từ thì động từ đó sẽ là trung tâm
Ví dụ: (Nó) đang học bài – động từ trung tâm là “học”
Trang 22Còn với trường hợp có hai, ba động từ đi cùng nhau thì việc xác định thành tố trung tâm sẽ khó khăn và phức tạp hơn
Ví dụ: (Nó) đang định đi chơi – “động từ trung tâm là “định”
Phần trung tâm của cụm động từ là các tổ hợp có quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở hai trường hợp: Biểu hiện các hành động đồng thời hoặc kế tiếp (gồm hai động
từ) cho cả hai động từ làm trung tâm như “vừa làm đổ cốc nước” và biểu hiện ý nghĩa
khứ hồi (gồm ba động từ hoặc động từ kết hợp với danh từ địa điểm) cho cả tổ hợp đó
làm trung tâm như “vừa đi tham quan về”, “mới đi Hà Nội về”
Ngoài ra, phần trung tâm là cụm từ đẳng lập có chung các thành tố phụ trước hoặc sau thì cả tổ hợp đẳng lập đó đều là trung tâm Phần trung tâm là cụm động từ cố định (thành ngữ) với thành tố phụ trước hoặc sau thì cả cụm động từ cố định đó sẽ là trung tâm Phần phụ trước và phần phụ sau của cụm động từ gồm các phụ từ, thực từ
Có thể hình dung cấu tạo cụm động từ như sau:
Ví dụ: Vẫn còn đang xem phim, Không hoàn thành bài tập,…
Trong thực tế, không phải lúc nào cụm động từ cũng gồm đầy đủ ba phần Cụm động từ có thể là những trường hợp đặc biệt chỉ gồm hai phần là phần trung tâm với phần phụ trước hoặc phần trung tâm với phần phụ sau
Ví dụ: Phần phụ trước + phần trung tâm: chưa làm, đang đi,…
Phần trung tâm + phần phụ sau: đi tham quan, làm xong công việc,…
Trang 231.1.2.3 Cụm tính từ
Cụm tính từ là cụm từ tự do theo quan hệ chính phụ, trong đó tính từ làm trung tâm kết hợp với các kiểu loại từ khác Các phụ ngữ có chức năng bổ sung thêm ý nghĩa, mức độ cho tính từ trung tâm
Về chức vụ ngữ pháp trong câu, cụm tính từ đảm nhiệm nhiều chức vụ của các thành phần câu như làm vị ngữ, chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ
Trong tiếng Việt, tính từ có nhiều điểm giống với động từ, do đó cụm tính từ cũng có nhiều điểm giống với cụm động từ Ở dạng đầy đủ, cụm tính từ gồm ba phần: phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau Phần phụ trước có thể gồm các phụ ngữ biểu thị quan hệ thời gian, mức độ của đặc điểm, tính chất, sự khẳng định hay phủ định,… Phần phụ sau có thể gồm các phụ ngữ biểu thị vị trí, so sánh, phạm vi hay nguyên nhân của đặc điểm, tính chất,…
Có thể hình dung cấu tạo cụm tính từ như sau:
Ví dụ: Không hay lắm, rất giỏi về bóng chuyền,…
Thực tế cụm tính từ không phải lúc nào cũng gồm đầy đủ ba phần Có những trường hợp cụm tính từ chỉ gồm hai phần là phần trung tâm với phần phụ trước hoặc phần trung tâm với phần phụ sau
Ví dụ: Phần phụ trước + phần trung tâm: rất thông minh, cũng chăm chỉ,… Phần trung tâm + phần phụ sau: hiền vô cùng, đẹp như bức tranh kia,…
1.1.3 Đặc điểm cấu tạo của câu
Câu là cấp độ lớn nhất trong bốn cấp độ ngôn ngữ Câu là chuỗi kết hợp của một hay nhiều từ
Trang 24“Cấp độ câu là cấp độ của các đơn vị thường được gọi là câu Đó là các đơn vị cũng có hai mặt, do các từ kết hợp với nhau trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định Trong những hoàn cảnh đó, câu có chức năng làm cơ sở để ngôn ngữ thực hiện chức năng thông báo” [3-tr.8]
Về mặt chức năng, câu thực hiện chức năng thông báo Đây cũng chính là đặc trưng nổi bật của câu với các đơn vị ngôn ngữ khác như từ - không có khả năng thông báo Tuy nhiên, trong thực tế có một vài trường hợp câu chỉ gồm một từ (từ này có khi
chỉ là một hình vị), ví dụ: Mưa Cháy! U! Nhưng nó cũng không còn là một từ đơn
thuần trong từ điển mà được phát âm ra với ngữ điệu nhất định để nhằm thông báo một tin, bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người nói
Tạo nên nội dung câu và thể hiện khả năng thông báo của câu là hai thành phần: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái Nghĩa miêu tả là thành phần nghĩa phản ánh hiện thực khách quan, còn được gọi là nghĩa sự việc, nghĩa biểu hiện của câu Nghĩa tình thái là thành phần thể hiện quan hệ, thái độ của người nói đối với người nghe và sự đánh giá chủ quan của người nói đối với hiện thực được nói tới trong câu, đồng thời thể hiện hành vi ngôn ngữ của câu Tính tình thái này được thể hiện bằng những phương tiện
ngôn ngữ như ngữ điệu, từ tình thái (như động từ tình thái: dám, định, muốn,…; phó từ
có ý nghĩa tình thái: lắm, quá, rất,… hay các trợ từ: à, ư, nhỉ, nhé,… và dạng thức nhân
xưng của động từ) Nhờ có những phương tiện ngôn ngữ này giúp cho chức năng thông báo của câu rõ ràng hơn Chúng ta có thể biết điều đang được nói trong câu là nghi vấn, cảm thán hay giả định, nó đã xảy ra hay chưa, người nói thể hiện sự đồng tình hay không đồng tình,…
Về mặt cấu tạo, câu có kết cấu là cụm C - V Đây cũng chính là hai thành phần chính của câu Trong các lí giải về cấu trúc câu, phân tích câu theo thành phần là lí
thuyết phổ biến và lâu đời “Theo lí thuyết này thì mỗi thực từ trong câu đều là một thành phần câu; căn cứ để quy chúng vào những thành phần câu nhất định là hình thái của chúng Như vậy, xác định thành phần câu thực chất là phân loại các thực từ trong câu dựa theo hình thái của chúng” [11]
Câu bao gồm thành phần chính và thành phần phụ Thành phần chính là chủ ngữ
và vị ngữ Người ta cho rằng, chủ ngữ là thành phần bắt buộc, biểu thị sự vật, hiện
tượng có đặc trưng được miêu tả ở vị ngữ, trả lời cho các câu hỏi “Ai?”, “Cái gì?”,
Trang 25“Con gì?” Vị ngữ là thành phần bắt buộc có mặt để đảm bảo sự độc lập về nội dung
và hoàn chỉnh về hình thức của câu Nó có thể kết hợp với các phó từ đã, sẽ, đang,… đằng trước và trả lời cho câu hỏi “Làm gì?”, “Làm sao?”, “Như thế nào?” Các thành
phần phụ gồm bổ ngữ, trạng ngữ, định ngữ
Có thể dùng câu để bộc lộ những mục đích khác nhau như kể, hỏi, nêu yêu cầu
đề nghị, bộc lộ tình cảm, cảm xúc về một sự vật, sự việc hay hiện tượng nào đó Tương ứng với mỗi mục đích như vậy lại có một kiểu câu riêng với những đặc điểm cấu trúc riêng Dựa vào mục đích, người ta chia câu ra làm bốn loại: câu hỏi (câu nghi vấn) với mục đích dùng để hỏi; câu kể (câu trần thuật) với mục đích dùng để kể, tả, tường thuật; câu cảm (câu cảm thán) với mục đích dùng để bộc lộ tình cảm; cảm xúc và câu khiến (câu cầu khiến) với mục đích dùng để nêu yêu cầu, nguyện vọng, đề nghị,
1.2 Khái quát về định danh
1.2.1 Khái niệm định danh
Về khái niệm định danh, G.V.Consanski cho rằng: định danh là “sự cố định (hay gắn) cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm - biểu niệm (significat) phản ánh cái đặc trưng nhất định của một biểu vật (denotat) - các thuộc tính, phẩm chất và quan hệ của đối tượng cũng như quá trình thuộc phạm vi vật chất và tinh thần, nhờ đó các đơn
vị ngôn ngữ tạo thành những yếu tố nội dung của giao tiếp ngôn từ” [15]
Các tác giả công trình “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” cho rằng:
“Định danh là sự cấu tạo các đơn vị ngôn ngữ có chức năng dùng để gọi tên, chia tách các đoạn của hiện thực khách quan trên cơ sở đó hình thành những khái niệm tương ứng về chúng dưới dạng các từ, cụm từ, ngữ cú và câu” [21]
Có thể hiểu, định danh là đặt tên cho sự vật, hiện tượng dựa trên đặc trưng nào
đó hoặc nhằm thể hiện một ý nghĩa, nội dung Định danh như một yếu tố dùng để phân biệt đối tượng, để hình dung ra đối tượng
Trang 26Về đơn vị định danh, dựa vào số lượng đơn vị có nghĩa tham gia vào định danh thì có thể phân biệt: Định danh đơn giản (định danh tổng hợp) do một đơn vị có nghĩa tạo nên và định danh phức hợp (định danh phân tích, miêu tả) do hai đơn vị có nghĩa trở lên tạo nên Đồng thời, về ngữ nghĩa lại có sự phân biệt giữa định danh gốc (định danh bậc một) và định danh phái sinh (định danh bậc hai)
Về phương thức định danh, có thể chia định danh làm hai loại: định danh trực tiếp (định danh nguyên cấp) là sử dụng những hình thức đã biết hoặc đã có để gọi tên một sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, định danh gián tiếp (định danh thứ cấp) là tổ chức lại các đơn vị ngôn từ đã có sẵn theo một mô hình nhất định hoặc chuyển nghĩa để tạo thành đơn vị mới
Việc định danh đem lại nhiều ý nghĩa Nó tạo nên những tên gọi cho sự vật, hiện tượng để giúp ích cho con người trong việc phân biệt, ghi nhớ chúng Định danh cũng giúp chúng ta nhận biết được ý nghĩa hoặc đặc trưng của mỗi đối tượng Qua đó, việc định danh thể hiện sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ tiếng Việt
Tuy nhiên, trong bài viết này chúng tôi tập trung đi vào xem xét khía cạnh cấu trúc định danh và ý nghĩa của nó trong một đối tượng cụ thể
1.3 Khái quát về phim truyện và tiêu đề phim truyện Việt Nam
1.3.1 Phim truyện Việt Nam
Ngành điện ảnh Việt Nam là một ngành công nghiệp để sản xuất ra các bộ phim của Việt Nam Điện ảnh Việt Nam đã trải qua rất nhiều thay đổi từ 1923 đến nay để đạt được những thành tựu đáng mong đợi
Năm 1923, bộ phim đầu tiên do người Việt cùng thực hiện sản xuất với người
Pháp mang tên “Kim Vân Kiều” mới đánh dấu sự khởi đầu cho nền điện ảnh Việt
Nam, dù cho điện ảnh đã du nhập vào nước ta từ cuối thập niên 1890 Sau đó, từ năm
1925, điện ảnh Việt Nam dần xuất hiện những hãng phim của chính nước mình bao gồm cả những bộ phim hợp tác với nước ngoài Thời kì chiến tranh cũng ghi dấu ấn cho điện ảnh cách mạng với những bộ phim về chiến tranh Nhiều bộ phim đạt được doanh thu cao và nhiều đạo diễn, diễn viên đã giành được những giải thưởng trong liên hoan phim châu Á Sau 1975, những đạo diễn như Lê Hoàng Hoa, Nguyễn Hồng Sến
Trang 27với những bộ phim: “Ván bài lật ngửa”, “Cánh đồng hoang”… gây được sức hút với
khán giả và có những giải thưởng ở liên hoan phim quốc tế
Giai đoạn tiếp theo là những năm 1990, sau khi vượt qua giai đoạn khủng
hoảng, điện ảnh Việt Nam trở lại với những phim ăn khách như: “Gái nhảy”, “Những
cô gái chân dài”, Một số bộ phim Việt Nam đã đến được với khán giả nước ngoài
“Mùi đu đủ xanh” của đạo diễn người Pháp gốc Việt - Trần Anh Hùng đã được đề cử
giải Oscar cho phim ngoại ngữ hay nhất năm 1994
Năm 1980, nước ta thành lập và cho đi vào hoạt động Công ty Nghe nhìn Việt Nam (tiền thân Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam) Đến năm 1983, bộ
phim truyện đầu tiên của truyền hình Việt Nam lúc ấy là “Người thành phố” được phát sóng, do NSND Khải Hưng làm đạo diễn Tiếp đó vào năm 1989, bộ phim “Mặt trời
bé con” được sản xuất và phát sóng đã đánh dấu mốc quan trọng cho sự ra đời khái niệm “phim truyện làm bằng chất liệu băng từ” Đến Liên hoan phim truyền hình quốc
tế Brussels đầu năm 1993, bộ phim “Lời nguyền của dòng sông” đoạt giải Vàng, thu
hút được nhiều sự chú ý
Những năm sau đó, với sự ra mắt của những chương trình mới, những bộ phim mới dài tập, thành lập Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh,… đã đánh dấu
sự phát triển vượt bậc cho phim truyện truyền hình Việt Nam
Vào những năm 2000, các hãng phim tư nhân dần xuất hiện nhiều và tham gia vào thị trường phim truyện truyền hình Từ năm 2011 đến năm 2013 phim truyện
truyền hình Việt Nam lại bị đánh giá là “giai đoạn xuống dốc” Năm 2014, hai phần phim “Tuổi thanh xuân” do VFC hợp tác với CJ E&M Pictures cùng sản xuất bằng cách Việt hóa từ bộ phim Israel cùng tên đã được cho là “vực dậy” sự quan tâm của khán giả dành cho phim truyện trong nước Năm 2019, bộ phim “Về nhà đi con” thu hút số lượng lớn người xem ngay tại thời điểm phát sóng và được coi là “phim truyền hình quốc dân”
Phim truyện truyền hình Việt Nam là một chương trình truyền hình được sản xuất và phát sóng chủ yếu tại Việt Nam Phim truyện Việt Nam gồm đa dạng các thể loại như: tâm lý xã hội, lãng mạn, hài hước, gia đình, chính luận, tuyên truyền, hành động, cổ trang và lịch sử Do đặc điểm của mỗi vùng miền nên những bộ phim được sản xuất ở miền Bắc tập trung vào vấn đề chính luận, còn những bộ phim được sản
Trang 28xuất ở miền Nam lại chủ yếu xoay quanh các vấn đề mang tính hài hước, lãng mạn Bên cạnh đó, những bộ phim do nhà nước đặt hàng sản xuất là những phim lịch sử và vấn đề tuyên truyền Đặc biệt, những năm gần đây, phim truyền hình Việt Nam chủ yếu tập trung khai thác ở thể loại gia đình và tình cảm
1.3.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam
Tiêu đề phim truyện Việt Nam được hiểu đơn giản là tên của những bộ phim truyện Việt Nam Về hình thức, khác với tiêu đề phim nước ngoài, theo văn phong tiếng Việt các chữ trong tiêu đề phim Việt Nam được viết bằng chữ thường, chỉ viết hoa chữ cái đầu
Tiêu đề được coi là một thành phần quan trọng hàng đầu của một bộ phim truyện Việt Nam, là cái gây chú ý đầu tiên cho người xem đến với bộ phim đó Do đó, một tiêu đề ấn tượng, có sức hút sẽ tạo nên ấn tượng ban đầu và thu hút người xem Tiêu đề phim truyện Việt Nam thường ngắn gọn nhưng cũng khái quát được một phần nội dung của bộ phim
Tiêu đề không phải là phần quan trọng nhất của một bộ phim nhưng nó là yếu tố đầu tiên gây nên những ấn tượng đầu tiên cho mọi người, là một phần nhỏ trong bộ phim nhưng có khả năng ảnh hưởng đến việc mọi người có xem bộ phim đó hay không Nó được coi như một bước đệm để người xem tiến dần đến nội dung phim Người xem luôn đọc tiêu đề của bộ phim trước rồi mới tìm hiểu đến nội dung chi tiết của bộ phim Do đó, việc đặt tiêu đề vẫn phải được coi là vấn đề quan trọng không thể
bỏ qua
Điện ảnh Việt Nam, đặc biệt là thể loại phim truyện Việt Nam ngày càng phát triển và trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong mỗi gia đình Với sự ra đời của rất nhiều các chiến lược xã hội hóa điện ảnh, ngày càng có nhiều bộ phim chất lượng, hấp dẫn; việc thiết kế hình ảnh, tiêu đề cho phim cũng trở nên quan trọng Trên internet, mỗi người có thể tiếp cận với vô vàn thông tin về phim Do đó, muốn lôi kéo khán giả xem bộ phim thì trước hết cần phải có một tiêu đề hấp dẫn, ấn tượng
Trang 29Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 của khóa luận này, chúng tôi đã tập trung vào các nội dung sau: Khái quát đặc điểm cấu tạo của từ, ngữ và câu; khái quát về định danh và cuối cùng là khái quát về phim truyện và tiêu đề phim truyện Việt Nam
Trong phần “Khái quát đặc điểm cấu tạo của từ, ngữ và câu” chúng tôi đã đi
vào trình bày cụ thể từng cấu tạo Về đặc điểm cấu tạo của từ, chúng tôi đã chỉ ra các phương thức tác động vào hình vị để tạo ra từ, từ đó tập trung làm rõ ba loại từ là từ đơn, từ ghép và từ láy qua các phương diện như: khái niệm, mô hình cấu tạo và lấy ví
dụ Về đặc điểm cấu tạo của ngữ, chúng tôi đi vào tìm hiểu từng loại cụm từ là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ Trong mỗi loại cụm từ, chúng tôi tập trung đi vào một số vấn đề như đưa ra khái niệm, đặc điểm của cụm từ, chức vụ ngữ pháp trong câu, cấu tạo của cụm từ, từ đó đi vào lấy ví dụ và phân tích rõ cấu tạo của cụm từ ấy
Trong phần “Khái quát về định danh”, chúng tôi đưa ra một số khái niệm định danh như của G.V.Consanski, “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” Tiếp đó,
chúng tôi khái quát một số đặc điểm về định danh, chỉ ra vai trò cũng như tầm quan trọng của định danh trong cuộc sống nói chung và trong lĩnh vực điện ảnh nói riêng Từ
đó, chúng tôi đưa ra khẳng định khóa luận sẽ tập trung đi vào xem xét khía cạnh cấu trúc định danh và ý nghĩa của nó trong một đối tượng cụ thể đó là tiêu đề phim truyện Việt Nam
Còn trong phần “Khái quát về phim truyện và tiêu đề phim truyện Việt Nam”,
chúng tôi đã chỉ ra tiến trình ra đời và phát triển của nền điện ảnh Việt Nam nói chung
và thể loại phim truyện Việt Nam nói riêng Điện ảnh Việt Nam ngày càng phát triển
và đạt được nhiều thành tựu Những bộ phim truyện Việt Nam ngày càng đến gần hơn
và tạo được sức hút đối với khán giả Từ đó, chúng tôi cũng khẳng định vai trò của tiêu
đề phim truyện Việt Nam và tầm quan trọng của việc định danh tiêu đề phim trong việc thu hút khán giả
Như vậy, trong chương 1, khóa luận đã tập trung vào các vấn đề lí thuyết nêu trên để đưa ra cơ sở nhằm phục vụ cho việc phân tích và giải quyết các vấn đề đặt ra trong chương 2
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỊNH DANH
TIÊU ĐỀ PHIM TRUYỆN VIỆT NAM 2.1 Cấu trúc định danh của tiêu đề phim truyện Việt Nam
2.1.1 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là một từ
Theo khảo sát, chúng tôi đã thu thập được 477 tiêu đề phim truyện Việt Nam Trong đó, số tiêu đề phim truyện Việt Nam được cấu tạo là từ có 40 tiêu đề Có thể thấy, xét theo phương diện cấu tạo của từ, trong 40 tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ này bao gồm đầy đủ ba loại từ: từ đơn, từ ghép và từ láy Số lượng tiêu đề là từ đơn, từ ghép và từ láy không giống nhau, chúng có sự chênh lệch khá lớn Chúng tôi tiến hành phân chia 40 tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là từ theo bảng dưới đây:
Bảng 2.1 Tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ
tế, số lượng từ là từ đơn rất lớn bởi nó là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có nghĩa Từ ghép cũng có số lượng không nhỏ bởi cứ ghép hai tiếng ta sẽ có được một từ ghép Từ ghép được hình thành do hai tiếng trở lên ghép lại nên nó sẽ bao chứa được nhiều nội dung hơn từ đơn và từ láy Vì vậy, chúng tôi cho rằng, đây là điều khá phù hợp khi lựa chọn đặt tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ ghép nhiều hơn so với từ đơn và từ láy
Có thể theo dõi tỉ lệ giữa tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ đơn, tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ ghép và tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ láy bằng biểu đồ dưới đây:
Trang 31Biểu đồ 2.1 Tỉ lệ của các loại từ
2.1.1.1 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là từ ghép
Trong ba loại từ trên, số lượng tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ ghép rất lớn
với 30 trong tổng số 40 tiêu đề có cấu trúc là từ Đó là các tiêu đề sau: “Sinh tử”,
“Nguyệt thực”, “Mê cung”, “Hai Phượng”, “Trạng Quỳnh”, “Trúng số”, “Lật mặt”,
“Mẹ chồng”, “Thang máy”, “Hoán đổi”, “Song Lang”, “Truy sát”, “Cám dỗ”,
“Hướng nghiệp”, “Siêu trộm”, Số lượng tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ ghép
chiếm 75%, gấp gần 4 lần so với tiêu đề là từ đơn và gấp 30 lần so với tiêu đề là từ láy Đây là cấu trúc chiếm số lượng nhiều nhất trong cấu trúc tiêu đề là từ
Ví dụ: (1) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Sinh tử”
(2) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Trúng số”
Trang 32“sinh” mang nghĩa là “sống” và hình vị “tử” mang nghĩa là “chết” Hai hình vị này
có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa, không hình vị nào phụ thuộc hay bổ sung cho
hình vị nào Như vậy, từ ghép “sinh tử” là một từ ghép đẳng lập có nghĩa là để chỉ sự
vị phụ để bổ sung thêm thông tin cho hình vị chính là trúng cái gì Như vậy, từ ghép
“trúng số” là một từ ghép chính phụ có nghĩa là để chỉ sự may mắn đạt được giải trong
cuộc chơi xổ số
Hình thức cấu tạo tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ ghép khá phổ biến Số lượng tiêu đề là từ ghép chiếm tỉ lệ lớn nhất trong ba loại từ Việc đặt tiêu đề phim là từ ghép được sử dụng nhiều hơn tiêu đề phim là từ đơn và từ láy là do một số lí do Từ ghép được cấu tạo từ hai hình vị có nghĩa trở lên thông qua phương thức ghép nên nó
sẽ mang đặc điểm ngữ nghĩa bao quát, rõ ràng hơn chỉ một hình vị có nghĩa Do vậy, đặt tiêu đề phim truyện là từ ghép sẽ dễ dàng hơn trong việc chứa đựng nội dung của
bộ phim Từ ghép cũng là loại từ chiếm số lượng lớn trong ngôn ngữ nên việc đặt tiêu
đề phim truyện Việt Nam với hình thức là một từ ghép cũng khá thuận tiện và dễ dàng khi lựa chọn một từ liên quan đến bộ phim Như vậy, việc đặt tiêu đề cho phim truyện Việt Nam là từ ghép chiếm số lượng nhiều hơn là điều hoàn toàn phù hợp
2.1.1.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là từ đơn
Cấu trúc định danh là từ đơn là cấu trúc khá phổ biến trong định danh thông thường cho các sự vật, hiện tượng Tuy nhiên, trong định danh tiêu đề phim truyện Việt Nam, nó chưa thực sự phù hợp
Có thể thấy, trong ba loại từ trên, số lượng tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ
đơn chiếm khá ít với 9 trên tổng số 40 tiêu đề là từ Đó là các tiêu đề sau: “Nắng”,
“Kiều”, “Ròm”, “Chạm”, “Yêu”, “Lô tô”, “Sút”, “Khói”, “Nàng” Số lượng tiêu đề
phim truyện Việt Nam là từ đơn chỉ chiếm 22.5%, bằng khoảng 1/3 lần so với tiêu đề phim là từ ghép Số lượng tiêu đề phim truyện là từ đơn chỉ nhiều hơn số lượng tiêu đề
là từ láy, gấp 9 lần so với tiêu đề phim là từ láy
Trang 33Ví dụ: (3) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Nắng”
(4) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Yêu”
Hình 2.3 Hình 2.4
Có thể thấy rằng, tiêu đề phim truyện “Nắng” là một từ đơn, chỉ gồm một hình
vị - “nắng” Hay tiêu đề phim truyện “Yêu” cũng cấu tạo là một từ đơn, chỉ gồm có một hình vị - “yêu”
Các tiêu đề còn lại như: “Kiều”, “Ròm”, “Chạm”, “Sút”, “Khói”, “Nàng” cũng chỉ gồm một hình vị “kiều”, “ròm”, “chạm”, “sút”, “khói”, “nàng” Ngoài ra
có một trường hợp tiêu đề phim “Lô tô” có cấu tạo là từ đơn đa âm
Từ đơn là từ chỉ gồm có một hình vị, có thể đứng độc lập và vẫn mang đặc điểm ngữ nghĩa của nó Do đó việc đặt tiêu đề phim truyện Việt Nam với hình thức là một từ đơn là khá dễ dàng khi chỉ cần đặt ra một từ có nội dung, ý nghĩa hoặc chỉ đối tượng, vấn đề có liên quan đến bộ phim
Tuy nhiên, hình thức cấu tạo tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ đơn này khá hạn chế nên số lượng tiêu đề là từ đơn chiếm tỉ lệ không lớn trong ba loại từ Nguyên nhân của việc đặt tiêu đề phim là từ đơn không được sử dụng nhiều là do từ đơn chỉ gồm có một hình vị nên nó chỉ mang một đặc điểm ngữ nghĩa nhất định Nội dung của
cả một bộ phim khó có thể được thể hiện chỉ với một từ đơn Tiêu đề phim truyện là một từ đơn sẽ hạn chế việc thể hiện hàm ý của nội dung phim hay không thể bộc lộ hết
Trang 34được ý mà biên kịch muốn nói đến Vì vậy, việc đặt tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ đơn không chiếm số lượng nhiều là điều phù hợp
2.1.1.3 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là từ láy
Trong ba loại từ trên, số lượng tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ láy rất ít chỉ
có duy nhất 1 trong tổng số 40 tiêu đề, chiếm 2.5% Đó là tiêu đề: “Ám ảnh”
Ví dụ (5): Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Ám ảnh”
Hình 2.5
Chúng ta thấy rằng, tiêu đề phim truyện này là “Ám ảnh”, là một từ láy Từ láy
“ám ảnh” để chỉ một trạng thái không yên tâm, luôn phải nghĩ đến một sự vật, hiện
tượng nào đó lởn vởn trong tâm trí
Như vậy, tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ láy rất hiếm được sử dụng, chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong ba loại từ Nguyên nhân của việc đặt tiêu đề phim là từ láy được sử dụng ít hơn nhiều so với tiêu đề phim là từ đơn và từ ghép là do từ láy là từ được tạo thành thông qua phương thức láy, bằng cách lặp lại toàn bộ hoặc lặp lại bộ phận hình thức âm tiết Do đó, từ láy có thể chỉ có một tiếng mang nghĩa hoặc không
có tiếng nào mang nghĩa Điều này làm cho từ láy không mang nhiều đặc điểm về ngữ nghĩa Trong ngôn ngữ, từ láy cũng không phải là loại từ có số lượng lớn Do vậy, việc đặt tiêu đề cho phim truyện Việt Nam với hình thức là một từ láy là không dễ dàng, không phù hợp Từ láy chủ yếu được sử dụng linh hoạt nhằm tạo sự sinh động hoặc
Trang 35nhấn mạnh cho sự vật, hiện tượng nào đó Tóm lại, đặt tiêu đề phim truyện là từ láy sẽ khó trong việc hé mở nội dung của bộ phim và hàm ý của biên kịch Như vậy, việc đặt tiêu đề phim truyện Việt Nam là từ láy chiếm số lượng ít là điều hoàn toàn phù hợp
2.1.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là một cụm từ
Trong thực tế đời sống, con người chỉ gọi tên đối tượng chủ yếu bằng từ, đặc biệt là danh từ vì nó là loại từ dùng để chỉ sự vật, hiện tượng,… Tuy nhiên, trong định danh tiêu đề phim truyện Việt Nam, cấu trúc này lại được sử dụng rất phổ biến
Trong tổng số 477 tiêu đề phim truyện Việt Nam mà chúng tôi đã thu thập được, chúng tôi thấy có 398 tiêu đề có cấu trúc là cụm từ Đây là một con số khá lớn trong tổng số tiêu đề khảo sát
Xét trên phương diện cấu tạo của cụm từ, có thể thấy các tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là cụm từ này bao gồm cả ba loại cụm từ: cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ Số lượng tiêu đề trong mỗi loại cụm từ này có sự chênh lệch lớn Chúng tôi tiếp tục tiến hành phân chia 398 tiêu đề phim truyện Việt Nam là cụm từ này theo bảng dưới đây:
Bảng 2.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam là cụm từ
Trang 36Biểu đồ 2.2 Tỉ lệ của các loại cụm từ
2.1.2.1 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là cụm danh từ
Trong tổng số 398 tiêu đề phim truyện Việt Nam chúng tôi thống kê được là cụm từ có 326 tiêu đề có cấu trúc là cụm danh từ, chiếm 81.91% Cụ thể là những tiêu
đề phim truyện như: “Những người sống bên tôi”, “Người thành phố”, “Mặt trời bé con”, “Đứa con tôi”, “Lời nguyền của dòng sông”, “Mẹ chồng tôi”, “Những mảnh đời của Huệ”, “Người đẹp Tây Đô”, “Nỗi đau thầm lặng”,… Số lượng tiêu đề phim
truyện Việt Nam là cụm danh từ rất lớn, gấp gần 5 lần so với tiêu đề phim là cụm động
từ và 54 lần so với tiêu đề phim là cụm tính từ
Ví dụ: (6) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “49 ngày”
(7) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Chàng trai năm ấy”
(8) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Những nụ hôn rực rỡ”
Cụm danh từ Cụm động từ Cụm tính từ
Trang 37Các tiêu đề phim truyện này được thể hiện như sau:
Tiêu đề phim
Phần phụ trước
Phần trung tâm
Phần phụ sau Tổng
lượng
Số lượng
Chỉ xuất
Hạn định, miêu tả
Chỉ định
Những nụ hôn
Ta thấy, tiêu đề phim truyện Việt Nam “Những nụ hôn rực rỡ” là một cụm danh từ với danh từ trung tâm là “nụ hôn”, phần phụ trước là thành tố phụ chỉ số lượng
“những” và phần phụ sau là thành tố phụ miêu tả “rực rỡ” Đây là một cụm danh từ
đầy đủ gồm cả ba phần: phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau
Còn tiêu đề phim truyện Việt Nam “49 ngày” là một cụm danh từ với danh từ trung tâm là “ngày” và phần phụ trước là thành tố phụ chỉ số lượng “49” Cụm danh
từ này không bao gồm đầy đủ ba phần mà chỉ có phần phụ trước và phần trung tâm
Tiêu đề phim truyện Việt Nam “Chàng trai năm ấy” là một cụm danh từ với danh từ trung tâm là “Chàng trai”, phần phụ sau gồm thành tố phụ hạn định, miêu tả
“năm ấy” Cụm danh từ này không bao gồm đầy đủ ba phần mà chỉ có phần trung tâm
và phần phụ sau
Các ví dụ trên chỉ ra rằng không phải cụm danh từ nào cũng đầy đủ ba phần: phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau Các cụm danh từ chủ yếu chỉ gồm phần phụ trước và phần trung tâm hoặc phần trung tâm và phần phụ sau
Thông qua phân tích các tiêu đề phim truyện Việt Nam, ta thấy xu hướng đặt tiêu đề cho phim truyện là cụm danh từ Các tiêu đề là cụm danh từ rất phổ biến, chiếm
tỉ lệ rất lớn trong ba loại cụm từ Xuất phát từ ý nghĩa của từ loại, danh từ là những từ chỉ sự vật, hiện tượng Do đó, danh từ được sử dụng khá phổ biến Khi đặt tên phim (một loại sự vật) người ta cũng sẽ dùng danh từ Về hình thức, cụm danh từ tương đối
Trang 38ngắn gọn nhưng vẫn bao hàm được đầy đủ thông tin nên để nội dung thông tin được cụ thể, rõ ràng người ta sẽ có xu hướng dùng cụm danh từ thay vì dùng danh từ
Tiêu đề phim là danh từ hay cụm danh từ thường gắn với: nhân vật chính trong phim (Ròm, Kiều,…); một chi tiết đặc sắc trong phim (những nụ hôn rực rỡ…),…
Như vậy, việc đặt tiêu đề phim truyện Việt Nam là cụm danh từ chiếm số lượng lớn là điều hoàn toàn phù hợp Định danh thông thường các sự vật cũng sử dụng cấu trúc phổ biến là các danh từ hoặc cụm danh từ
2.1.2.2 Tiêu đề phim truyện Việt Nam có cấu trúc là cụm động từ
Trong tổng số 398 tiêu đề phim chúng tôi thống kê được là cụm từ có 66 tiêu đề
có cấu tạo là cụm động từ, chiếm 16.58% Đó là các tiêu đề sau: “Giải phóng Sài Gòn”, “Đi trong giấc ngủ”, “Có một chuyến đi”, “Sống trong sợ hãi”, “Đẻ mướn”,
“Trót yêu”, “Vượt qua thử thách”, “Đi qua mùa hạ”, “Đi qua bóng tối”, “Phá vỡ im lặng”, “Ám ảnh xanh”, “Lập trình cho trái tim”, “Tin vào điều không thể”, “Cưới ngay kẻo tết”, “Cho một tình yêu”, “Đam mê nghiệt ngã”, “Viết tiếp bản tình ca”,…
Số lượng tiêu đề phim truyện Việt Nam là cụm động từ khá ít, gấp 11 lần so với tiêu đề phim là cụm tính từ nhưng chỉ bằng khoảng 1/5 lần so với tiêu đề phim là cụm danh từ
Ví dụ: (9) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Hãy nói lời yêu”
(10) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Trót yêu”
(11) Phim truyện Việt Nam có tiêu đề “Trở về giữa yêu thương”
Hình 2.9 Hình 2.10 Hình 2.11