TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN NGUYỄN THU LỤA HÀNH VI NGÔN NGỮ CHỬI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ học Hà Nội, tháng 05 năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN NGUYỄN THU LỤA HÀNH VI NGÔN NGỮ CHỬI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ học Người hướng dẫn khoa học TS ĐỖ THỊ HIÊN Hà Nội, tháng 05 năm 2022 LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THU LỤA
HÀNH VI NGÔN NGỮ CHỬI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội, tháng 05 năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THU LỤA
HÀNH VI NGÔN NGỮ CHỬI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
TS ĐỖ THỊ HIÊN
Hà Nội, tháng 05 năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn chu đáo và
tận tình từ TS GVC Đỗ Thị Hiên – Giảng viên tổ Ngôn Ngữ cùng sự ủng hộ và góp
ý của toàn thể các thầy, cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Tôi xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các
thầy, cô, đặc biệt là TS GVC Đỗ Thị Hiên – người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi
hoàn thành khóa luận này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô!
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2022
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thu Lụa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Đề tài khóa luận tốt nghiệp mang tên “Hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp” được thực hiện trực tiếp dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của TS.GV Đỗ
Thị Hiên
Tôi xin cam đoan rằng:
- Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
- Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã được công bố trước đó
Nếu những cam đoan trên là sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2022
Tác giả khóa luận
Nguyễn Thu Lụa
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1 Nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ chửi 2
2.2 Nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 6
5 Nội dung chính của khóa luận, các vấn đề cần giải quyết 6
6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
7 Dự kiến kết quả và đóng góp của khóa luận 7
8 Bố cục của khóa luận 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8
1.1 Hành vi ngôn ngữ 8
1.1.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ 8
1.1.2 Cấu trúc của hành vi ngôn ngữ 10
1.1.3 Dấu hiệu nhận biết các hành vi ngôn ngữ 10
1.1.4 Điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ 12
1.1.5 Phân loại hành vi ngôn ngữ 13
1.1.6 Dạng thức thể hiện của hành vi ngôn ngữ 17
1.2 Hành vi ngôn ngữ chửi 18
1.2.1 Khái niệm 18
1.2.2 Điều kiện xác định hành vi chửi 18
1.2.3 Dấu hiệu nhận biết 19
1.2.4 Dạng thức và phân loại hành vi chửi 21
1.2.4.1 Dạng thức hành vi chửi 21
1.2.4.2 Phân loại hành vi chửi 22
Trang 81.2.5 Phân biệt hành vi chửi trong giao tiếp đời sống với hành vi chửi trong văn bản nghệ thuật
23
1.3 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 25
Tiểu kết chương 1 26
CHƯƠNG 2: MIÊU TẢ HÀNH VI NGÔN NGỮ CHỬI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 28
2.1 Đặc điểm cấu trúc của hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 28
2.1.1 Hành vi chửi có cấu trúc một từ 29
2.1.2 Hành vi chửi có cấu trúc một ngữ 33
2.1.3 Hành vi chửi có cấu trúc một câu (Cụm C-V/ Kết cấu C-V) 38
2.1.4 Hành vi chửi có cấu trúc một đoạn văn 41
2.2 Dạng thức thể hiện của hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 45
2.2.1 Hành vi chửi trực tiếp 46
2.2.1.1 Hành vi tự chửi 47
2.2.1.2 Hành vi chửi một đối tượng khác 47
2.2.2 Hành vi chửi gián tiếp 50
2.2.1.1 Hành vi tự chửi 50
2.2.1.2 Hành vi chửi một đối tượng khác 51
2.3 Vai trò của hành vi ngôn ngữ chửi trong việc thể hiện nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 53
2.3.1 Góp phần thể hiện tính cách, đặc điểm số phận nhân vật 53
2.3.2 Góp phần thể hiện diễn biến tâm lý nhân vật 55
2.3.3 Góp phần thể hiện ý đồ, phong cách nghệ thuật của tác giả 56
Tiểu kết chương 2 58
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 63
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Cấu trúc hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 28 Bảng 2.2: Dạng thức thể hiện của hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 45 Bảng 2.2.1: Hành vi chửi trực tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 46 Bảng 2.2.2: Hành vi chửi gián tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 50
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Cấu trúc hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 28 Biểu đồ 2.1.1: Hành vi ngôn ngữ chửi có cấu trúc một từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 29 Biểu đồ 2.1.2: Hành vi ngôn ngữ chửi có cấu trúc một ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 33
Biểu đồ 2.1.3: Hành vi ngôn ngữ chửi có cấu trúc câu (C-V) trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 39 Biểu đồ 2.1.4: Hành vi ngôn ngữ chửi có cấu trúc một đoạn văn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 42 Biểu đồ 2.2: Dạng thức thể hiện của hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 45
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1.5.1: Sơ đồ phân loại hành vi ngôn ngữ của Recanati 16
Sơ đồ 1.1.5.2: Sơ đồ phân loại hành vi ngôn ngữ của Bach và Harnish 16
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ngữ dụng học là một ngành quan trọng của ngôn ngữ học Với ngữ dụng học,
ngôn ngữ học đã vượt qua những yếu tố nội tại của nó để tiếp cận và đi vào đời sống Dù được giới thiệu vào Việt Nam chưa lâu nhưng ngữ dụng học đã mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới mẻ, hấp dẫn và thú vị Trong số đó, nhóm hành vi ngôn ngữ được xem
là những vấn đề cơ bản và cốt lõi của ngữ dụng học Hành vi ngôn ngữ được chia thành nhiều tiểu nhóm Chửi là một trong số hành vi ngôn ngữ đặc trưng của hoạt động nói
năng và thường được xem là hiện tượng “phản chuẩn” Dù mang tính chất kiêng kị
nhưng hành động này vẫn xuất hiện không ít Chúng ta có thể bắt gặp hành vi chửi trong cuộc sống hằng ngày ở nhiều nơi, ở nhiều đối tượng với nhiều sắc thái và mục đích khác nhau Ở lĩnh vực văn chương nghệ thuật, các nhà văn cũng sử dụng hành vi này trong việc xây dựng ngôn ngữ của nhân vật Như vậy, hành vi ngôn ngữ chửi không hoàn toàn
là hành vi “phản chuẩn” như nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định
1.2 Nguyễn Huy Thiệp là một trong những cây bút nổi bật của văn đàn Việt Nam
thời kì đổi mới Ông thể nghiệm ngòi bút ở nhiều thể loại nhưng thành công hơn cả với truyện ngắn Truyện ngắn của ông phản ánh chân thực cuộc sống với đề tài vô cùng phong phú Ngôn ngữ trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp vừa lạnh lùng, dửng
dưng nhưng cũng rất “xăm xoi” khó chịu Do đó, khi tìm hiểu và nghiên cứu những hành
vi ngôn ngữ, cụ thể là hành vi chửi, chúng ta có thể nhận thấy hành vi này biểu hiện rất phong phú, đa dạng trong các sáng tác truyện ngắn của ông Điều này góp phần thể hiện nội dung, tư tưởng của tác phẩm, tạo nên phong cách nghệ thuật độc đáo của tác giả Đồng thời, nhờ hành vi chửi, các truyện ngắn của ông đã để lại nhiều dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc, ngày càng hấp dẫn và thu hút nhiều độc giả hơn nữa
Từ những cơ sở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Hành vi ngôn ngữ
chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” với mục đích muốn tìm hiểu và lý giải việc
sử dụng hành vi ngôn ngữ này Qua đó, chúng ta có thể thấy những biểu hiện đa dạng cũng như vai trò của hành vi này trong việc thể hiện phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn
Trang 132 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ và hành vi ngôn ngữ chửi
Hành vi ngôn ngữ là một loại hành vi đặc biệt được thực hiện bằng phương tiện ngôn ngữ Vào những năm 60 của thế kỉ XX, Austin – một nhà triết học người Anh – là
người đầu tiên phát hiện ra bản chất của hành vi trong lời nói Theo Austin, “khi chúng
ta nói năng là chúng ta đang thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi một người nói (người viết) nói
ra một phát ngôn cho người nghe (người đọc) trong ngữ cảnh” Cũng theo Austin, hành
động ngôn ngữ được phân loại thành 5 nhóm bao gồm:
Nhóm (1) phán xử Nhóm (2) hành xử Nhóm (3) cam kết Nhóm (4) trình bày Nhóm (5) ứng xử Hành vi chửi được xếp vào phạm trù của nhóm (5) Hành vi này thể hiện cách ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với các sự vật, sự việc có mối liên quan với nhau
Cách phân loại của Austin được các nhà nghiên cứu khác công nhận, tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều cho rằng cách phân loại của Austin còn những hạn chế nhất định Một trong những nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trong cách phân chia của Austin là Searle Searle đưa ra 12 tiêu chí phân loại Từ đó, Searle đã phân lập thành 5 nhóm hành vi:
- Nhóm tái hiện (miêu tả, trần thuật, khẳng định, thông báo, )
- Nhóm điều khiển (ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, sai, mời, khuyên, )
- Nhóm cam kết (hứa hẹn, cam đoan, đe doạ, thề, tặng, biếu, )
- Nhóm biểu cảm (xin lỗi, cảm ơn, khen, phê bình, chê, )
- Nhóm tuyên bố (tuyên bố, tuyên án, buộc tội, bổ nhiệm, từ chức, )
Trang 14Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ chửi, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về hành vi này được khai thác ở hai nguồn chính là lời nói hàng ngày và lời thoại của nhân vật trong văn học Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về vấn đề này như:
Cuốn “Ngoa ngữ trong dân gian Việt Nam” (1998), Nguyễn Văn Hoa đã sưu tầm, tập hợp các lời chửi trong dân gian Việt Nam Theo tác giả, “ngoại trừ tiếng chửi nựng
yêu con cháu hoặc tiếng răn đe còn lại, theo tôi, do tâm trạng nặng nề, cáu giận, thù ghét mà phải bật lên tiếng chửi Đó là võ miệng cần thiết để hạ nhục đối phương” Như
vậy, tác giả đã lí giải về nguồn gốc và tính chất của tiếng chửi trong dân gian một cách sinh động
Theo tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1999), ông
đã nhận xét tiếng chửi người Việt ở góc độ nghệ thuật ngôn từ như sau: “Thậm chí ngay
cả trong việc chửi nhau, người Việt cũng chửi bài bản, cân đối, nhịp nhàng, đầy chất thơ, không chỉ chửi lời mà cả cách chửi, dáng chửi, điệu chửi, cũng mang tính nhịp điệu Đó là một nghệ thuật độc đáo mà có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có thể
có được” [15-tr.162] Tác giả đã cho người đọc thấy được tính hài hòa cân xứng của
nghệ thuật ngôn từ Việt Nam nói chung và lời chửi nói riêng
Trong luận án tiến sĩ “Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của hành động chửi qua lời
thoại nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam” (2013), Trần Thị Hoàng Yến đã chỉ ra và
phân tích chi tiết các đặc điểm ngữ nghĩa hành động chửi từ đó cho thấy phong cách nghệ thuật của các nhà văn trong việc sử dụng ngôn từ để xây dựng nhân vật
Bài báo “Xác định và phân loại hành động ngôn ngữ chửi mắng trong tiếng Việt”
(tạp chí Văn hóa và Đời sống, số 7 (235), 2014) của tác giả Mai Thị Hảo Yến đã đi xác định và phân loại hành động chửi trên nhiều tiêu chí: các từ chửi mắng, chức năng chửi mắng, biểu thức ngữ vi, mối quan hệ giữa các thành phần của mệnh đề với ngữ cảnh, Qua đó, chúng ta có những hiểu biết sâu sắc hơn về hành vi chửi trong cuộc sống và trong văn học nghệ thuật
Trong bài báo “Văn hóa giao tiếp của người Việt qua hành động ngôn ngữ chửi”
(tạp chí Văn hóa và Đời sống, số 3 (233), 2015), tác giả Mai Thị Hảo Yến đã chú ý đến
tiêu chí văn hóa của hành vi chửi Tác giả đưa ra nhận định “Chửi là một hành động
ngôn ngữ khá đặc trưng và hết sức nhạy cảm trong nói năng của người Việt Có rất nhiều sắc thái văn hóa giao tiếp khác nhau được thể hiện qua hành động này” Hành
Trang 15động chửi thể hiện những bản sắc của người Việt trong giao tiếp Đồng thời tác giả đã phân tích các biểu hiện phong phú của tiếng chửi nhằm chứng minh cho một nét văn hóa bản sắc của người Việt khi thể hiện thái độ, tình cảm Tác giả cũng đã khẳng định rằng
hành vi chửi không hoàn toàn “phản chuẩn”, “thiếu văn hóa”
2.2 Nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có sức hút mạnh mẽ với người đọc và các nhà nghiên cứu Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về truyện ngắn của ông như:
Bài báo “Diễn ngôn nhân vật trong nhóm truyện ngắn thế sự của Nguyễn Huy
Thiệp” của tác giả Phan Thị Điệp đăng trên Hội thảo khoa học sinh viên lần thứ IX
(2016) đã tiến hành khảo sát, phân loại, phân tích các diễn ngôn độc thoại, đối thoại (song thoại, đa thoại) trong truyện ngắn thế sự của Nguyễn Huy Thiệp trên các phương diện: đặc điểm, tính chất, hình thức, chức năng nghệ thuật,
Tác giả Phan Thị Hoài trong luận văn “Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa lời chửi
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (2004, Đại học Vinh) phân tích cụ thể về cấu trúc
hành vi chửi và các nhân tố chi phối đến ngữ nghĩa lời chửi trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Đồng thời, tác giả đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của ngữ nghĩa trong lời chửi để rút ra những bản sắc văn hóa dân tộc
Luận văn tốt nghiệp của tác giả Hoàng Khánh Hưng với đề tài “Đặc điểm về ngôn
ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (2005) đã làm sáng tỏ những đặc điểm ngôn
ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Đồng thời tác giả cũng đưa ra những cảm nhận ban đầu về việc sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác của nhà văn
Khóa luận “Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của tác giả Nguyễn Chí
Công (2013) đã phân tích, lý giải những đặc sắc về cách lựa chọn đề tài, xây dựng cốt truyện, xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu, một cách sâu sắc
Luận văn “Lớp từ, ngữ thông tục trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp”
(2017) của tác giả Vũ Thị Thanh Hà miêu tả cụ thể, chi tiết về các lớp từ ngữ thông tục trong cách xưng hô, lời chửi, câu chửi của nhân vật trong truyện Vũ Thị Thanh Hà khẳng định từ ngữ thông tục thuộc nhóm kiêng kị trong giao tiếp Đồng thời, khóa luận cho
Trang 16người đọc nhận thấy vai trò, tác dụng của lớp từ ngữ thông tục trong việc thể hiện nội dung, ý đồ và phong cách nghệ thuật nhà văn
Như vậy, những công trình trên, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, văn hóa học
đã phần nào làm sáng tỏ các yếu tố của hành vi chửi: nguồn gốc, đặc điểm, tính chất,
Có thể thấy nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp khá phong phú trên các góc độ: nội dung, nghệ thuật, ngôn ngữ, ngữ dụng học, Tuy nhiên, nghiên cứu về hành vi chửi
trong văn học của một tác giả cụ thể thì chưa được dồi dào, phong phú Vì vậy, “Hành
vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” sẽ là một đề tài có những hấp
dẫn, mới mẻ riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Khóa luận nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm cấu trúc, dạng thức thể hiện của hành
vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Đồng thời, khóa luận chỉ ra và phân tích tác dụng, vai trò của hành vi này trong việc thể hiện nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm
- Khóa luận góp phần làm sáng tỏ một số biểu hiện về phong cách nghệ thuật ngôn từ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp qua các tác phẩm của ông
- Khóa luận góp phần phục vụ cho hoạt động tiếp nhận, học tập, nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng và các tác phẩm văn học nói chung từ lý thuyết ngữ dụng học cụ thể là từ góc độ hành vi ngôn ngữ học
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được được những mục đích trên, khóa luận cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu, phân tích các lý thuyết có liên quan đến khóa luận
- Khảo sát, thống kê và phân loại hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
- Phân tích, đánh giá về hành vi chửi được tác giả Nguyễn Huy Thiệp đưa vào truyện ngắn của mình Qua đó, đưa ra những nhận xét về vai trò của hành vi này trong việc thể hiện nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm
Trang 174 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu lý thuyết, làm cơ sở cho các phát hiện, kết quả nghiên cứu ở các nội dung trong khóa luận
- Phương pháp miêu tả: Đi sâu vào miêu tả các đặc điểm, cấu trúc, dạng thức, tiểu loại của hành vi ngôn ngữ chửi
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở khảo sát, thống kê, phân loại, chúng tôi thực hiện phân tích từng đặc điểm cấu trúc, dạng thức thể hiện của hành vi ngôn ngữ chửi Từ đó khái quát các đặc điểm, tìm ra vai trò hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
- Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê các hành vi ngôn ngữ chửi trong
“Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, phân loại, tính tỉ lệ các cấu trúc, dạng thức thể hiện
hành vi ngôn ngữ chửi đã khảo sát, thống kê trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu các nhóm cấu trúc, dạng thức
để phân loại, phân tích So sánh với những tác phẩm, tác giả cùng thời để tìm ra điểm độc đáo
5 Nội dung chính của khóa luận, các vấn đề cần giải quyết
- Khái quát lý luận về hành vi ngôn ngữ: Khái niệm, cấu trúc, dấu hiệu nhận biết, điều kiện sử dụng, dạng thức thể hiện, phân loại,
- Tìm hiểu lý thuyết về hành vi ngôn ngữ chửi: Khái niệm, dấu hiệu nhận biết, điều kiện xác định, phân loại,
- Khái quát về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp: Khái quát về tác giả; đặc điểm, phong cách truyện ngắn của nhà văn
- Hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp:
+ Đặc điểm cấu trúc hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp + Dạng thức thể hiện hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp + Phân tích vai trò của hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 186 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Cuốn tuyển tập “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” – NXB
Văn hóa Sài Gòn, 2007
7 Dự kiến kết quả và đóng góp của khóa luận
- Về mặt lý luận: Khóa luận góp phần làm phong phú các tài liệu chuyên ngành, góp phần thúc đẩy sự phát triển của chuyên ngành ngữ dụng học cụ thể ở phương diện hành vi ngôn ngữ qua việc nghiên cứu hành vi ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương Đồng thời, khóa luận góp phần thể hiện hướng tiếp cận khác cho văn học: từ hành vi ngôn ngữ để tìm hiểu nội dung, nghệ thuật và phong cách của tác giả
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận giới thiệu một cách nhìn về hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Khóa luận hi vọng sẽ là một tài liệu tin cậy, cung cấp, bổ sung những kiến thức hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
8 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận có cấu trúc gồm 2 chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lí luận
- Chương 2: Miêu tả hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Hành vi ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ là một loại hành vi đặc biệt, hành vi được thực hiện nhờ phương tiện ngôn ngữ Austin là nhà triết học gia người Mỹ đầu tiên phát hiện ra bản chất của hành vi ngôn ngữ Lí thuyết về hành vi ngôn ngữ trở thành xương sống của Ngữ dụng học và được nhiều nhà khoa học quan tâm Sau này, lý thuyết về hành vi ngôn ngữ tiếp tục được các nhà nghiên cứu kế thừa và phát triển
C.Austin và J.Searle đều tin rằng ngôn ngữ không chỉ dùng để miêu tả hay thông
báo mà còn được dùng để “làm cái gì đó” Theo đó, trong cuốn “Dụng học Việt ngữ”, Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra nhận định “các hành động được thực hiện bằng lời gọi là
hành động ngôn từ (speech act)”[5-tr.38]
Theo nghĩa rộng (theo Austin), “hành vi ngôn ngữ trong nói năng bao gồm ba
hành vi: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời” [1-tr.88] Trong đó:
Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố và quy tắc của ngôn ngữ để tạo ra một phát ngôn, diễn ngôn về hình thức và nội dung Sản phẩm của hành vi tạo lời thuộc
về phạm vi nghiên cứu của cú pháp học
Hành vi mượn lời là hành vi “mượn” các phát ngôn nhằm gây ra một hiệu quả
nào đó ngoài ngôn ngữ ở người nghe, người nhận hay chính người nói Hiệu lực mượn lời thuộc về phạm vi nghiên cứu của xã hội học
Hành vi ở lời (còn gọi là hành vi tại lời, hành vi ngôn trung) là hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng tức đích của nó nằm ở trong chính phát ngôn đó Hành vi ở lời tạo ra các hiệu lực ở lời Nó là đối tượng nghiên cứu chính của Ngữ dụng học
Ví dụ (1):
SP1: Bao giờ cậu lên trường vậy?
SP2: Hai tuần nữa
Trang 20SP1 đã thực hiện hành vi hỏi ngay trong phát ngôn “Bao giờ cậu lên trường
vậy?” Đích đặt ra của hành vi hỏi trong phát ngôn này là SP1 bày tỏ mong muốn được
giải đáp “thời gian lên trường” của SP2 SP2 tiếp nhận hành vi hỏi của SP1 và hồi đáp
đúng vào đích đã đặt ra Lời hồi đáp của SP2 chứng tỏ hiệu quả của hành vi ở lời hỏi
Khác với hành vi mượn lời, “hành vi ở lời là hành vi có ý định, có quy ước và thể
chế, được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác”
[1-tr.89] Bên cạnh đó, hành vi ở lời có thể làm thay đổi tư cách pháp nhân của người
đối thoại “chúng đặt người nói, người nghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với
tình trạng của họ trước khi thực hiện hành vi ở lời đó” [1-tr.90] Thí dụ, khi ta hứa với
ai một điều gì thì ngay lúc hứa ta đã bị ràng buộc vào trách nhiệm thực hiện lời hứa đó
và người nghe có quyền lợi chờ đợi lời hứa thực hiện
Theo nghĩa hẹp, hành vi ngôn ngữ được dùng để chỉ hành vi ở lời Ở khóa luận, chúng tôi sẽ dùng thuật ngữ hành vi ngôn ngữ theo nghĩa hẹp, đồng nghĩa với thuật ngữ hành vi ở lời để đi miêu tả, phân tích hành vi ngôn ngữ chửi của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Bởi lẽ, chỉ có hành vi ở lời và hiệu lực của hành vi ở lời là đối tượng nghiên cứu của Ngữ dụng học Theo đó, hành vi ngôn ngữ được xem là những hành động ở lời của nhân vật được thực hiện trong hoàn cảnh nhất định Hành vi ngôn ngữ đó có chủ ý và nhằm mục đích nhất định Về cơ bản, hành vi ngôn ngữ chửi sẽ tạo
ra những tác động trực tiếp, sâu sắc, mạnh mẽ tới đối tượng bị chửi
Ví dụ (2): “Tiên sư bố nhà mày, tao cho mày ăn học mà thế à?”
Đây là hành vi chửi của bà mẹ với người con trong cuộc sống hàng ngày
Hay trong văn học, dù được coi là hành vi kiêng kị song cũng xuất hiện không ít hành vi chửi:
Trang 21Khi thực hiện hành vi chửi, người phát ngôn đã thực hiện được mục đích của mình: thỏa mãn cơn cáu giận, khinh thường, nhục mạ, hạ thấp đối phương, đồng thời các phát ngôn được tạo ra đạt mức độ thậm xưng cao
1.1.2 Cấu trúc của hành vi ngôn ngữ
Theo lí thuyết hành vi ngôn ngữ, trong một phát ngôn gồm 2 thành phần:
Nội dung miêu tả (hay còn gọi là nội dung mệnh đề, nội dung biểu hiện, nội dung
sự tình) là phần nội dung trong phát ngôn phản ánh thế giới khách quan được người nói nhận thức và đưa vào phát ngôn Ký hiệu là (p)
Hiệu lực ở lời là hiệu lực do hành vi ngôn ngữ được thực hiện đem lại; biểu thị quan hệ Ký hiệu là (F)
Như vậy, công thức của một phát ngôn như sau (theo Searle):
F(p)
Xem xét các thí dụ sau:
(5) Chị Lan đi chợ
(6) Chị Lan đi chợ đi!
(7) Chị Lan đi chợ phải không?
Cả 3 phát ngôn cùng có chung một nội dung mệnh đề (p): Chị Lan đi chợ nhưng
chúng lại thực hiện các hành vi ngôn ngữ khác nhau, do đó, chúng có hiệu lực ở lời khác nhau Phát ngôn (5) có hiệu lực ở lời của hành vi thông báo Phát ngôn (6) có hiệu lực ở lời của hành vi rủ Phát ngôn (7) có hiệu lực ở lời của hành vi hỏi
Như vậy, nghĩa của một phát ngôn bất kì là sự tổ hợp hai thành phần nghĩa F và (p) Về nguyên tắc hai thành phần ngữ nghĩa này phải có sự thống nhất Như vậy, nắm được cả hai thành phần này thì mới hiểu đúng phát ngôn để hồi đáp phát ngôn một cách thỏa đáng
1.1.3 Dấu hiệu nhận biết các hành vi ngôn ngữ
Nhận diện hành vi ngôn ngữ cần phụ thuộc vào nhiều dấu hiệu Mỗi một hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời) được đặc trưng hóa bởi một biểu thức ngữ vi Biểu thức ngữ vi còn gọi là biểu thức ở lời, biểu thức ngôn trung Nhờ vào biểu thức ngữ vi, người ta có
Trang 22thể nhận diện được hành vi ngôn ngữ Đồng thời, mỗi biểu thức ngữ vi lại phân biệt với nhau bởi các dấu hiệu hình thức nhất định Những dấu hiệu đó được Searle gọi là
“phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời” Các phương tiện này chính là dấu hiệu nhận biết
các hành vi ngôn ngữ, gồm:
Kiểu kết cấu: là các kiểu câu theo ngữ pháp truyền thống như cầu khiến, trần
thuật, câu hỏi, Kiểu câu tương ứng với các hành vi ở lời Kiểu kết cấu “có không?”,
“sao thế?”, “tại sao như thế?” đặc trưng cho hành vi hỏi; Kiểu kết cấu
“anh/chị/cô/cậu/ cứ yên tâm, tôi sẽ ”, “tôi/chúng tôi/ hứa/ cam đoan/ chắc chắn/ nhất định sẽ ” đặc trưng cho hành vi hứa;
Từ ngữ chuyên dùng: Các từ ngữ chuyên dùng có chức năng cấu tạo nên các kết cấu câu Mỗi loại biểu thức ngữ vi có thể chứa những từ ngữ đặc trưng cho hành vi ở lời
đó Ví dụ biểu thức ngữ vi hỏi thường chứa các từ ngữ chuyên dùng như ai, gì, nào, đâu,
có không, đã chưa, phải không, Biểu thức ngữ vi cầu khiến thường chứa các từ hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào, Biểu thức ngữ vi cảm thán thường chứa các từ ngữ chuyên
dùng như ôi, chao ôi, giời ơi,
Ngữ điệu: Ngữ điệu có vai trò quan trọng trong việc tạo nên hiệu lực của một hành vi ở lời Ngữ điệu phát ra khác nhau sẽ tạo ra các biểu thức ngữ vi ứng với hành vi
ở lời khác nhau dù chúng có cùng một tổ chức từ vựng, ngữ pháp
Ví dụ (8): SP1: Tao sẽ chờ ở đây
Tùy thuộc vào ngữ điệu của người nói mà phát ngôn trên mang bản chất của biểu thức ngữ vi hứa hoặc thách thức Nếu người nói phát ngôn với ngữ điệu nhẹ nhàng, không kèm theo yếu tố phi ngôn ngữ thì đây có thể được xem là biểu thức ngữ vi hứa Nếu người phát ngôn kèm theo ngữ điệu gay gắt, quyết liệt, kèm theo yếu tố phi ngôn ngữ như ánh mắt, cử chỉ, thì chúng thể hiện sự thách thức rõ ràng
Quan hệ cấu trúc ngữ nghĩa của các thành tố tạo nên nội dung mệnh đề: Sự xác định loại biểu thức ngữ vi còn tùy thuộc vào bản chất quan hệ giữa các yếu tố xuất hiện
trong biểu thức ngữ vi ấy, tức là “mối quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc vị từ -
tham thể tạo ra nội dung mệnh đề được nêu trong biểu thức ngữ vi với các nhân tố của ngữ cảnh” [1-tr.94] Những tính chất như tự nguyện hay bắt buộc, tích cực hay tiêu cực,
xấu hay tốt, của hành vi đối với cả người phát ngôn và người nhận cũng được coi là phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời
Trang 23Động từ ngữ vi: Động từ ngữ vi biểu thị cho một biểu thức ngữ vi tường minh
Đó là những động từ nói năng biểu thị hành vi ngôn ngữ “Động từ ngữ vi là những động
từ mà khi phát âm, chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi là người nói thực hiện luôn hành
vi ở lời do chúng biểu thị” [1-tr.97] Thí dụ, khi nói “Anh nên cai thuốc lá.”, người nói
đã thực hiện luôn hành vi khuyên thể hiện qua động từ ngữ vi “nên” hoặc “Tôi hứa tôi
sẽ hoàn thành đúng hạn.”, trong cuộc giao tiếp, người nói đã thực hiện ngay hành vi ở
lời hứa bằng cách phát âm động từ “hứa”
1.1.4 Điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ
Khi xem xét hành vi ngôn ngữ, đặc biệt trong chuyên ngành ngôn ngữ học, chúng
ta thường xem xét hành vi ở lời Giống với các hành vi khác (sinh lý, vật lý, ), hành vi
ở lời cũng cần phải có những điều kiện nhất định Hơn nữa, hành vi ở lời thuộc nhóm hành vi xã hội, vì vậy, điều kiện sử dụng hành vi ở lời lại càng nghiêm ngặt hơn Nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng đã đưa ra những hệ thống lý thuyết về điều kiện sử dụng hành
vi ngôn ngữ (hành vi ở lời) Tiêu biểu là hệ thống những điều kiện sử dụng của Austin
và Searle
Austin đã xem xét các điều kiện sử dụng hành vi ở lời “là những điều kiện may
mắn (felicity conditions) nếu chúng được đảm bảo thì hành vi mới thành công, đạt hiệu quả Nếu không thì nó sẽ thất bại” [1-tr.112]
Theo đó, những điều kiện “may mắn” gồm:
“Thứ nhất, phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng có tính quy ước Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong thủ tục
Thứ hai, thủ tục phải được thực hiện một cách đúng đắn và đầy đủ
Thứ ba, thông thường những người thực hiện hành vi ở lời phải có suy nghĩ, tình cảm và ý định như đã đề ra trong thủ tục và khi hành động diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm,
ý định đúng như nó đã có” [1-tr.112]
Sau này, Searle đã có những chỉnh sửa và bổ sung vào những điều kiện “may
mắn” của Austin và gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏa mãn Có tất cả
bốn điều kiện:
Trang 24Điều kiện nội dung mệnh đề là điều kiện chỉ ra bản chất nội dung của hành vi Không có nội dung mệnh đề thì sẽ không thể thực hiện được hành vi ngôn ngữ
Ví dụ (9): Cái áo này bạn mua ở đâu?
Ở ví dụ trên, để thực hiện hành vi "hỏi", người nói phải xác định rõ nội dung
mệnh đề là hành vi hỏi cái gì (hỏi địa điểm mua áo, hỏi cửa hàng bán áo đó), quyền lợi, trách nhiệm, của người nghe và các quan hệ giữa người nói và người nghe
Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người nói về năng lực, lợi ích, ý định, quyền lợi, trách nhiệm, của người nghe và các quan hệ giữa người nói và người nghe Thí dụ, hành vi ra lệnh đòi hỏi khi ra lệnh người nói phải tin người nghe có khả năng thực hiện được lệnh, người nói ở vị thế cao hơn và có đủ quyền để buộc người nghe thực hiện lệnh
Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người nói Điều kiện này cho thấy sự chân thành, mong mỏi của người nói vào hiệu quả ở lời
Ví dụ (10): SP1: Anh yêu em
Khi SP1 bày tỏ tình cảm mà trên thực tế người nói chỉ lợi dụng tình cảm thì lời bày tỏ này không chân thành
Điều kiện căn bản đưa ra kiểu trách nhiệm mà người phát ngôn hoặc người nghe
bị ràng buộc khi hành vi ở lời được phát ra Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ được thực hiện hoặc rơi vào tính chân thực của nội dung Thí dụ khi người nói thực hiện hành vi hỏi thì người nghe phải có trách nhiệm đưa ra đáp án cho câu hỏi đó
1.1.5 Phân loại hành vi ngôn ngữ
Trong thực tiễn giao tiếp, các hành vi ngôn ngữ được thực hiện vô cùng phong phú và đa dạng Việc phân chia các hành vi ngôn ngữ đã gặp không ít khó khăn Hiện nay, các cách phân loại chưa đạt được sự thống nhất cao, tồn tại nhiều cách phân chia (cách phân loại của Austin, Wittgenstein )
Austin đã thử nghiệm phân loại Theo Austin, có tất cả 5 phạm trù, bao gồm: (1) Phán xử; (2) Hành xử; (3) Cam kết; (4) Trình bày; (5) Ứng xử Ngoài 5 phạm trù trên, Vendler đã bổ sung 2 phạm trù nữa là: phạm trù thao tác (chỉ định, bổ nhiệm, đề bạt, )
và phạm trù nghi vấn (hỏi, chất vấn, )
Trang 25Một trong những cách phân chia đáng chú ý nhất là của Searle Ông là người đầu tiên vạch ra hạn chế trong cách phân loại của Austin và cho rằng kết quả phân loại của Austin bị dẫm đạp lên nhau là do chưa đặt ra các tiêu chí phân loại một cách cụ thể
Searle đã đưa ra 12 tiêu chí phân loại trong đó có 4 tiêu chí quan trọng:
1 Đích ở lời
2 Hướng khớp ghép lời - hiện thực
3 Trạng thái tâm lý
4 Nội dung mệnh đề
Từ 4 tiêu chí, Searle đã phân lập thành 5 nhóm hành vi:
- Nhóm tái hiện (miêu tả, trần thuật, khẳng định, thông báo, )
+ Đích ở lời: người nói qua phát ngôn để miêu tả một sự tình đang được nói đến + Hướng khớp ghép là: lời - hiện thực (lời phải phù hợp với hiện thực)
+ Trạng thái tâm lý là niềm tin vào điều trình bày
+ Nội dung mệnh đề: là một mệnh đề được đánh giá theo tiêu chí đúng sai
Thí dụ (11): SP1: Tôi đã đến thăm Vịnh Hạ Long vào một ngày đẹp trời
Bằng phát ngôn của mình, SP1 đã xác nhận sự việc đến thăm Vịnh Hạ Long Các hành vi ngôn ngữ tiêu biểu: miêu tả, xác nhận, trần thuật,
- Nhóm điều khiển (ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, sai, mời, khuyên, )
+ Đích ở lời là người nói thông qua phát ngôn để đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành vi trong tương lai
+ Hướng khớp ghép là hiện thực - lời (hiện thực phải phù hợp với lời)
+ Trạng thái tâm lý là sự mong muốn của SP1
+ Nội dung mệnh đề là hành động trong tương lai của SP2
Ví dụ (12): SP1: Con đi học mau! (hành vi ra lệnh)
Bằng phát ngôn của mình, SP1 đã đặt SP2 vào trách nhiệm thực hiện hành động
“đi học” ở tương lai
Trang 26- Nhóm cam kết (hứa hẹn, cam đoan, đe doạ, thề, tặng, biếu, )
+ Đích ở lời là người nói thông qua phát ngôn tự đặt mình vào trách nhiệm phải thực hiện một hành động trong tương lai
+ Hướng khớp ghép là hiện thực - lời (hiện thực phải phù hợp với lời)
+ Trạng thái tâm lý là ý định của người nói
+ Nội dung mệnh đề là hành động trong tương lai của người nói
Ví dụ (13): SP1: Tối mai tớ sẽ qua nhà cậu học!
Bằng phát ngôn của mình, SP1 đã tự đặt mình vào trách nhiệm phải thực hiện
hành động “qua” ở tương lai “Tối mai”
- Nhóm biểu cảm (xin lỗi, cảm ơn, khen, phê bình, chê )
+ Đích ở lời là người nói thông qua phát ngôn nhằm bày tỏ trạng thái, tâm lý, tình cảm, cảm xúc,
+ Hướng khớp ghép là lời - hiện thực (lời phải phù hợp với hiện thực)
+ Trạng thái tâm lý thay đổi theo từng loại hành vi: vui thích/ khó chịu, mong muốn/ rẫy bỏ/
+ Nội dung mệnh đề là hành động hoặc tính chất nào đó có tư cách là nguồn gây
ra cảm xúc của người nói
Ví dụ (14): SP1: Ôi, cái áo này đẹp quá!
Bằng phát ngôn, SP1 đã bày tỏ trạng thái vui thích của mình
- Nhóm tuyên bố (tuyên bố, tuyên án, buộc tội, bổ nhiệm, từ chức, )
+ Đích ở lời là người nói thông qua phát ngôn làm nội dung mệnh đề có hiệu lực + Hướng khớp ghép: lời - hiện thực hoặc hiện thực - lời
+ Trạng thái tâm lý: ý định của người nói
+ Nội dung mệnh đề: là một mệnh đề
Ví dụ (15): SP1: Tòa tuyên án bị cáo A vô tội
Bằng phát ngôn của mình, SP1 khiến nội dung “bị cáo A vô tội” trở nên có hiệu lực
Trang 27Ngoài các cách phân loại trên của Austin và Searle còn có các cách phân loại của
F Recanati, K Bach và Harnish Kết quả nghiên cứu của họ được thể hiện dưới các sơ
đồ sau:
Sơ đồ 1.1.5.1: Sơ đồ phân loại hành vi ngôn ngữ của Recanati
Sơ đồ 1.1.5.2: Sơ đồ phân loại hành vi ngôn ngữ của Bach và Harnish
Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng cách phân loại của Searle bởi các tiêu chí phân loại của ông khá đầy đủ và logic Bên cạnh đó, với các tiêu chí của Searle chúng tôi có thể phân tích, lý giải cụ thể, sâu sắc hơn về hành vi ngôn ngữ được nghiên cứu – hành vi ngôn ngữ chửi
Cam kết
Trang 281.1.6 Dạng thức thể hiện của hành vi ngôn ngữ
Xét trong mối tương quan giữa hình thức và mục đích diễn đạt, hành động ngôn ngữ được biểu hiện dưới hai dạng thức cơ bản: hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là hành vi ngôn ngữ được sử dụng đúng với điều kiện
sử dụng và đích ở lời Hay nói khác đi, hành vi ngôn ngữ trực tiếp là những hành vi ở lời chân thực
Ví dụ (16): SP1: Bạn đã làm bài tập về nhà chưa?
Ở ví dụ trên, người nói đã thực hiện hành vi hỏi nhằm nhận được câu trả lời (về bài tập được giao) Như vậy, người phát ngôn muốn nhận được thông tin nào đó từ người khác thì thực hiện hành vi hỏi với đích là hỏi, hành vi này được thực hiện trực tiếp
Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, không phải lúc nào người ta cũng sử dụng những hành vi ngôn ngữ chân thực, trực tiếp Tùy theo hoàn cảnh nói năng cụ thể, người nói sử dụng một hành vi ở lời này để thực hiện hành vi ở lời khác, khi đó, người nghe bằng những hiểu của mình để suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác Searle
đã đặt tên cho những hành vi ở lời thuộc nhóm này là “hành vi ngôn ngữ gián tiếp”
Nghiên cứu về hành vi ngôn ngữ gián tiếp, các nhà nghiên cứu Việt Nam, tiêu biểu là
tác giả Đỗ Hữu Châu đã phát biểu: “hiện tượng người giao tiếp sử dụng trên bề mặt
hành vi ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành vi ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành vi ngôn ngữ theo lối gián tiếp Một hành vi được sử dụng gián tiếp
là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác.” [1-tr.146] Hành vi ngôn ngữ
gián tiếp được xem là hành vi phổ biến trong cuộc sống Hành vi ngôn ngữ gián tiếp là một trong những cách thức tạo ra hàm ý cho những phát ngôn
Ví dụ (17): SP1: Dạo này bác vẫn khỏe chứ?
Hành động ngôn ngữ này có hình thức là hành vi hỏi nhưng được dùng với mục đích để chào, thăm hỏi
Trang 291.2 Hành vi ngôn ngữ chửi
1.2.1 Khái niệm
Về khái niệm “chửi”, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Trong một số từ điển Tiếng Việt, chửi là “dùng lời độc ác và thô tục nói phạm đến người
khác” [14-tr.7] hoặc “Chửi là thốt ra những lời cay độc để làm nhục” [18-tr.19] Theo
đó, cả hai khái niệm này có điểm chung về người nói đã dùng những lời lẽ thô tục, độc
ác để nhục mạ người nghe Người nghe tiếp nhận hành vi đó trong sự không mong muốn Hành vi này hướng tới cái đích để người nghe bị xâm phạm đến thể diện
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Tuyết Ngân cho rằng: “Chửi là một hiện tượng văn
hoá ngôn từ phản chuẩn bày tỏ một cách chủ động phản ứng bất bình nhằm làm giảm căng thẳng tinh thần của người chửi và hạ uy tín của người bị chửi” [13-tr.33] Về cơ
bản, định nghĩa mà Nguyễn Thị Tuyết Ngân đưa ra không nằm ngoài những nội dung
mà hai từ điển đã chỉ ra Tuy nhiên, định nghĩa của Nguyễn Thị Tuyết Ngân đã hoàn thiện cho khái niệm hành vi chửi ở chỗ: Người nói chủ động tạo ra hành vi để cân bằng lại trạng thái tinh thần; Người nghe phải tiếp nhận hành vi đó Đích mà hành vi này hướng đến là làm hạ thấp uy tín của người nghe Ngoài ra, định nghĩa trên còn cho thấy
sự mới mẻ ở chỗ nhìn nhận hành vi từ góc độ ngôn ngữ Theo đó, hành vi chửi được xem
là “một hiện tượng văn hoá ngôn từ phản chuẩn”
Các định nghĩa trên đã đề cập tới khái niệm của hành vi chửi Những khái niệm đưa ra ở trên phần nào đã lí giải các nhân tố của hành vi chửi Tuy nhiên, vẫn chưa có một định nghĩa nào cụ thể, thống nhất về hành vi này Từ bình diện ngữ dụng học, chúng tôi cho rằng: hành vi chửi là một hành vi văn hóa trong đó người nói sử dụng những lời
lẽ thô tục, phản chuẩn để thể hiện trạng thái cảm xúc bất thường (tức giận, căm ghét, ) trong ngữ cảnh nào đó nhằm làm hạ nhục người nghe Hành vi này gây ra những tổn thương (thể diện và tinh thần) ở đối phương
1.2.2 Điều kiện xác định hành vi chửi
Điều kiện xác định một hành vi ngôn ngữ chửi vẫn dựa trên các điều kiện xác định một hành vi ngôn ngữ thông thường bao gồm 4 điều kiện Cụ thể, với hành vi ngôn ngữ chửi được xác định bằng điều kiện sau:
Trang 301 Nội dung mệnh đề: Người thực hiện hành vi chửi thường đưa ra nội dung là những lời chê bai, trách mắng, hạ nhục, sỉ nhục đối phương Đồng thời, hành vi chửi bày
tỏ thái độ kém thiện chí, thể hiện trạng thái cảm xúc bất thường, mãnh liệt của người nói
2 Điều kiện chuẩn bị: Trước khi thực hiện hành vi chửi người nói thường có tâm trạng, thái độ bực tức, cáu gắt, khinh bỉ, Người nói thực hiện hành vi nhằm mục đích
hạ thấp thể diện đối phương, đồng thời giải tỏa, cân bằng lại trạng thái, cảm xúc tâm lý
3 Điều kiện chân thành: Khi trạng thái của người nói thực sự mãnh liệt (giận dữ, cáu gắt, ) đến mức khó kiểm soát, phải bộc phát ra và mong muốn hành vi của mình khiến cho người nghe phải sợ hãi, mất thể diện, phải tổn thương để hả dạ
4 Điều kiện căn bản: Mối quan hệ giữa người nói và người viết sẽ bị thay đổi khi hành vi chửi được thực hiện Mối quan hệ ấy sẽ thay đổi theo hướng tiêu cực, xấu đi
Như vậy, việc phân tích các điều kiện xác định hành vi chửi cho thấy các điều kiện trên chú trọng, xoay quanh và thể hiện các trạng thái cảm xúc, ứng xử của con người Do đó, hành vi chửi được xem là một trong những hành vi tiêu biểu thuộc nhóm hành vi biểu cảm (theo Searle)
1.2.3 Dấu hiệu nhận biết
a) Dựa vào lời dẫn thoại
Theo “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” của tác giả Nguyễn Như Ý: “Lời dẫn là
lời tường thuật của tác giả trong tác phẩm văn học, không chứa lời nói nhân vật” Một
số biểu hiện trong việc nhận diện hành vi chửi qua lời dẫn:
- Dựa vào các động từ chỉ mức độ nói năng kèm theo âm lượng và sắc thái biểu cảm: bảo, mắng, quát, chửi, rủa, thét, gằn, lầu bầu, lảm nhảm,
- Dựa vào các động từ chỉ hành vi phụ trợ cho hành động chửi: xua tay, đập bàn, trừng mắt, nghiến răng, nhếch mép, cau mày, nhăn nhó,
- Dựa vào các động từ miêu tả trạng thái tâm lý của người nói: bực tức, nổi giận, khinh bỉ, căm giận, cợt nhả, hả hê, khoát trá,
b) Dựa vào biểu thức ngữ vi
* Biểu thức ngữ vi chửi thể hiện qua các dấu hiện hình thức, đó là các dấu câu:
Trang 31- Dấu ngoặc kép [“ ”], mỗi lượt chửi được đặt trong ngoặc kép [“ ”], các lượt lời có thể xuống dòng hoặc không
- Biểu thức ngữ vi chửi thường đứng sau dấu hai chấm [:], có thể kết hợp với dấu ngoặc kép [“ ”]
* Bộ phận đứng sau dấu hai chấm [:] và dấu gạch [-] trong lời dẫn
- Người chửi: xuất hiện qua các đại từ xưng hô ngôi thứ nhất (tôi, tao, chúng tao, ông/ bà/ bố/ chị mày, con này, thằng này, ) hoặc ngôi thứ ba (hắn, y, ông ta, chị ấy, ) với thái độ, trạng thái tâm lý bất thường, mãnh liệt
- Người nghe: nhận diện qua những đại từ xưng hô chính thức hoặc lâm thời ở ngôi thứ hai (mày, chúng mày, bọn mày, chúng bay, ) hoặc ngôi thứ ba (nó, con ấy, con nặc nô, con nỡm, con đĩ, mụ già, )
- Nội dung mệnh đề của biểu thức ngữ vi gồm: các hành động trách móc, xỉ vả, xúc phạm nhân phẩm người nghe Người chửi đưa ra những thóa mạ, những yếu kém của người nghe để họ bị tổn thương
+ Các từ ngữ chỉ bộ phận nhạy cảm của cơ thể người mang sắc thái tục tĩu, trần trụi như: vú, hạ bộ, cứt, gây ra cảm giác ghê rợn
+ Lớp từ chỉ loài vật mang đặc tính xấu như: chó, khỉ, ruồi nhặng, lợn,
+ Lớp từ có nội dung đánh giá, nhận xét tiêu cực: điên, ngu, dốt, thần kinh, dở hơi, đê tiện, hèn hạ,
+ Mô hình:
Đồ + x
Trang 32Mô hình trên là kiểu chửi có tính chất sâu cay và xúc phạm nặng nề nhất vì nó sử dụng các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc, gắn với tổ tiên, dòng tộc
1.2.4 Dạng thức và phân loại hành vi chửi
1.2.4.1 Dạng thức hành vi chửi
Hành vi ngôn ngữ chửi được thể hiện ở hai dạng thức cơ bản là hành vi chửi trực tiếp và hành vi chửi gián tiếp Hành vi chửi trực tiếp là hành vi ngôn ngữ sử dụng đúng với điều kiện sử dụng và đích ở lời Hay nói cách khác, hành vi chửi trực tiếp là những hành vi ở lời chân thực Biểu thức ngữ vi của hành vi chửi trực tiếp có chứa các động từ chuyên dùng cho hành vi này Nội dung cũng như đích ở lời và hiệu lực của hành vi chửi
là xúc phạm, tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của người nghe
Chửi gián tiếp là hành vi mà người nói thực hiện một hành vi khác (trần thuật, hỏi, ) nhưng lại nhằm làm cho người nghe (bằng những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ) suy ra hiệu lực ở lời của hành vi ngôn ngữ chửi Khi đó, biểu thức ngữ vi của hành vi chửi gián tiếp là biểu thức ngữ vi của một hành vi khác nhưng đích ở lời và hiệu lực ở lời lại nhằm lăng mạ, xúc phạm đối phương Mà đích và hiệu lực ở lời đó thuộc về hành vi chửi
Ví dụ 19: “Thế mày có giáo dục à?” [16-tr.131]
(Nguyễn Huy Thiệp, “Không có vua”)
Hành vi ngôn ngữ này có biểu thức ngữ vi của hành vi hỏi nhưng được dùng với mục đích lăng nhục nhân vật khác Ở đây, hành vi không nhằm để hỏi mà nó trở thành hành vi chửi Những hành vi chửi như trên gọi là hành vi chửi gián tiếp
Trang 331.2.4.2 Phân loại hành vi chửi
Hiện nay có nhiều cách để phân loại hành vi ngôn ngữ chửi dựa trên các tiêu chí, căn cứ khác nhau: Đích ở lời, hướng khớp ghép giữa hiện thực và từ ngữ, trạng thái tâm
lý của người nói Theo đó, cách phân loại của Trần Thị Hoàng Yến được chú ý hơn cả Trần Thị Hoàng Yến chia hành vi ngôn ngữ chửi làm 8 loại, gồm:
- Chửi trách: là hành vi chửi nhằm mục đích trách móc Hành vi này được thực hiện khi thái độ trách của người nói bị đẩy lên cao hơn bình thường và trở thành hành vi chửi Qua đó, người nói bày tỏ thái độ chưa hài lòng hoặc thất vọng ở người nghe và khiến cho đối phương e ngại, hổ thẹn
- Chửi mắng: là hành vi chửi nhằm mắng nhiếc người nghe Hành vi này thể hiện
sự phản đối với cách ứng xử, nhận thức, suy nghĩ, hành động, kém đạo đức của người nghe Từ đó, người nói muốn người nghe điều chỉnh thái độ, hành vi cho phù hợp Hành
vi chửi mắng là cách người nói giải tỏa thái độ bực tức của bản thân
- Chửi rủa: là hành vi chửi nhằm mục đích nguyền rủa đối phương Đây là hành
vi chửi gây ra mâu thuẫn sâu sắc vì đối tượng nguyền rủa không chỉ người nghe mà còn liên quan tới những người có quan hệ họ hàng thân thích, huyết thống với người nghe
- Chửi bới: là hành vi chửi nhằm cạy khóe, bới móc, bêu xấu, xúc phạm người nghe Hành vi chửi bới có khả năng gây ra những ảnh hưởng lớn tới danh dự, nhân phẩm, quyền lợi của người khác
- Chửi dọa: là hành vi chửi nhằm mục đích dọa nạt, đe dọa người nghe Qua hành
vi chửi dọa, người nói muốn người nghe nhận thức và điều chỉnh hành vi, suy nghĩ, cách ứng xử của mình sao cho phù hợp với hoàn cảnh Đồng thời, chửi dọa là hành vi chửi cho thấy vị thế của người nói, có tác dụng thể hiện uy quyền, quyền lực của người nói trước người nghe
- Chửi đổng: là hành vi chửi nhưng không nhằm vào một đối tượng cụ thể Hành
vi này thường bày tỏ thái độ bực tức trước những hành động, suy nghĩ của ai đó hay chính bản thân Qua đó, người nói giải tỏa trạng thái tâm lý tiêu cực trong lòng
- Chửi tục: là hành vi chửi sử dụng những từ ngữ thô tục, bất lịch sự thậm chí có phần tục tĩu (cứt, hạ bộ, ) Hành vi này bày tỏ phản ứng gay gắt của người nói trước
Trang 34hành vi, suy nghĩ của ai đó hoặc của bản thân Qua đó, người nói giải tỏa cảm xúc, tâm
lý đồng thời xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người nghe
- Chửi thề: về cơ bản, chửi thề cũng là hành vi chửi sử dựng lớp từ ngữ thô tục nhưng không nhằm mục đích lăng nhục, xúc phạm đối phương mà nó nhằm nhấn mạnh những trạng thái cảm xúc quyết liệt của người nói Đây là một trong những phương pháp giải tỏa những bực tức, đè ép, dồn nén hiệu quả của người nói
1.2.5 Phân biệt hành vi chửi trong giao tiếp đời sống với hành vi chửi trong văn bản nghệ thuật
Hành vi chửi là hành vi tồn tại một cách phổ biến trong thực tế, ở nhiều người, nhiều đối tượng Chúng bắt nguồn từ giao tiếp đời thường và dần được đưa vào tác phẩm
văn chương bằng cách “nghệ thuật hóa ngôn từ” Các hành vi chửi khi được đưa vào
văn học thường thể hiện qua các lời thoại của nhân vật Với mối quan hệ như vậy, hành động chửi giữa đời sống và văn bản nghệ thuật có những điểm tương đồng và khác biệt:
* Về điểm tương đồng: hành vi chửi trong giao tiếp đời sống với hành vi chửi trong văn bản nghệ thuật đều là hành vi ngôn ngữ hội thoại (tức có sự tham gia của người nói và người nghe) được người nói sử dụng để bày tỏ sự tức giận, căm ghét, cáu gắt, bất bình trước hành vi, suy nghĩ, cách ứng xử của đối tượng, của bản thân Qua đó để hạ nhục, lăng mạ, xúc phạm đến nhân phẩm, thể diện của người nghe
* Về điểm khác biệt: hành vi chửi trong đời sống và nghệ thuật được nhận diện qua các tiêu chí trong bảng sau:
Tiêu chí Hành vi ngôn ngữ chửi trong
giao tiếp đời sống
Hành vi ngôn ngữ chửi trong văn
bản nghệ thuật Hình thức
- Là hành vi chửi được thể hiện qua lời dẫn thoại miêu tả và lời thoại của nhân vật
- Là kết quả của hành vi hoàn toàn có
sự nhận thức
- Cấu trúc hình thức chặt chẽ, logic, mạch lạc, tuân thủ quy tắc ngữ pháp, ngữ nghĩa, có sự chắt lọc
Trang 35Hình thức
diễn đạt
- Diễn đạt tùy hứng, không tuân theo quy tắc về ngữ pháp, ngữ nghĩa
- Không có các phương tiện chỉ dẫn nhưng được nhận diện qua các ngôn ngữ đặc thù của hành vi chửi
- Nội dung, giọng điệu, ngôn từ được nhà văn chọn lựa và xây dựng
- Nhận diện qua: lời dẫn thoại và các phương tiện ngôn từ trong phát ngôn
Đối tượng
chửi
Cá nhân cụ thể được xác định có mối quan hệ với người chửi
Cá nhân, lớp người, bộ phận chứa những hạn chế tiêu cực đáng bị phê phán, lên án trong xã hội
Nội dung
chửi
Nội dung chửi phong phú: trách móc, mắng nhiếc, đe dọa, nguyền rủa, chê bai, đối phương với những sắc thái, mức độ khác nhau
Thường có nội dung đả kích, châm biếm, những đối tượng trong xã hội
có thói hư, tật xấu, suy đồi tính cách, nhân cách, phẩm chất,
Mục đích - Đích hướng vào đối tượng chửi
tức người nghe
- Tác động trực tiếp đến đối phương: hổ thẹn, cảm thấy bị xúc phạm, lăng nhục, tổn thương, đau khổ,
- Đích của hành vi chửi là hướng vào người đọc
- Tác dụng: làm cho người đọc hình dung ra tính cách của nhân vật (cả nhân vật chửi và nhân vật bị chửi) Đồng thời thấu hiểu được thái độ của tác giả trước vấn đề đặt ra trong văn bản
- Tác động tới người đọc, gây ra những cảm xúc thẩm mỹ từ đó tác động tới thái độ (yêu, ghét, ca ngợi, lên án, ) của người đọc
Từ sự nhận diện, phân biệt một cách cơ bản ở trên, có thể thấy, bản chất của hành
vi chửi trong văn bản nghệ thuật chính là hành vi chửi trong giao tiếp cuộc sống được nhà văn ghi lại một cách có chọn lựa, chắt lọc, chau chuốt nhằm thể hiện những dụng ý nghệ thuật hay tư tưởng của mình Qua đó, tác giả thể hiện sự đánh giá, nhận xét, bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc, thái độ trước hiện thực đặt ra trong văn bản nghệ thuật
Trang 361.3 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Văn học Việt Nam sau 1975 đã có những đổi mới tích cực trên nhiều thể loại cả
về nội dung và nghệ thuật Trong đó, văn xuôi là một trong những thể loại chiếm ưu thế hơn cả và đạt được nhiều bước tiến trong việc thể hiện và phản ánh hiện thực đời sống Đội ngũ sáng tác văn xuôi đặc biệt là truyện ngắn rất dồi dào và chất lượng: Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Hướng, Ưu thế truyện ngắn giúp các nhà văn đáp ứng được yêu cầu nhìn thẳng, nhìn thật vào hiện thực để phản ánh một cách ngắn gọn, cô đọng, hàm súc
Trong số những cây bút tiêu biểu của truyện ngắn hiện đại Việt Nam cuối thế kỉ
XX, Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng mới lạ, độc đáo, thu hút lượng lớn độc giả
bằng những tác phẩm: “Tướng về hưu”, “Không có vua”, “Kiếm sắc”, “Vàng lửa”,
“Phẩm tiết”, “Con gái thủy thần”, Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp mới sáng tác
đã tạo ra một làn sóng dư luận mạnh mẽ bởi những cách tân táo bạo trong cả nội dung
và hình thức nghệ thuật của tác phẩm
Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã đi sâu khám phá đời sống muôn màu, muôn vẻ trong các mối quan hệ con người, thế sự, đời tư sinh động, đa dạng, phong phú nhưng cũng rất chân thực Các đề tài trong truyện ngắn của ông cũng rộng khắp Ông có
sở trường viết về những người lao động, viết về nông thôn, thành thị Những mảng đề tài lớn, đặc sắc, nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp: Đề tài về nông thôn
(“Chảy đi sông ơi” (1985), “Những bài học nông thôn” (1988), “Thương nhớ đồng
quê” (1992), ); Đề tài về vùng núi rừng (“Những ngọn gió Hua Tát” (1971-1986),
“Muối của rừng” (1986), “Những người thợ xẻ” (1988), ); Đề tài thành thị (“Huyền thoại phố phường” (1983), “Tướng về hưu” (1986), ); Đề tài lịch sử và văn học; Các
tác phẩm ấy mang hơi hướng huyền thoại và cổ tích, phản ánh xã hội Việt Nam đương đại, xã hội làng quê và những người lao động Sáng tác trên thể loại truyện ngắn, Nguyễn Huy Thiệp không chỉ phản ánh chân thực đời sống mà còn khám phá, phát hiện và đi sâu vào những chiêm nghiệm, triết lý của con người Qua đó, nhà văn dấy lên trong lòng người đọc sự cảm thông, thương xót trước số phận bất hạnh, bi kịch Đồng thời truyện lên án, phê phán những xấu xa, độc ác trong xã hội, trong chính bản thân của con người Bên cạnh đó, Nguyễn Huy Thiệp vẫn thể hiện một niềm tin mãnh liệt vào tương lai, vào hạnh phúc tiềm ẩn đâu đó xung quanh mỗi chúng ta
Trang 37Nguyễn Huy Thiệp không chỉ khẳng định tên tuổi của mình bằng nội dung mới
lạ, độc đáo mà truyện ngắn của ông còn thu hút độc giả bởi sức sáng tạo nghệ thuật dồi dào Ông thể hiện sự cách tân trong nghệ thuật truyện ngắn qua đề tài mới lạ (giả lịch sử, huyền thoại, giả cổ tích, ), cách xây dựng cốt truyện, nhân vật, cách đưa thơ vào văn xuôi, câu văn ngắn gọn, sử dụng từ ngữ, hình ảnh ma mị đầy sức ám ảnh, Người đọc
bị cuốn hút bởi giọng văn của ông: khi lạnh lùng, lúc nhẹ nhàng tâm tình, khi lại ma mị
Những đặc điểm trên trong các sáng tác truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đã giúp cho các tác phẩm của ông được nhiều bạn đọc đón nhận Cho đến nay, sự hấp dẫn ấy vẫn còn mạnh mẽ và nó trở thành mảnh đất màu mỡ để chúng ta đi khám phá, nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi đã khái quát một số cơ sở lý luận và rút ra các kết luận sau:
Thứ nhất, hành vi ngôn ngữ là một dạng hành vi đặc biệt Khác với hành vi được
thực hiện bằng hành động, hành vi ngôn ngữ được thực hiện bằng nói năng (lời nói) Trong khóa luận này, chúng tôi xác định hành vi ngôn ngữ chính là hành vi ở lời Ngoài
ra, chúng tôi đã khái quát các lý thuyết về dấu hiệu (kiểu kết cấu, từ ngữ chuyên dùng, ngữ điệu, động từ ngữ vi, ) để xác định một hành vi ở lời; những điều kiện sử dụng hành vi ngôn ngữ và cách phân loại hành vi ngôn ngữ Ở cách phân loại hành vi ngôn ngữ, chúng tôi sử dụng hệ thống phân loại của Searle do sự hoàn chỉnh của các tiêu chí Bên cạnh đó, xét trong mối quan hệ giữa hình thức và nội dung, mục đích diễn đạt, hành
vi ngôn ngữ được xác định gồm hai dạng: hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Thứ hai, lời nói rất đa dạng, tạo ra những loại hành vi ngôn ngữ khác nhau Trong
số đó, hành vi chửi được xem là một trong những hành vi kiêng kị của lời nói Tuy vậy, hành vi này có khả năng phản ánh phong phú sắc thái cảm xúc Trong văn chương, để xây dựng nhân vật, đặc biệt là tính cách, diễn biến tâm lý và lời thoại của nhân vật, một
số nhà văn sử dụng hành vi chửi như một nghệ thuật ngôn từ để bày tỏ thái độ của họ
Chúng tôi đưa ra định nghĩa mang tính khái quát về hành vi chửi như sau: hành
vi chửi là một hành vi văn hóa trong đó người nói sử dụng những lời lẽ thô tục, phản
Trang 38chuẩn để thể hiện trạng thái cảm xúc bất thường (tức giận, căm ghét, ) trong ngữ cảnh
nào đó nhằm làm hạ nhục người nghe Hành vi này gây ra những tổn thương (thể diện
và tinh thần) ở đối phương Hành vi chửi có các điều kiện xác định và các dấu hiệu nhận
biết cụ thể (lời dẫn thoại, biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi, ) Về cơ bản, hành vi chửi
là một hành vi ngôn ngữ nên nó có hai dạng thức là chửi trực tiếp và chửi gián tiếp Giữa
văn chương nghệ thuật và hiện thực đời sống có mối quan hệ biện chứng qua lại Lời nói
trong cuộc sống được “nghệ thuật hóa” thông qua lăng kính người nghệ sĩ để đưa vào
tác phẩm Hành vi chửi, lời chửi trong văn chương và đời sống cũng từ mối quan hệ trên
mà có những điểm tương đồng và khác biệt
Thứ ba, Nguyễn Huy Thiệp là một trong số những nhà văn đã vận dụng hiệu quả
việc đưa hành vi chửi vào văn chương Ông đã để lại nhiều ấn tượng mạnh mẽ cho độc
giả bởi phong cách viết truyện độc đáo, đặc biệt với những lời chửi thô tục, ngắn gọn và
sắc lạnh Truyện của ông nhờ đó có giá trị hiện thực sâu sắc Khảo sát và nghiên cứu
hành vi chửi trong truyện ngắn của ông là mảnh đất màu mỡ cho những ai yêu thích ngôn
ngữ nói riêng và phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp nói chung
Trang 39CHƯƠNG 2 MIÊU TẢ HÀNH VI NGÔN NGỮ CHỬI TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN HUY THIỆP 2.1 Đặc điểm cấu trúc của hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Khảo sát tập “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” (Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, năm 2007) gồm 42 truyện ngắn, chúng tôi đã thu được kết quả như bảng sau:
Bảng 2.1: Cấu trúc hành vi ngôn ngữ chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Cấu trúc hành vi chửi
Tổng Kiểu cấu
Trang 40và cấu trúc cũng đa dạng, phong phú Cụ thể, chúng tôi đưa ra một số các cấu trúc tiêu biểu hình thành nên hành vi chửi trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp như:
- Hành vi chửi có cấu trúc một từ
- Hành vi chửi có cấu trúc một ngữ
- Hành vi chửi có cấu trúc một câu (kết cấu C-V)
- Hành vi chửi có cấu trúc một đoạn văn
Như đã thấy ở bảng 2.1, hành vi chửi có cấu trúc một ngữ chiếm số lượng lớn hơn
cả với 45,2%, tiếp đó là hành vi chửi có cấu trúc C-V với 27,12% Hai kiểu cấu trúc còn lại là cấu trúc một từ, cấu trúc một đoạn văn chiếm tỉ lệ gần bằng nhau lần lượt 13,56%
và 14,12%
2.1.1 Hành vi chửi có cấu trúc một từ
Hành vi chửi có cấu trúc một từ là hành vi ngôn ngữ mang cấu trúc ngắn gọn nhưng có khả năng thể hiện được đầy đủ nội dung, suy nghĩ hay cảm xúc của người nói Cấu trúc này được Nguyễn Huy Thiệp sử dụng với số lượng là 24/177 hành vi chửi chiếm
tỉ lệ 13,56%
Biểu đồ 2.1.1: Hành vi ngôn ngữ chửi có cấu trúc một từ
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp