1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ

51 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiện Tượng Chuyển Trường Nghĩa Gió, Mưa, Bão Trong Thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả Quyền Ánh Dương
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Hiền
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ===o0o=== QUYỀN ÁNH DƯƠNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA GIÓ, MƯA, BÃO TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ học HÀ NỘI, 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN ===o0o=== QUYỀN ÁNH DƯƠNG HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA GIÓ, MƯA, BÃO TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ học Người hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Thị Hiền HÀ NỘI, 2022 LỜI CẢM ƠN Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân t.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===o0o===

QUYỀN ÁNH DƯƠNG

HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG

NGHĨA GIÓ, MƯA, BÃO TRONG THƠ

LƯU QUANG VŨ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI, 2022

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

===o0o===

QUYỀN ÁNH DƯƠNG

HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG

NGHĨA GIÓ, MƯA, BÃO TRONG THƠ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới cô giáo hướng

dẫn TS Nguyễn Thị Hiền người đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn em hoàn thành

khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2022

Sinh viên

Quyền Ánh Dương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu, kết quả được nêu trong khoá luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kì công trình khoa học nào

Hà Nội, tháng 5 năm 2022

Sinh viên

Quyền Ánh Dương

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của khoá luận 6

8 Cấu trúc của khoá luận 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

1.1 Trường nghĩa 7

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa 7

1.1.2 Phân loại trường nghĩa 8

1.2 Hiện tượng dịch chuyển trường nghĩa 10

1.2.1 Khái niệm chuyển trường nghĩa 10

1.2.2 Phương thức chuyển trường nghĩa 11

1.2.3 Tác dụng của chuyển trường nghĩa 12

1.3 Đặc điểm ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ 12

1.4 Tiểu kết 14

CHƯƠNG 2: HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA GIÓ, MƯA, BÃO TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 15

2.1 Các trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ 15

2.1.1 Trường nghĩa gió 15

2.1.2 Trường nghĩa mưa 16

Trang 7

2.1.3 Trường nghĩa bão 17

2.2 Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ 18

2.3 Tiểu kết 28

CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA GIÓ, MƯA, BÃO TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ 29 3.1 Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão góp phần khắc hoạ thế giới tâm trạng, cảm xúc phong phú con người trong thơ Lưu Quang Vũ 29

3.2 Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão góp phần khắc hoạ thế giới thiên nhiên sinh động trong thơ Lưu Quang Vũ 31

3.3 Sự chuyển đổi trường nghĩa tạo dấu ấn về phong cách thơ Lưu Quang Vũ 34

3.3.1 Lưu Quang Vũ – thi sĩ của nghệ thuật ngôn từ 35

3.3.2 Lưu Quang Vũ – nghệ sĩ của tình yêu con người, thiên nhiên, đất nước 37

3.4 Tiểu kết 39

KẾT LUẬN 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN 43

Trang 8

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng thống kê hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão

trong thơ Lưu Quang Vũ 18

Bảng 2.2: Bảng thống kê trường nghĩa gió chuyển qua các trường nghĩa

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Mỗi loại hình nghệ thuật đều có phương thức biểu đạt khác nhau,

chẳng hạn như hội hoạ đường nét và màu sắc là chủ đạo, âm nhạc có giai điệu

và âm thanh còn đối với văn chương người nghệ sĩ lấy ngôn từ làm chất liệu để xây dựng tác phẩm nghệ thuật như Maksim Gorky (nhà văn Nga) có nói:“Ngôn ngữ là yếu tố tốt nhất của văn học” một bài thơ hay, một câu chuyện thú vị ta

không thể dễ dàng cảm nhận được trong chốc lát, cũng không thể bằng linh cảm chỉ có nghiền ngẫm đọc rồi, đọc nữa, suy ngẫm từng câu từ có như vậy ta mới cảm nhận được giá trị, tư tưởng, dụng ý nghệ thuật của tác phẩm văn học

đó

Điều làm nên một tác phẩm văn học có sức hút với bạn đọc còn phụ thuộc vào quá trình khổ luyện, tìm tòi và sáng tạo ý, tứ, câu, chữ của tác giả, chẳng thế mà trong một tác phẩm văn học người đọc, nhà phê bình luôn quan tâm đến việc sử dụng ngôn từ của tác giả Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, hiện tượng chuyển trường nghĩa là hiện tượng khá đặc biệt nó làm tăng giá trị biểu đạt cho

từ vì vậy khi tiếp cận và sử dụng nó trong giao tiếp, trong văn chương nghệ thuật sẽ làm phong phú vốn từ ngữ, tạo được sự chú ý, thích thú từ người đọc, người nghe Hiện tượng chuyển trường nghĩa là một việc làm quan trọng trong quá trình tìm hiểu và khám phá giá trị tư tưởng, phong cách nghệ thuật của tác giả trong mỗi tác phẩm văn học qua đó cũng tạo điều kiện cho việc đổi mới cách dạy và học ở trường phổ thông

1.2 Lưu Quang Vũ là nhà thơ, nhà soạn kịch và nhà văn lớn của Việt Nam, văn chương của ông thu hút người đọc bởi sự bay bổng, giàu cảm xúc, những khát khao hoà mình vào cuộc sống Hầu hết các sáng tác của ông đều mang tính nhân văn, in đậm dấu ấn cuộc đời, ở độ tuổi còn rất trẻ nhưng Lưu Quang Vũ đã khẳng định được tài năng của mình ở nhiều mảng thể loại văn

học, đặc biệt là kịch, được dựng lại ở các sân khấu lớn như: “Hồn Trương Ba

da hàng thịt”, “Tôi và chúng ta”, “Khoảnh khắc và vô tận”… Có khá nhiều

tác phẩm kịch, thơ của ông đã và đang được chọn lọc để đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường phổ thông Với tâm hồn giàu cảm xúc, khát khao trăn

Trang 10

trở với cuộc đời Lưu Quang Vũ đã sáng tác 177 bài thơ với nhiều đề tài khác nhau trong cuộc sống, thơ ông là cảm xúc dạt dào, bay bổng của tình yêu lứa đôi, là cảm hứng bi thương về đất nước, về con người vừa mang chút buồn, tha thiết và sâu lắng

Điều làm nên thành công trong các tác phẩm của Lưu Quang Vũ đó là

sử dụng ngôn từ giàu cảm xúc, khả năng truyền tải giá trị nội dung, tư tưởng đến người đọc phản ánh một cách chân thực hiện thực xã hội, những suy tư trăn trở của ông về cuộc đời thông qua ngôn từ cụ thể là lời thoại nhân vật, những ý thơ dạt dào cảm xúc Qua rất nhiều tác phẩm của ông, chúng tôi nhận thấy trong thơ của Lưu Quang Vũ là những vần thơ tình chân thật, là khát khao với cuộc đời vừa ngọt ngào, đam mê xong cũng có cảm xúc đớn đau, đầy thất vọng của tác giả thông qua hàng loạt các kết hợp từ Trong các sáng tác của ông, chúng tôi nhận thấy, Lưu Quang Vũ gắn kết các từ khác trường với nhau tạo ra các kiểu chuyển nghĩa, chuyển trường điều đó làm cho ngôn ngữ thơ mới mẻ, ẩn chứa những ý thơ độc đáo

Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn đề tài “Hiện tượng chuyển trường

nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ” làm đối tượng nghiên cứu của

khoá luận Kết quả nghiên cứu của khoá luận cùng với ngữ liệu góp phần làm đổi mới việc dạy và học Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Vấn đề về trường nghĩa

Trường nghĩa là lý thuyết xuất hiện từ rất lâu, đặc biệt phải kể đến các nghiên cứu của tác gia người Đức và Mỹ Saussure với luận điểm là “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố xung quanh nó quy định” điều này

đã thúc đẩy sự hình thành lý thuyết về trường nghĩa [16-tr.244] Trong khi đó, các nhà nghiên cứu người Đức là Trier và L.Weisgerberg lại cho rằng “Trong ngôn ngữ, các từ của nó muốn tồn tại trong trường thì còn phải do quan hệ với

các từ khác trong trường quyết định” [16-tr.243]

Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về vấn đề này như: Giáo sư Đỗ Hữu Châu, Lê Quang Thiêm, Bùi Minh Toán Giáo sư Đỗ Hữu Châu đã tiếp thu lý thuyết về trường nghĩa qua việc tiếp thu và chặt lọc

Trang 11

của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và đưa ra cho mình những quan điểm

riêng về vấn đề này “Có thể phân ra hai loại trường từ vựng ngữ nghĩa lớn là trường biểu vật và trường biểu niệm chứ không phải là trường sự vật và trường khái niệm” [5-tr.12]

Qua lý thuyết về trường nghĩa, việc áp dụng vấn đề trên vào nghiên cứu

tiếng Việt có thể kể đến một số công trnh nghiên cứu tiêu biểu như: “Luận văn Đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ thực vật trong tiếng mông và tiếng việt của Sùng A Khứ (2015)” [15]

Các nhà nghiên cứu đã áp dụng lí thuyết về trường nghĩa trong các nghiên cứu tác phẩm văn học ở nhiều luận án như: “Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong truyện Tây Bắc của Tô Hoài (2013) của tác giả Phó Thị Hồng Oanh” [14],

“Trường từ vựng sông nước Nam Bộ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng (2013) của tác giả Nguyễn Thị Kim Lanh” [11], “Khảo sát trường

từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong sáng tác của Nam Cao (2014) của tác giả Vũ Thuỳ Linh” [22] “Trường từ vựng tình yêu trong thơ của Nguyễn Bính (2011) của tác giả Nguyễn Thị Huệ” [12]…Như vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa trong văn học đóng góp một phần vào việc giảng dạy và nghiên cứu các tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông

Qua khảo sát về lý thuyết trường nghĩa, hiện tượng chuyển trường nghĩa

của từ, chúng tôi thấy rằng công trình nghiên cứu về “Hiện tượng chuyển nghĩa

gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ” là nội dung chưa được đề cập đến ở

bất kì công trình nghiên cứu nào Vì vậy, khoá luận lựa chọn“Hiện tượng

chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ” làm đối tượng

nghiên cứu Ở đề tài này, khoá luận sẽ hướng đến việc tìm hiểu sâu hơn về chuyển trường nghĩa này với mục đích đóng góp phần nào vào việc dạy và học cũng như nghiên cứu các tác phẩm văn học của ông

2.2 Các công trình nghiên cứu về thơ Lưu Quang Vũ

Nhắc đến thơ của Lưu Quang Vũ, có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ của ông kể đến như “Đặc điểm ngôn ngữ thơ tình Lưu Quang Vũ (2012)

Trang 12

của tác giả Lê Lan Hương” [8], “Biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ (2012) của tác giả Trần Thị Hương” [19]

Trong hầu hết các nghiên cứu đưa ra đều có những nhận định chung về thơ ca của Lưu Quang Vũ mang cảm hứng về dân tộc, về tình yêu, những nỗi

khát khao, trăn trở với cuộc đời và “Thơ là nơi ẩn náu cuối chót của chàng thi

sĩ buồn này Thơ với Lưu Quang Vũ là tất cả sự hàm ơn và trang trải riêng tư của tâm hồn chàng với đời sống” [8-tr.25]

Các công trình nghiên cứu đều đưa ra được hướng tiếp cận và khám phá riêng về thơ của Lưu Quang Vũ, nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứu của ông đều tập trung khai thác được giá trị nổi bật như: nội dung, nghệ thuật, giá trị tư tưởng, phong cách nghệ thuật và những đóng góp của ông trong phong trào thơ mới cũng như nền thơ ca của dân tộc Ngôn ngữ thơ của Lưu Quang

Vũ được thể hiện qua 177 bài thơ, nổi bật trong cách sử dụng ngôn ngữ của ông

là âm điệu và cấu trúc thơ, cách phối nhịp, phối thanh linh hoạt Về mặt ngữ nghĩa có sự sáng tạo về ngôn ngữ mang tính siêu thực – tượng trưng, ngôn ngữ trong thơ ông vừa mộc mạc, giản dị nhưng mang giá trị biểu cảm cao, giọng điệu thiết tha là tiếng nói về cuộc sống con người, tình yêu thiên nhiên, đất nước Kết hợp sử dụng những biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá… làm tăng sức hấp dẫn, sức gợi cho hình ảnh thơ, tạo nên trong thơ Lưu Quang

Vũ những nét độc đáo về phương diện ngôn ngữ

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của khoá luận là tiến hành khảo sát và miêu tả hiện tượng

chuyển trường từ vựng – ngữ nghĩa gió, mưa, bão trong tác phẩm thơ của Lưu

Quang Vũ Từ đó củng cố, trau dồi thêm kiến thức về lý thuyết trường nghĩa,

hiện tượng chuyển trường nghĩa, hiểu và nắm bắt nội dung, giá trị tư tưởng trong thơ của Lưu Quang Vũ, đóng góp một phần cho việc dạy và học tiếng Việt, văn học ở nhà trường phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa trên mục đích nghiên cứu đã nêu, ở đề tài này cần xác định và thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

Trang 13

- Xác định cơ sở lý luận của đề tài

- Hệ thống hoá được những vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như nghiên cứu về nghĩa của từ, về trường ngữ nghĩa

- Thống kê hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu

Quang Vũ

- Khảo sát để tìm ra các hiện tượng chuyển trường nghĩa

- Phân tích giá trị biểu đạt, sự cộng hưởng ngữ nghĩa của hiện tượng

chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu ở đề tài này là hiện tượng chuyển trường nghĩa

gió, mưa, bão trong các tác phẩm thơ Lưu Quang Vũ

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu ở khoá luận này là khảo sát hiện tượng chuyển

trường nghĩa gió, mưa, bão trong 177 tác phẩm thơ của Lưu Quang Vũ từ các

tuyển tập thơ ca và trang thơ của ông, Thơ Lưu Quang Vũ (NXB)

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này, khoá luận đã sử dụng các phương pháp, thủ pháp sau:

- Phương pháp miêu tả: Trong phương pháp này chúng tôi tiến hành phân

tích miêu tả kết hợp tạo ra hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong

thơ Lưu Quang Vũ

- Thủ pháp phân tích (phân tích ngữ nghĩa và ngữ cảnh) dùng để làm rõ các giá trị biểu hiện của từ trong từng trường hợp chuyển trường cụ thể, cùng với đó chỉ ra được hiện tượng chuyển trường nghĩa thể hiện ở nội dung và nghệ thuật trong thơ Lưu Quang Vũ

Trang 14

- Phương pháp thống kê, phân loại: ở thủ pháp này đi xác định số lượng

và tỉ lệ của các từ trong mỗi chuyển trường nghĩa và xác định các đặc điểm của hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Lưu Quang Vũ

7 Đóng góp của khoá luận

- Từ lý thuyết về trường nghĩa, khoá luận đặt ra nhiệm vụ là xác định hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Lưu Quang Vũ

- Những đóng góp của khoá luận giúp cho nghiên cứu và việc học tập, giảng dạy văn học và tiếng Việt trong nhà trường phổ thông

- Nghiên cứu trên đưa ra cái nhìn đa chiều về tác phẩm văn học dưới góc

độ ngôn ngữ, đưa ra cái nhìn đa chiều về giá trị của nội dung, phong cách nghệ thuật của tác giả

- Giúp cho những nghiên cứu tiếp theo có cơ sở lý thuyết và thực tiễn để

đi sâu hơn vào nghiên cứu hiện tượng chuyển trường nghĩa và nghĩa của của từ trong tiếng Việt

8 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, phụ lục khoá luận gồm có ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ

Lưu Quang Vũ

Chương 3: Giá trị biểu đạt của sự chuyển trường nghĩa gió, mưa,

bão trong thơ Lưu Quang Vũ

Sau cùng là phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Trường nghĩa

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa

Nói về lí thuyết của trường nghĩa ta phải nhắc đến hai nhà ngôn ngữ người Đức J Trier và L Weisgerber J.Trier cho rằng “trong ngôn ngữ lại tồn tại trong một trường và giá trị của nó do quan hệ với các từ khác trong trường quyết định” [16-tr.245]

Đối với L Weisgerber theo tác giả này “cần phải tính đến các góc nhìn khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống Nghiên cứu các trường chỉ các tội lỗi, khuyết tật,

L Weisgerber nêu ra hai góc nhìn, thứ nhất là trách nhiệm của người gây ra,

và thứ hai các chuẩn mực bị xâm phạm Có bẩy mức độ trách nhiệm: không được báo trước và không dự định; có thể được báo trước; bị bắt buộc; đã được báo trước; kết quả không phải là điều người phạm lỗi mong muốn; đã được tính toán trước; theo tính chất của người có lỗi Các chuẩn mực cũng được chia thành bẩy: trái với lẽ phải; trái với những điều nên làm; thiếu lý trí; trái với nhiệm vụ; trái với những điều đã quy định; trái với luật pháp; trái với đạo đức Sự giao nhau của mỗi bậc trên sẽ cho ta những từ xét theo một bậc nào đó…” [16-tr.246]

Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau trong các công trình nghiên cứu của mình như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán… Trong đó, Đỗ Hữu Châu đã xây dựng quan niệm về trường từ vựng - ngữ nghĩa dựa trên lí thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài, theo ông “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau một nét nào đó về

nghĩa” quan niệm này là cơ sở mang tính chất định hướng cho các quan niệm

về trường nghĩa của các nhà ngôn ngữ khác sau ông. [5-tr.35]

Trang 16

1.1.2 Phân loại trường nghĩa

Hệ thống ngữ nghĩa của từ vựng có mối quan hệ đa dạng trên nhiều bình diện khác nhau, đó là mối quan hệ của các từ khác trường và mối quan hệ ý nghĩa của các từ trong trường nghĩa Dựa trên hai quan hệ cơ bản của ngôn ngữ

là quan hệ ngang và quan hệ dọc, tác giả Đỗ Hữu Châu chia trường nghĩa tiếng

Việt thành các loại khác nhau: Trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm), trường nghĩa ngang (tuyến tính /kết hợp) và trường nghĩa liên tưởng (sự kết hợp giữa quan hệ dọc và quan hệ ngang)

1.1.2.1 Trường nghĩa biểu vật

Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ có sự đồng nhất với nhau

về phạm trù ngữ nghĩa, liên quan nhau về nghĩa biểu vật, chẳng hạn trường nghĩa biểu vật về chân:bàn chân, bắp chân, ngón chân, đi, sút… Đây là các đơn

vị từ có cùng phạm vi biểu vật chân Ở mỗi ngôn ngữ, vùng miền khác nhau thì

các trường biểu vật này sẽ khác nhau về số lượng từ, đơn vị từ ngữ trong mỗi trường Như vậy, mỗi trường biểu vật sẽ có những từ, ngữ mang lõi cụ thể, điển hình quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường đó.[2-tr.170]

Để xác lập trường nghĩa biểu vật người ta dựa vào danh từ trung tâm, lấy một danh từ có ý nghĩa khái quát để làm tiêu chí tập hợp và lấy tất cả từ có cùng phạm vi biểu vật trong danh từ đó tạo thành một trường Trong ví dụ

trường biểu vật về chân ở trên, ta dựa vào danh từ chân có thể tập hợp được nhiều từ về chân – nằm trong trường nghĩa chân

Ví dụ: Lập trường biểu vật giày dép

1 Màu sắc: nâu, đen, trắng, be…

2 Chất liệu: da, vải, cao su, nhựa…

3 Tên gọi các loại giày dép: giày âu, giày sục, dép lê, giày cao gót, giày thể thao, giày bệt, giày lười, giày bốt…

4 Hoạt động thiết kế giày dép: cắt, thiết kế, đúc đế, may…

5 Các bộ phận của giày dép: mũi, đế, cổ, lót giày, thân giày, lỗ xỏ giày, lưỡi gà…

6 Trạng thái của giày dép: rách, lành, vừa, chật…

Trang 17

Mỗi từ ngữ có thể đi vào nhiều trường, vì vậy các trường biểu vật có thể

“thẩm thấu” và “giao thoa” lẫn nhau, hai trường biểu vật mà giao thoa với nhau khi từ của trường này nằm trong trường kia Mỗi quan hệ giữa các từ với một trường biểu vật là khác nhau, có những từ gắn bó chặt chẽ với trường nhưng có những từ gắn bó lỏng lẻo

1.1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm

Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm Chẳng hạn, trường biểu niệm (trạng thái tâm lí) (do tác động từ yếu tố

bên ngoài vào cảm xúc, trạng thái): yêu, giận, xúc động, buồn bã, lo lắng, hờn…một từ có nhiều nghĩa biểu niệm vì thế mà nó có thể đi vào nhiều trường

biểu niệm khác nhau, giao thoa, thẩm thấu lẫn nhau.[2-tr.170]

Các trường biểu niệm lớn cũng có thể phân chia thành các trường biểu niệm nhỏ gọi đó là “miền” hay một lớp từ có sự đồng nhất với nhau về mặt ý nghĩa và có những mật độ khác nhau

Ví dụ: Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo) (phục vụ lao động) tách ra thành các trường nhỏ như:

1 Dụng cụ bảo hộ: Mũ, giày, quần áo, mặt nạ, kính, găng tay…

2 Dụng cụ để chứa đựng: túi, hộp, cốp, cặp, thùng…

3 Dụng cụ lao động: kìm, cưa, khoan, búa, xẻng…

Mật độ và sự phân bố số lượng từ trong một miền hay trong một trường

là khác nhau, nó còn tuỳ thuộc vào việc sử dụng ngôn ngữ mỗi dân tộc Ví dụ

trong tiếng Việt, trường nghĩa chỉ loại bát để đựng đồ ăn còn có các loại: bát

tô, bát con, bát nhỡ, bát loa…nhưng trong tiếng Anh trường nghĩa này chỉ có

từ bowl

Mỗi một từ có thể xuất hiện trong nhiều trường, các từ trong một trường khi chuyển nghĩa thì sẽ cùng chuyển nghĩa đồng loạt với nhau Ví dụ: Từ nằm trong trường chỉ bộ phận cơ thể người chuyển sang chỉ các bộ phận của thực

thể: mặt bàn, mặt ghế, chân bàn, chân ghế…

Trang 18

1.1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính

Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp tất cả các từ có thể kết hợp với một

từ ngữ gốc nhằm tạo ra một chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) được chấp nhận một cách bình thường trong ngôn ngữ Cách để xác lập một trường nghĩa tuyến tính

đó là, chọn một từ để làm gốc và tìm tất cả các từ khi kết hợp chúng lại tạo thành chuỗi tuyến tính được chấp nhận sử dụng trong ngôn ngữ.[2-tr.185]

Ví dụ: Trường nghĩa tuyến tính của “ăn”: ăn no, ăn nhanh, ăn chậm, ăn

từ từ, ăn thưởng thức…

1.1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng

Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp những từ có chung một nét nghĩa

biểu thị các sự vật, hiện tượng, tính chất… có quan hệ liên tưởng với một từ trung tâm Các từ có trong một trường liên tưởng là sự cố định, hiện thực hoá

từ các ý nghĩa liên hội có thể có ở từ trung tâm.[2-tr.186]

Có nhiều từ khác nhau được liên tưởng tới trong trường liên tưởng bởi

sự xuất hiện của các từ trung tâm trong ngữ cảnh và sự đồng nhất về chủ đề, vì thế trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân.Ví dụ: Về

trường liên tưởng mang tính thời đại mùa thu: trước cách mạng người ta liên tưởng đến sự buồn đau, ly biệt… sau cách mạng người ta liên tưởng đến: ấm

no, hoà bình, hy vọng…

1.2 Hiện tượng dịch chuyển trường nghĩa

1.2.1 Khái niệm chuyển trường nghĩa

Chuyển trường nghĩa được hiểu là hiện tượng “một từ thuộc một trường

ý niệm này được chuyển sang dùng cho các sự vật thuộc một trường ý niệm khác” [4-tr.68]

Trong giao tiếp hằng ngày của con người sử dụng vốn từ ngữ đa dạng và phức tạp, theo thời gian xuất hiện thêm nhiều nghĩa biểu vật, nghĩa biểu vật đã

có sự thay đổi làm cho nghĩa biểu niệm của từ ít nhiều bị thay đổi, từ đó làm cơ

sở cho sự chuyển nghĩa của từ Vì thế mà có sự chuyển nghĩa của từ và khi từ

đã chuyển trường nghĩa thì ý nghĩa, nội dung biểu thị của từ thay đổi

Trang 19

Ví dụ như từ mắt là từ có nhiều nghĩa khi ý nghĩa bị chuyển biến thì từ

lại chuyển sang một trường nghĩa khác

1 Bộ phận cơ quan thị giác (mắt người, mắt mèo, mắt cú…) Đây là từ

thuộc trường con người hoặc trường động vật

2 Bộ phận giống hình những con mắt ở ngoài vỏ của một số loại quả

(mắt dứa, mắt mía, mắt na…) Đây là từ thuộc trường thực vật

3 Hình dạng giống đôi mắt, dùng để khoá, rào thứ gì đó (mắt xích, mắt lưới…) Đây là từ thuộc trường công cụ lao động

1.2.2 Phương thức chuyển trường nghĩa

Có thể thấy, phương thức chuyển trường nghĩa cũng chính là phương thức chuyển trường nghĩa của từ Ẩn dụ và hoán dụ là hai phương thức chuyển trường (chuyển nghĩa) của từ sử dụng trong ngôn ngữ

Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ cho rằng “ẩn dụ là từ thay thế cho

sự vật hiện tượng trong ngôn ngữ bằng một loạt các sự vật, hiện tượng khác phổ biến trong xã hội, văn hoá, tâm lý, ngôn ngữ, mà trong giao tiếp này không

có dùng từ so sánh để ám chỉ đến sự vật, hiện tượng được nói đến” [6-tr.13] Dựa trên những cơ chế chuyển nghĩa, Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt” [4-tr.135] đã phân loại ẩn dụ theo phạm trù nhất định như sau:

Ẩn dụ hình thức: Dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật

Ví dụ: mũi tàu, chân núi…

Ẩn dụ vị trí: Dựa vào sự giống nhau về vị trí giữa các sự vật Ví dụ: đỉnh núi, đầu ngõ…

Ẩn dụ cách thức: Dựa vào sự giống nhau trong cách thức thực hiện giữa

hiện tượng và hoạt động Ví dụ: cắt hộ khẩu, nắm bắt tâm lí…

Ẩn dụ chức năng: Dựa trên sự giống nhau về chức năng của sự vật Ví

dụ: Bến xe, bến đò…

Ẩn dụ kết quả: Dựa trên sự giống nhau về tác động của sự vật với con

người Ví dụ: Giọng nặng nề, lời nói chua chát…

Trang 20

Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Giáo trình Việt ngữ 2” đã định nghĩa “Hoán

dụ là hiện tượng chuyển hoá về tên gọi – tên của một đối tượng này được dùng

để gọi vật kia – dựa trên quy luật liên tưởng tiếp cận” [6-tr.16] Hoán dụ được chia thành những loại như sau:

Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận, toàn thể Ví dụ: nhà có tám miệng

ăn, một tay đua xuất sắc

Hoán dụ dựa vào quan hệ vật chứa và vật bị chứa Ví dụ: cả làng thức dậy từ rất sớm, uống ba lon…

Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa sự vật, hiện tượng, hoạt động… với các

đặc điểm của nó Ví dụ: (chỉ nhãn mác Hà Nội – chỉ bia Hà Nội), ( âm thanh:

hú dùng để gọi sự vật)

1.2.3 Tác dụng của chuyển trường nghĩa

Tác dụng của chuyển trường nghĩa đó là làm phong phú vốn từ vựng, một từ chuyển trường và biến thành từ đa nghĩa thì nó mang một nghĩa mới, nội dung mới có quan hệ tương sinh với nghĩa gốc của từ đó

Ví dụ: Trường nghĩa gió chuyển qua trường nghĩa chỉ con người trong thơ Lưu Quang Vũ “Như gió điên, như nước phá tung bờ” (Người cùng tôi), điên là một trang thái ảnh hưởng đến tâm lí có những hành vi quá khích của

con người khi chuyển sang trường nghĩa gió được hiểu theo nghĩa mới đó là

sức gió thổi rất mạnh, dữ dội Sự chuyển trường nghĩa này đã phần nào đáp ứng như cầu giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ trong cuộc sống hằng ngày, làm cho văn viết, văn nói trở nên phong phú, thi vị hơn tăng sức giá trị biểu đạt trong ngôn ngữ

Khi chuyển trường nghĩa, nó vừa mang dấu ấn của trường nghĩa mới mà vẫn giữa được trường nghĩa gốc ban đầu sự cộng hưởng của hai yếu tố này đem đến cho từ nội dung mới, khi tiếp cận sự chuyển nghĩa của từ người dùng phải vận dụng vốn hiểu biết của mình để hiểu được nội dung của cả hai trường

1.3 Đặc điểm ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ

Thơ ca nửa sau thế kỉ XX của Lưu Quang Vũ mang giọng điệu lạ, làn gió mới, một nguồn cảm hứng thế sự, thơ của ông “phá tung những cái mực

Trang 21

thước, khuôn phép, vừa phải, lưng chừng” nó được khám phá dưới những góc

độ mới mẻ và độc đáo ở ngôn ngữ, âm điệu, biện pháp nghệ thuật, thể thơ…mà ông sử dụng trong các sáng tác của mình Cho đến nay những vần thơ của ông được đưa vào chương trình dạy và học Ngữ Văn ở các cấp học, những vần thơ rất đỗi bình dị, ngôn ngữ đời thường gần gũi giúp cho học sinh trau dồi được tình yêu thiên nhiên, con người, với nhân dân và dân tộc Và một trong những nét độc đáo của thơ của ông thể hiện ở phương diện ngôn ngữ

Trước hết, ngôn ngữ thơ của Lưu Quang Vũ thể hiện qua cách sử dụng

âm điệu và cấu trúc thơ Ông sử dụng đa dạng nhiều thể loại thơ được thể hiện trong gần 200 bài thơ gồm: thể thơ tự do chiếm đa phần, thất ngôn tứ tuyệt, thơ bảy chữ, thơ năm chữ… Đây là những thể thơ tiêu biểu đặc trưng cho phong cách sáng tác, câu từ, lời thơ bình dị, gần gũi với cuộc sống, con người nhưng cũng đượm buồn, xót xa, khắc khoải

Nhịp điệu trong thơ Lưu Quang Vũ linh hoạt theo cách ngắt nhịp, phối thanh Thơ bảy chữ ngắt nhịp 3/4 hoặc 4/3, thể thơ tám chữ cùng với cách ngắt nhịp biến hoá, ở thể thơ tự do những câu thơ có nhịp ngừng ngắn, nhịp ngừng vừa tạo cho người đọc có cảm giác chờ đợi, du dương trong giọng điệu Cách phối thanh, ngắt nhịp tạo nên tính nhạc cho bài thơ “Phố ta” “Phố ta/ phố của ta; Phố của ta/ Phố nghèo của ta” Ở thể thơ tự do chiếm phần nhiều làm cho câu thơ, vần thơ càng có sức hút, thể hiện được nét độc đáo trong câu từ

Về mặt ngữ nghĩa, ngôn từ trong thơ Lưu Quang Vũ có sáng tạo về ngôn ngữ đó là sự biến chuyển tự nhiên trong tâm thức ít liên quan trực tiếp, ảnh hưởng từ sách vở, những dòng ngôn ngữ của ông mang tính siêu thực – tượng trưng, phá vỡ lối văn thơ trữ tình truyền thống, hướng đến lối biểu tượng hiện đại và đương đại Ngôn ngữ trong thơ ông vừa mộc mạc, giản dị, gần gũi sử dụng từ ngữ giá trị biểu cảm, từ láy, từ ngữ địa phương nhưng nó lại mang giá trị sâu sắc về tình cảm, tình yêu thiêng liêng của con người, của nhân dân, của dân tộc như trong bài thơ “Tiếng Việt” Lưu Quang Vũ có viết “Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa/ Óng tre ngà và mềm mại như tơ” Người đọc có thể nhận thấy rằng thơ tình của Lưu Quang Vũ mang ngôn ngữ, giọng điệu thiết tha, sâu lắng những nỗi niềm khắc khoải khôn nguôi về thân phận con người, về hạnh

Trang 22

mai chúng mình ra sao em ơi” (Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa) có thể thấy trong thơ tình của ông luôn thể hiện sự lo lắng chẳng bao giờ dứt cho đối phương, cho thân phận cuộc đời của đôi ta

Trong thơ Lưu Quang Vũ sử dụng những biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, hình ảnh biểu tượng một cách linh hoạt, những hình ảnh

thiên nhiên đã tạo ra ẩn dụ tương đồng trong thơ ông “nét thu”, “lệ liễu”, “bến nước”, “con đò”, “bóng chim tăm cá”, ẩn dụ thời gian trong thơ Lưu Quang

Vũ mang nét đặc sắc về nghệ thuật “vầng trán mùa hè, con mắt xanh của đêm, mặt nạ mùa thu” ông luôn mang trong mình những ám ảnh về thời gian, hiện

thực cuộc sống và thế giới nội tâm của con người “Xao xác lá vàng/ Những mặt

nạ mùa thu/ Đã chết” (Những chiếc lá rơi), “Những năm khó khăn/…Những năm già trước tuổi/ Những năm thương Hà Nội trăm lần hơn” (Viết lại một bài thơ Hà Nội) những ẩn dụ ý niệm về thời gian trong thơ ông đều mang những nỗi niềm, những tiếc nuối và thời gian Biểu tượng hình ảnh thơ nổi bật đó là

mưa, gió, bão cũng là những từ ngữ được ông sử dụng trong hầu hết các tập

thơ của mình nó cũng như là phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật của ông, từ ngữ hình ảnh đó tạo nên cho thơ ông nỗi niềm, tâm trạng sầu muộn, tha thiết như chính những cơn mưa, ngọn gió thổi vào lòng người “Chưa kịp lời tình tự/ Trời

đã oà cơn mưa” (Mưa)

1.4 Tiểu kết

Như vậy, trong chương 1 này chúng tôi đã tập hợp các lí thuyết về trường nghĩa và hiện tượng chuyển trường nghĩa, giá trị của hiện tượng chuyển trường nghĩa trong việc biểu đạt nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Đây là những cơ sở lí thuyết làm đường hướng để khoá luận triển khai những nội dung của Chương 2

Trang 23

CHƯƠNG 2: HIỆN TƯỢNG CHUYỂN TRƯỜNG NGHĨA GIÓ, MƯA,

BÃO TRONG THƠ LƯU QUANG VŨ

2.1 Các trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ

Trong gần 200 bài thơ thuộc các tập thơ của Lưu Quang Vũ như “Gió và

tình yêu thổi trên đất nước tôi”, “Thơ tình Lưu Quang Vũ”… Trường nghĩa gió, mưa, bão xuất hiện nhiều trong thơ của Lưu Quang Vũ

2.1.1 Trường nghĩa gió

Gió là những luồng không khí chuyển động trên quy mô lớn và phụ thuộc vào tốc độ, hướng gió thổi

Trong thơ ca Việt Nam, gió là hình tượng thơ được nhiều nhà thơ lấy nguồn cảm hứng, mang những âm hưởng, cảm xúc tâm tư tình cảm của nhân vật trữ tình hay nỗi buồn trong tình yêu thả vào từng cơn gió Hình tượng gió trong thơ ca được nhân hoá như một con người, biết chia sẻ, cảm thông trong thơ Đường gió cũng xuất hiện, được nhắc đến tần số cao “Sầu kiến chu hành phong hựu khởi/ Bạch đầu lăng lý, bạch đầu nhân” (Lâm giang tống Hạ Chiêm – Bạch Cư Dị)

Trường nghĩa gió gồm các từ chỉ: tên gọi của gió (Lào, mùa, lục địa, heo may, độc…), đặc điểm, trạng thái của gió (nóng, lạnh, dữ, rét…), chỉ hoạt động vận động của gió ( thổi, táp, bay, nổi, trở, giật, lắc…), âm thanh của gió (ù ù, lao xao, ào ào, rì rào…)

Trường nghĩa gió trong thơ Lưu Quang Vũ bao gồm các từ chỉ tên gọi

của gió, trạng thái, đặc điểm của gió, hoạt động sự vận chuyển của gió, biến thể của gió… chẳng hạn:

[1] Trường nghĩa chỉ tên gọi: lửa, rừng, bấc, mùa, lục địa, biển, Lào,

heo may…

[2] Trường nghĩa chỉ trạng thái, đặc điểm của gió: dữ, mát, nóng, độc,

rét, buốt, lạnh…

[3] Trường nghĩa chỉ hoạt động, chuyển động của gió: thối, táp, lùa,

dập, ngợp, nổi, trở, hú, xoáy, lắc, giật, bay, lồng lộng, cuộn…

Trang 24

Trong các tiểu trường về gió, có thể thấy trường nghĩa chỉ hoạt động, sự vận động của gió có số lượng từ phong phú và đa dạng hơn Sự vận động thay đổi của gió cho thấy Lưu Quang Vũ quan sát hiện tượng thiên nhiên những biến chuyển của gió, hình ảnh của gió trong thơ ông mang nhiều nét nghĩa mới mẻ,

nó giống như một sinh thể, con người có nhiều cung bậc cảm xúc, có khi như người quen, như người lạ

2.1.2 Trường nghĩa mưa

Mưa là hiện tượng những giọt nước lỏng, nó ngưng tụ thành hơi nước trong khí quyển khi đủ nặng thì chúng rơi xuống đất dưới sự tác động của trọng

lực Trường nghĩa mưa gồm các từ chỉ: tính chất, đặc điểm của mưa (to, nhỏ, lớn…), thời gian, không gian của mưa (sáng, chiều, dưới, trong…), cường độ của mưa (trận, cơn, rải rác…)

Mưa xuất hiện rất nhiều trong thơ ca Việt Nam, từ những câu ca dao, dân

ca của người dân lao động khi quan sát thiên nhiên, biểu hiện của thời tiết để trồng cấy mùa màng, ở thời kì trung đại ta bắt gặp hình ảnh mưa trong thơ của Nguyễn Trãi, sang đến đầu thế kỉ XX, trong thơ mới lãng mạn hạt mưa xuất hiện trong thơ ca mang vẻ u buồn, man mác thế nhưng sau 1945 thì mưa trở lại trong thơ của Huy Cận mang một vẻ tươi mới, không còn u sầu, lẻ loi mà tràn đầy sức sống, nhìn vào mưa để giãi bày những tâm tư của con người “Em bé thuyền ai ra giỡn nước/Mưa xuân tươi tốt cả cây buồm” (Mưa xuân trên biển, 1959)

Trường nghĩa mưa trong thơ Lưu Quang Vũ khá phong phú, đa dạng qua

khảo sát chúng tôi thống kê được những tiểu trường nghĩa mưa sau:

[1] Trường nghĩa chỉ cường độ mưa:

Trường nghĩa chỉ cường độ mưa là lượng mưa rơi xuống tại một vị trí nào đó, nó có sự biến đổi về tần suất qua thời gian, theo khảo sát chúng tôi nhận thấy trong các tập thơ của Lưu Quang Vũ có sử dụng số lượng từ ngữ chỉ cường

độ mưa lớn, xuất hiện với tần số cao: trận, cơn, nhiều, ít, rải rác, dữ dội…

[2] Trường nghĩa chỉ thời gian, không gian mưa

Trang 25

Trong thơ Lưu Quang Vũ sử dụng các từ thuộc trường nghĩa thời gian

và không gian mưa với số lượng lớn nhất: xuân, đông, thu, sáng, chiều, đêm,

ngày, trong, dưới…

[3] Trường nghĩa chỉ tên gọi mưa: rào, ngâu…

[4] Trường nghĩa chỉ trạng thái của mưa: rơi, đổ, bay, thả…

[5] Trường nghĩa chỉ âm thanh của mưa: tí tách, lộp độp, ào ào… [6] Trường nghĩa chỉ biến thể của mưa: mây, sương, nước, hơi…

Trong các tiểu trường về mưa, có thể thấy trường nghĩa về thời gian, không gian mưa là có số lượng từ phong phú hơn cả Trong thơ của Lưu Quang

Vũ mưa xuất hiện trong nhiều khoảng thời gian, không gian thể hiện những tâm

tư, nỗi niềm trăn trở về cuộc đời cũng như niềm tin yêu cuộc sống, tin yêu vào hạnh phúc của nhà thơ

2.1.3 Trường nghĩa bão

Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển, một loại hình thời tiết cực đoan Trong thơ ca, hình ảnh cơn bão thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên đồng thời thể hiện những cảm xúc mãnh liệt, những khó khăn, sóng gió trong tình yêu, trong cuộc sống đều được diễn tả qua hình tượng bão “Thuyền tình mất lối trong giông bão/ Một cánh hoa trôi phải ngậm ngùi” (Bão Tình)

Trường nghĩa bão trong thơ Lưu Quang Vũ gồm các từ chỉ trạng thái,

đặc điểm của bão, hoạt động sự vận chuyển của bão, biến thể của bão… chẳng hạn:

[1] Trường nghĩa chỉ trạng thái, đặc điểm của bão: lặng, dữ…

[2] Trường nghĩa chỉ sự vận động, hoạt động của bão: táp, lật, nổi,

lật…

[3] Trường nghĩa chỉ biến thể của bão: giông, tố, lốc…

Trong các tiểu trường về bão, có thể thấy trường nghĩa về sự vận động, hoạt động của bão có số lượng từ chiếm phần nhiều hơn qua đó có thể thấy bão

là hiện tượng thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt mà con người phải trải qua và

Ngày đăng: 16/06/2022, 17:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1, Nxb, GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Năm: 2007
[4]. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB, ĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2007
[6]. Hoàng Kim Ngọc (2003), “Ẩn dụ hóa – một trong những cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai”, Tạp chí Ngôn ngữ số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ẩn dụ hóa – một trong những cơ chế cấu tạo các đơn vị định danh bậc hai
Tác giả: Hoàng Kim Ngọc
Năm: 2003
[7]. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Tác giả: Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[8]. Lê Lan Hương (2012), “Đặc điểm ngôn ngư thơ trữ tình của Lưu Quang Vũ”, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngư thơ trữ tình của Lưu Quang Vũ
Tác giả: Lê Lan Hương
Năm: 2012
[9]. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb, GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1999
[10]. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb, ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 2008
[11]. Nguyễn Thị Kim Lanh (2013), “Trường từ vựng sông nước Nam Bộ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng”, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng sông nước Nam Bộ trong một số truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lanh
Năm: 2013
[12]. Nguyễn Thị Huệ (2011), “Trường từ vựng tình yêu trong thơ Nguyễn Bính”, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng tình yêu trong thơ Nguyễn Bính
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 2011
[13]. Nông Thị Hậu (2007), “Giá trị biểu đạt của các từ ngữ sinh hoạt trong Dế Mèn Phưu Lưu Kí của Tô Hoài”, Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị biểu đạt của các từ ngữ sinh hoạt trong Dế Mèn Phưu Lưu Kí của Tô Hoài
Tác giả: Nông Thị Hậu
Năm: 2007
[14]. Phó Thị Hồng Oanh (2013), “Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong truyện Tây Bắc của Tô Hoài”, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường từ vựng - ngữ nghĩa trong truyện Tây Bắc của Tô Hoài
Tác giả: Phó Thị Hồng Oanh
Năm: 2013
[15]. Sùng A Khứ (2015), “Đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ thực vật trong tiếng mông và tiếng việt”, Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ thực vật trong tiếng mông và tiếng việt
Tác giả: Sùng A Khứ
Năm: 2015
[16]. Saussure F., Cao Xuân Hịch dịch (1973), “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”, NNB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Saussure F., Cao Xuân Hịch dịch
Năm: 1973
[17]. Trần Doãn Quyết (2016), “Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Lưu Quang Vũ”, Luận Văn Thạc Sĩ, Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả: Trần Doãn Quyết
Năm: 2016
[18]. Trần Thế Tuân (2015), “Đặc điểm thơ trữ tình Lưu Quang Vũ”, Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm thơ trữ tình Lưu Quang Vũ
Tác giả: Trần Thế Tuân
Năm: 2015
[19]. Trần Thị Hương (2012), “Biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ”, Đại học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 2012
[20]. Sùng A Khứ (2015), “Đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ thực vật trong tiếng mông và tiếng việt”, Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ thực vật trong tiếng mông và tiếng việt
Tác giả: Sùng A Khứ
Năm: 2015
[21]. Vũ Hoàng Cúc (2011), “Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu”, Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu
Tác giả: Vũ Hoàng Cúc
Năm: 2011
[22]. Vũ Thuỳ Linh (2014), “Khảo sát trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong sáng tác của Nam Cao”, Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong sáng tác của Nam Cao
Tác giả: Vũ Thuỳ Linh
Năm: 2014
[5]. Đỗ Hữu Châu, (2005), tuyển tập (tập 1: Từ vựng – ngữ nghĩa), NXB Giáo dục, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

trong thơ ca lấy hình ảnh của bão để nói lên số phận, tình yêu mang nhiều ngang trái, bão tố - Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ
trong thơ ca lấy hình ảnh của bão để nói lên số phận, tình yêu mang nhiều ngang trái, bão tố (Trang 26)
Nhìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa gió chuyển qua các trường nghĩa khác  chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 43 lần chiếm 48,86%, sau đó  đến trường nghĩa mưa  chuyển  qua  các  trường  nghĩa  khác, xuất hiện  39  lần  chiếm 44,31%, tiếp đến là - Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ
h ìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa gió chuyển qua các trường nghĩa khác chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 43 lần chiếm 48,86%, sau đó đến trường nghĩa mưa chuyển qua các trường nghĩa khác, xuất hiện 39 lần chiếm 44,31%, tiếp đến là (Trang 27)
Nhìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa gió chuyển qua trường nghĩa chỉ con người  chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 39 lần chiếm 90,69%, - Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ
h ìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa gió chuyển qua trường nghĩa chỉ con người chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 39 lần chiếm 90,69%, (Trang 28)
Bảng 2.3: Bảng thống kê từ thuộc trường nghĩa mưa chuyển qua trường nghĩa khác - Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ
Bảng 2.3 Bảng thống kê từ thuộc trường nghĩa mưa chuyển qua trường nghĩa khác (Trang 31)
Nhìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa mưa chuyển qua trường nghĩa chỉ màu sắc  chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 22 lần chiếm 56,42%, - Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ
h ìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa mưa chuyển qua trường nghĩa chỉ màu sắc chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 22 lần chiếm 56,42%, (Trang 32)
Bảng 2.4: Bảng thống kê từ thuộc trường nghĩa bão chuyển qua trường nghĩa khác. - Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ
Bảng 2.4 Bảng thống kê từ thuộc trường nghĩa bão chuyển qua trường nghĩa khác (Trang 34)
Nhìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa bão chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật  chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 5 lần chiếm 83,33%, - Hiện tượng chuyển trường nghĩa gió, mưa, bão trong thơ Lưu Quang Vũ
h ìn vào bảng thống kê chúng ta thấy trường nghĩa bão chuyển qua trường nghĩa chỉ sự vật chiếm tỉ lệ cao nhất, xuất hiện 5 lần chiếm 83,33%, (Trang 35)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w