TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN TRẦN THU HUYỀN TIẾNG LÓNG CỦA GIỚI TRẺ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ Hà nội, ngày 5 tháng 5 năm 2022 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN TRẦN THU HUYỀN TIẾNG LÓNG CỦA GIỚI TRẺ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ Người hướng dẫn TS Lê Thị Thùy Vinh Hà nội, ngày 5 tháng 5 năm 2022 LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới TS Lê Thị Thù.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN THU HUYỀN
TIẾNG LÓNG CỦA GIỚI TRẺ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Hà nội, ngày 5 tháng 5 năm 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
TRẦN THU HUYỀN
TIẾNG LÓNG CỦA GIỚI TRẺ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Người hướng dẫn: TS Lê Thị Thùy Vinh
Hà nội, ngày 5 tháng 5 năm 2022
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới
TS Lê Thị Thùy Vinh - Giảng viên khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, và hoàn thành khóa luận
Và sau cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã bên cạnh tạo mọi điều kiện, động viên, khích lệ và nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành khóa luận này
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do điều kiện thời gian có hạn, khả năng nghiên cứu còn nhiều hạn chế, khóa luận này không thể tránh khỏi thiếu sót Em mong nhận được sự nhận xét, góp ý của các thầy cô để khóa luận của
em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2022
Tác giả khóa luận
Trần Thu Huyền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, những số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, mới hoàn toàn, chưa có
ai công bố trong một công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Trần Thu Huyền
Trang 5TS Lê Thị Thùy Vinh
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Bố cục của khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6
1.1 Khái quát về tiếng lóng 6
1.1.1 Khái niệm tiếng lóng 6
1.1.2 Đặc điểm của tiếng lóng 9
1.1.2.1 Tiếng lóng nhìn từ đặc điểm cấu tạo 9
1.1.2.2 Tiếng lóng nhìn từ đặc điểm chức năng 11
1.1.3 Vai trò của việc sử dụng tiếng lóng 14
1.2 Giới trẻ và tiếng lóng của giới trẻ 15
1.3 Báo điện tử 16
Tiểu kết chương 1 18
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ TIẾNG LÓNG CỦA GIỚI TRẺ TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 20
2.1 Đặc điểm về ngữ âm 20
2.1.1 Biến đổi một thành tố trong âm tiết 20
2.1.2 Nói lái 22
2.1.3 Đồng âm khác nghĩa 23
2.2 Đặc điểm về cấu tạo 26
2.2.1 Vay mượn ngoại lai 26
Trang 72.2.2 Tạo từ mới 29
2.2.3 Biến đổi nghĩa của những đơn vị có sẵn trong tiếng Việt 31
2.3 Đặc điểm về ngữ nghĩa 33
2.4 Nguyên nhân sử dụng tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử 39
2.5 Thái độ của xã hội đối với việc sử dụng tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử 40
Tiểu kết chương 2 43
KẾT LUẬN 45
MỤC LỤC THAM KHẢO 46
Trang 10xu hướng phát triển mới, để phục vụ công tác dự báo, định hướng, chuẩn hóa
và giáo dục ngôn ngữ phù hợp với từng giai đoạn
Trong bối cảnh hội nhập, phát triển như hiện nay, tiếng Việt đang có biến đổi sâu sắc trên nhiều phương diện từ ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa đến ngữ pháp, ngữ dụng… Sự biến đổi và phát triển của tiếng Việt trong hành chức tạo ra nhiều phương ngữ xã hội (PNXH) với nhiều đặc điểm khác biệt nhau Một trong những kiểu PNXH thường được nhắc đến trong tiếng Việt hiện nay là tiếng lóng Tiếng lóng là một biến thể sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ, được các nhóm trong một xã hội hình thành nên để trao đổi nội bộ
và cũng nhằm bảo vệ lợi ích cho nội bộ của nhóm xã hội đó Hiện nay, tiếng lóng đang có xu hướng phát triển mạnh ở bộ phận giới trẻ Vì thế đặc trưng bí mật cũng như đối tượng sử dụng chỉ có bọn người xấu, không tốt mới dùng tiếng lóng cũng đã có sự chuyển đổi về chức năng để chỉ thứ tiếng lóng vui nhộn, dí dỏm, thông minh
Cùng với sự phát triển chóng mặt của mạng internet, loại hình báo điện
tử đang ngày một phát triển, trong đó, hình thành nhiều trang báo điện tử hướng tới độc giả trẻ Trong những trang báo này, hệ thống tiếng lóng của giới trẻ được dùng khá phổ biến Điều này đã tạo ra một luồng gió mới trong ngôn ngữ của đời sống tiếng Việt đương đại
Với ý nghĩa đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu “Tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử” nhằm hướng đến nghiên cứu và tìm hiểu
thực trạng sử dụng tiếng lóng của giới trẻ trên một số báo điện tử, từ đó xác
Trang 11Đỗ Hữu Châu (1985) trong Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục đã
xếp tiếng lóng trong phần biệt ngữ và đã có những giới thuyết khái quát nhất
về tiếng lóng như khái niệm tiếng lóng, những đặc điểm cơ bản, đặc điểm
chính của tiếng lóng… Nguyễn Thiện Giáp (2002) trong Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục cũng đã dành 3 trang viết để trình bày về tiếng lóng Tác
giả bước đầu đã đưa ra cấu tạo của tiếng lóng Hoàng Thị Châu (1985) trong
Tiếng Việt trên các miền đất nước (phương ngữ học), NXB Khoa học xã hội
đã giới thiệu và mô tả được những biến thể địa phương vô cùng phong phú của Tiếng Việt Và đã giải thích được nguyên nhân xã hội cùng với những qui luật biến đổi làm sao để tạo ra sự đa dạng đó Tác giả cũng đã phần nào nêu được các dạng của tiếng lóng
Sau này, đã có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể về tiếng lóng như
Tiếng lóng Việt Nam (2010), NXB Khoa học Xã hội của Nguyễn Văn Khang
Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Văn Khang đã đi sâu, trình bày đặc điểm của tiếng lóng (con đường hình thành lóng, phương thức tạo từ ngữ lóng tiếng Việt cùng chức năng của chúng trong mối quan hệ với tiếng Việt nói chung) đồng thời biên soạn phần từ điển từ ngữ lóng tiếng Việt Tiếp đó, công
trình Ngôn ngữ học xã hội NXB Giáo dục Việt Nam của Nguyễn Văn Khang
cũng dành nguyên một chương để trình bày về tiếng lóng Tác giả đã trình bày
về khái niệm của tiếng lóng, đặc điểm của tiếng lóng nhìn từ góc độ cấu tạo
từ, nhìn từ đặc điểm chức năng
Một số luận án, luận văn và bài báo khoa học cũng đã đề cập đến tiếng lóng như:
Trang 12- Nguyễn Đức Tồn (2014), “Ngôn ngữ giới trẻ có phải là tiếng lóng cần chuẩn hóa?”, Tạp chí Ngôn ngữ số 8-2014
- Đặng Thị Diệu Trang (2015), “Ngôn ngữ teen trong giao tiếp của giới
trẻ hiện nay”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 376
- Đỗ Thùy Trang (2000), “Ngôn ngữ giới trẻ qua phương tiện truyền thông”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Huế Luận văn này đã trình bày khái niệm
tiếng lóng, cấu tạo tiếng lóng từ đó khảo sát thực trạng sử dụng tiếng lóng hiện nay của giới trẻ qua phương tiện truyền thông
Như vậy có thể thấy, hiện nay vấn đề tiếng lóng trên báo điện tử chưa
có ai tìm hiểu và nghiên cứu một cách hệ thống Vì vậy, hướng đi này của chúng tôi vẫn là hướng đi riêng, không trùng lặp Đề tài của chúng tôi hứa hẹn
sẽ tìm ra được nguyên nhân và có những định hướng cụ thể cho việc sử dụng tiếng lóng trên báo điện tử
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở thống kê, phân loại và miêu tả đánh giá các dạng thức của
từ ngữ lóng khóa luận hướng tới xác định những đặc điểm nổi bật của từ ngữ lóng, hướng tới sự đa dạng, phong phú của thứ tiếng mới mẻ này
Khảo sát thực trạng về nhận thức và việc sử dụng tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử từ đó xác định nguyên nhân, đưa ra những đánh giá khách quan, toàn diện về hiện tượng này trong đời sống ngôn ngữ Việt
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu những vấn đề sau đây:
Trang 134
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết về tiếng lóng, về báo điện tử, nhóm người trẻ trong xã hội
- Khảo sát thực trạng sử dụng tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử
- Phân loại và phân tích các dạng thức lóng của giới trẻ trên báo điện
tử
- Xác định nguyên nhân, đánh giá về ưu nhược điểm của việc sử dụng tiếng lóng trên báo điện tử
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tiếng lóng của giới trẻ được sử dụng trong ngôn ngữ của báo điện tử
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của khóa luận, chúng tôi chỉ tìm hiểu tiếng lóng của giới trẻ trên một số trang báo điện tử dành cho giới trẻ như kenh14.vn, hoahoctro.tienphong.vn, svvn.tienphong.vn… Đây là những trang báo, trang thông tin điện tử viết cho giới trẻ vì thế ngôn ngữ của nó cũng là ngôn ngữ hướng đến đại bộ phận giới trẻ Trong những trang báo này, chúng tôi lựa chọn những chuyên mục như giải trí, âm nhạc, phim ảnh, làm đẹp, chia sẻ kinh nghiệm… để xác định ngữ liệu nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi tập trung vào những phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp khá quan trọng cho việc làm rõ những vấn đề của bài khóa luận Dựa vào những nguồn tư liệu khác nhau, các công trình nghiên cứu chúng tôi sẽ đi miêu tả phân tích đặc điểm tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử
Trang 145
5.2 Thủ pháp thống kê
Là thủ pháp dùng để xác định số lượng cụ thể, tỉ lệ phần trăm giới trẻ
sử dụng tiếng lóng Và phương pháp này cũng được dùng để thống kê các ý kiến của mọi người trong vấn đề có nên sử dụng tiếng lóng trên báo điện tử hay không?
5.3 Thủ pháp phân loại
Với thủ pháp phân loại chúng tôi sẽ căn cứ vào đặc điểm, tính chất, thành phần… để phân tách, xác định tên gọi các loại lóng dựa trên cấu tạo và ngữ nghĩa
5.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các bình diện về tiếng lóng như: khái niệm, hay cấu tạo, ngữ nghĩa tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử
5.5 Thủ pháp so sánh
Chúng tôi dùng thủ pháp này để so sánh, đối chiếu số lượng tiếng lóng nhằm thấy được những ưu điểm và nhược điểm, thấy được những nét đặc sắc trong từng hoàn cảnh khi sử dụng tiếng lóng Không chỉ vậy, chúng tôi còn đi
so sánh ý kiến của những người trung niên với ý kiến của giới trẻ về vấn đề có hay không việc sử dụng tiếng lóng trong báo điện tử
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
có cấu trúc 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đặc điểm về tiếng lóng của giới trẻ trên báo điện tử
Trang 156
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1 Khái quát về tiếng lóng
1.1.1 Khái niệm tiếng lóng
Tiếng lóng được xem là một tiểu loại của phương ngữ xã hội, đây là biến thể được dùng rất nhiều trong giao tiếp khẩu ngữ Các nói này là do một nhóm xã hội “tạo ra” và chỉ những ai là thành viên trong nhóm xã hội đó mới biết sử dụng, mới có thể giao tiếp và hiểu được ý nghĩa của nó Ban đầu phạm
vi sử dụng hẹp nên ý nghĩa của nó vẫn được giữ bí mật Dần dần nó bị xã hội hóa do tác động từ nhiều yếu tố, những từ ngữ lóng sẽ bị mất tính bí mật Có thể nhận thấy rằng tiếng lóng vừa là phương tiện giao tiếp riêng của từng nhóm mà còn là tín hiệu riêng của nhóm để các thành viên nhận ra nhau, tìm được nhau và tìm ra sự đồng nhất trong mỗi nhóm
Từ xưa đến nay thì có rất nhiều những định nghĩa, những khái niệm tiếng lóng của các nhà nghiên cứu Dưới đây chúng tôi sẽ dẫn ra một số những quan niệm về tiếng lóng của một số nhà nghiên cứu:
- Định nghĩa trong từ điển: Các từ điển tiếng Việt giải thích đều đưa tiếng lóng thành một mục từ và kèm theo lời giải thích:
Tiếng lóng: “Cách nói một ngôn ngữ riêng trong một tầng lớp hoặc một nhóm người nào đó, cốt chỉ để cho trong nội bộ hiểu với nhau mà thôi”
(Đại từ điển tiếng Việt, 1999)
Li yu (lí ngữ): “Những từ phương ngôn thô tục hoặc lưu hành hạn hẹp” (Hiện đại Hán ngữ từ điển, 1998)
Slang: “Những từ, cụm từ rất thân mật, không nghi thức thường dùng trong lời nói nhất là giữa những người cùng một nhóm xã hội, làm việc cùng với nhau và không được coi là thích hợp cho những bối cảnh nghi thức và không được sử dụng lâu dài” (Advanced learner’s English Dictionary, 1993)
Trang 167
- Định nghĩa của các nhà nghiên cứu: Đã có rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước về tiếng lóng như: Đỗ Hữu Châu (1981), Hoàng Thị Châu (1989), Nguyễn Văn Tu (1968), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Đái Xuân Ninh - Nguyễn Đức Dân - Nguyễn Quang - Vương Toàn (2986) Hoặc một
số bài viết như: Nguyễn Văn Tố (1925), L’argot Annamite de Hanoi; Trịnh Liễu (1979) Một số ý kiến về việc nghiên cứu tiếng lóng: Chu Thị Thanh Tâm (1998), tiếng lóng trong giao thông vận tải, Và sau đây là một số quan niệm về tiếng lóng của các nhà Việt ngữ học:
Theo Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”:
“Tiếng lóng bao gồm các đơn vị từ vựng thuộc loại thứ hai trong biệt ngữ tức
là tên gọi “chồng lên” những tên gọi chính thức Hiện tượng tiếng lóng là phổ biến đối với mọi tập thể xã hội Hầu như tất cả các tập thể xã hội nào đã có cái gì chung về sinh hoạt hay về sản xuất, làm việc thì đều có những tiếng lóng của riêng mình…[3, tr.227]
Hoàng Thị Châu đưa ra khái niệm về tiếng lóng: “Tiếng lóng là loại ngôn ngữ chỉ cốt nói cho một nhóm người biết mà thôi, những người khác không thể biết được Vì mục đích của biệt ngữ và tiếng lóng là che đậy việc làm không cho nhóm ngoài biết, cho nên tất cả những từ ngữ gì có thể khiến người ta phỏng đoán được nội dung công việc đều bị thay thế nhất là trong đám người làm những nghề bất lương bị xã hội ngăn cấm như cờ bạc, bọn ăn cắp, bọn buôn lậu” [4, tr.56]
Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải được toàn dân sử dụng mà chỉ một tần lớp xã hội nào đó sử dụng mà thôi… Tiếng lóng là hiện tượng kí sinh vào tiếng Việt, số phận tiếng lóng gắn liền với môi trường, hoàn cảnh và bản thân những tầng lớp xã hội sản sinh ra nó” (Nguyễn Thiện
Giáp, 1985, tr.288-289)
Cũng tìm hiểu và đưa ra quan niệm về tiếng “lóng” thì Nguyễn Văn
Khang cho rằng: “tiếng lóng là một loại phương ngữ xã hội, được các nhóm
xã hội tạo ra để giao tiếp nội bộ, thường được sử dụng trong giao tiếp khẩu ngữ” [12]
Trang 178
“Tiếng lóng chỉ gồm có một số từ Nó không phải là công cụ giao tế của xã hội mà chỉ là một số từ với ý nghĩa bí hiểm của một nhóm người với mục đích không cho người khác biết (Nguyễn Văn Tu, 1968, tr.132)
“Tiếng lóng là một thức tiếng ước lệ có tính chất bí mật, một lối nói kín của bọn nhà nghề dùng để giấu những ý nghĩ, việc làm của mình cho người khác khỏi biết Nó thường có tỏng những hạng người làm nghề bất lương, tầng lớp lưu manh, hoặc tầng lớp con buôn trong xã hội còn có giai cấp”
(Lưu Vân Lăng, 1960, tr.75)
“Tiếng lóng là ngôn ngữ riêng của một nhóm xã hội hoặc nghề nghiệp
có tổ chức gồm các yếu tố của một hoặc một số các ngôn ngữ tự nhiên đã được chọn lọc và biến đổi đi nhằm tạo sự cách biệt ngôn ngữ với những người không liên đới Khác biệt ngữ, tiếng lóng có nghĩa xấu Thông thường, tiếng lóng được sử dụng nhằm mục đích che giấu đối tượng giao tiếp, đồng thời là phương tiện tách biệt của một nhóm người ra khỏi phần còn lại của xã hội” (Đái Xuân Ninh - Nguyễn Đức Dân - Nguyễn Quang - Vương Toàn,
1986, tr277)
“Tiếng lóng là loại ngôn ngữ riêng của một nhóm xã hội nhằm tạo ra
sự tách biệt với những người không liên đới, sự tách biệt này có thể là nhằm mục đích giữa bí mật, nhưng cũng có thể chỉ nhằm tạo ra một nét riêng cho nhóm xã hội mình” (Đoàn Tử Huyến, Lê Thị Yến)
Từ định nghĩa của các nhà nghiên cứu ta có thể thấy nổi bật lên một số
vấn đề xung quanh khái niệm như:
- Tiếng lóng là biến thể của ngôn ngữ học xã hội, là một tiểu loại của biệt ngữ và khác với từ nghề nghiệp Vì vậy cần phân biệt tiếng lóng, tiếng nghề nghiệp và biệt ngữ
- Tiếng lóng chỉ được sử dụng trong giao tiếp nhưng không chính thức, phạm vi nhỏ, hẹp (những nhóm sử dụng trước đây tập chung chủ yếu ở tầng lớp trộm cắp, cướp dật, ma túy hay đĩ điếm mà thôi)
- Các từ ngữ lóng được cấu tạo từ ba nguồn chính: Đầu tiên là nguồn từ ngữ văn vốn có được cấp thêm nghĩa mới, thứ hai là nguồn cấu tạo từ ngữ
Trang 181.1.2 Đặc điểm của tiếng lóng
1.1.2.1 Tiếng lóng nhìn từ đặc điểm cấu tạo
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng những từ lóng tiếng Việt được tạo ra dựa trên cơ sở của vốn từ tiếng Việt Tức là bằng những gì có sẵn và những phương thức tạo từ vốn có để tạo từ lóng Chính vì vậy sẽ có những tình trạng khác nhau xảy ra như sau:
- Chúng ta sáng tạo ra những từ ngữ lóng mới như: Đơ, bỉ, cộ, sưa, phóng, chôm,
- Cũng có những từ được gọi là lóng do cách gọi tách nghĩa lóng ra khỏi từ đa nghĩa để gọi riêng cho nghĩa lóng ấy Có nghĩa là nghĩa lóng chỉ là một nghĩa trong từ đa nghĩa đó Ví dụ như: “Phao” đây là một từ lóng rất quen thuộc với ngành giáo dục, với các bạn học sinh, sinh viên, nó hiểu nôm
na là tài liệu được mang vào trong phòng thi để quay cóp mong qua môn, mong được điểm cao, “pin” trong câu em về quê sặc pin chứ cuối tháng kẹt quá, nó có nghĩa là tiền, “hàng” gái mại dâm…
Được dùng phổ biến nhất, được xuất hiện nhiều nhất là những tiếng lóng sử dụng ngay các đơn vị từ vựng có sẵn trong tiếng Việt và cấp cho nó thêm một nghĩa mới Đây là hình thức tạo lóng cơ bản nhất trong tiếng Việt
Ví dụ như cùng một nghĩa là “gái mại dâm” nhưng nó có vô vàn cách gọi khác nhau: Hàng (hàng chăn, hàng dội), bông hoa nhỏ, gà (gà chiến, gà bán,
Trang 19đó cho thấy rằng nét nghĩa đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo lập nghĩa lóng của từ ngữ lóng
- Nghĩa của các từ lóng trong nhiều trường hợp chẳng qua là sự dịch chuyển hoặc chuyển đổi nghĩa cho nhau Ví dụ như “bệnh viện” có nghĩa là
“nhà tù”, nhưng “nhà tù” lại có nghĩa là “gia đình” Giữa những tiếng lóng có quan hệ với nhau như thế nào lại phụ thuộc vào sự “liên tưởng” của người sáng tạo và người sử dụng chúng
- Chính nhờ đó, các hành vi xấu lại được thăng hoa bằng những ngôn từ
“đẹp” Những bộ phận kín mang nội dung giới tính cơ thể, hay những hành vi
về quan hệ xác thịt được lóng hóa dưới dạng “uyển ngữ” xuất hiện “nhan nhản” Ví dụ như “khách sạn hữu nghị” (nơi mua bán hoạt động dâm),
- Hoặc hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa, đa nghĩa của tiếng lóng cũng bắt nguồn từ đây
Đầu tiên là đồng âm - đa nghĩa: Ví dụ là từ “đi” vốn dĩ nó đã là từ đa nghĩa nay nó lại được các nhóm xã hội cấp thêm cho rất nhiều nghĩa mới: Nhóm xã hội trộm cắp đã cấp thêm cho từ đi các nghĩa (1) ngủ, (2) đi tù, (3)
ăn cắp, (4) chết, nhóm ăn chơi cấp các nghĩa (5) say sỉn, (6) quan hệ tình dục,
nhóm tham ô gian lận (7) hối lộ…
Thứ hai là đồng nghĩa: Có rất nhiều từ lóng có cùng một ý nghĩa ví dụ như là chỉ hành vi ăn trộm cắp: ẵm, xỉa, cầm nhầm, chôm, mua hàng, đưa…
Trang 20“Chú Thái” = “Thái Lan”…
Những từ ngữ lóng còn được tạo ra bằng các đơn vị từ vựng nước
ngoài: “trẩu” < zou, “đai” < died “chết”, “xì căng đan” < scandale “vụ bê
bối”
Những từ lóng còn sử dụng tên riêng: nhất là các tên riêng sử trong các tác phẩm văn học nghệ thuật (lấy tên nhân vật, tính cách đăc thù để tạo lóng: Thị Nở để nói về một người phụ nữ xấu xí, Chí Phèo để đề cập đến những kẻ bất cần đời, liều lĩnh, Chị Dậu là chỉ những người nghèo khổ…
Và thậm chí tiếng lóng còn gán thêm “họ” cho các từ ngữ địa phương: Ví dụ như:
“Đi Trần văn bia không anh?” (đi uống bia không anh)
“Nhanh nhanh mà Trần văn chuồn thôi!” (chuồn thôi)
1.1.2.2 Tiếng lóng nhìn từ đặc điểm chức năng
Tiếng lóng luôn luôn đi liền với nhóm xã hội cụ thể Sự sinh tồn của tiếng lóng gắn liền với sự sinh tồn của nhóm xã hội sinh ra chúng và dùng chúng
Với mong muốn, nhu cầu bảo vệ, giữ bí mật cho thông tin của mình, các nhóm người đã tự tìm cách, tự tạo ra cho nhóm xã hội của mình thứ ngôn ngữ riêng - tiếng lóng riêng Mỗi loại tiếng lóng lại chứa đựng đặc điểm văn hóa của nhóm xã hội đó
Nhóm trộm cắp họ sẽ có những từ lóng: hành động ăn trộm (chôm, mõi, cầm nhầm, mổ, xỉa, mua hàng, cầm gà, bốc, tăm…), đồ vật ăn cắp (xế, xế câm, xế điếc, xế hộp, mồng, bướu…), các thành viên trong nhóm ăn cướp (thằng bẻo, yêu, tiểu yêu, cờ hậu, tay làm, thủy quái, vạc ăn đêm…), đối tượng để chúng thực hiện hành động (khổ chủ, bạn hiền, khứa, con mòng, con
Trang 2112
nhạn…), khi hành động của chúng bị sa vào lưới, bị bắt: sa lưới, dính đạn, dính trấu, ốp…), hành vi trốn thoát của chúng khi bị phát hiện: chuồn, tẩu, bùng, bấm nút, lặn, hút, vọt…)
Nhóm hút hít, nghiện ngập có các từ như: Phê, nầng tiên trắng, nàng tiên nâu, bi đen, bi trắng, cơm trắng, xái hơi, thấu…
Nhóm học trò cũng có những tiếng lóng riêng liên quan trực tiếp đến
lứa tuổi của mình như: Gian lận trong thi cử (phao, phô tô, quay cóp, quay, xào, bắt dế, giấy bùa, ruột mèo…), Cảnh xin tiền gia đình (đạn, pin, học lụi,
ở lụi…), nhận xét về tính tình, trí tuệ (bã đậu, óc chó, đơ, lag, chập, cheng, củ chuối, tanh tưởi, lạc bầy…)
Hay nhóm xã hội chuyên vượt biên thì có những từ thay thế vượt biên
như: đi bốc mộ, đi học nghề, đi tu, đi về quê, đi làm ruộng Cách đề cập đến nước mình muốn vượt: đi thăm cô Đài, thăm anh Hồng, thăm chú Thái, thăm bác Phi … Công cụ dùng để vượt biên: Đóng ghe cắm lưới, tắc xi… Và kết quả vượt biên là: thi rớt, thi đỗ, nằm viện, xây nhà bị đổ…
Sau khi đọc xong ví dụ ta có thể thấy: các nhóm xã hộ đang hoạt động bất hợp pháp thì đều có những tiếng lóng mang chung nghĩa, ví dụ như để chỉ
cảnh sát: cớm, tây, cá, Phương tiện di chuyển: xế điếc, công chúa ngủ, nàng
áo đỏ, Tiền hoặc vàng bạc: giấy, tờ, viên thuốc bổ, áo, cây que… bị bắt vào tù: Kẹp, tôm, bóc lịch, xé lịch, thua nguội…)
Cách nói lóng và từ ngữ lóng tiếng Việt từ trước đến nay tập chung đa
số ở các nhóm xã hội bất hợp pháp Như cờ bạc, đĩ điếm, ma túy, hút hít, trộm cắp Sự tồn tại dai dẳng của những tệ nạn này cũng giúp cho tiếng lóng tồn tại theo “chủ nhân” của chúng Tiếng lóng có tính đặc trưng lâm thời vì nó tồn tại hay tiên vong hay thay đổi là phụ thuộc vào xã hội mà nó tồn tại Đáng chú ý nhất là tiếng lóng của học sinh, sinh viên: ở thời kì nào cũng có tiếng lóng của học sinh sinh viên, nhưng phát triển mạnh mẽ nhất là những năm gần đây Nó khác hoàn toàn so với nhóm trên, không mang tính u ám, bí mật… mà ngược lại nó rất dí dỏm, hài hước, vui tươi pha chút đùa nghịch, thông minh Đơn cử như “phao” vốn dĩ là vật thả nổi trên nước để giúp cho vật khác nổi cùng, thế nhưng ở đây nó đã biến thành thứ cứu sống học sinh khi đi thi, giúp họ qua
Trang 2213
môn, giúp họ điểm cao Hay có những từ lóng gây ấn tượng vô cùng mạnh,
sâu sắc: đạn là tiền, khẩu thần công nghĩa là điếu cày… Các cách suy nghĩ,
lối sống của giới trẻ vốn đã vui tươi, nghịch ngợm, chính vì vậy tiếng lóng lại càng có điều kiện phát triển mạnh
- Tiếng lóng được dùng trong phạm vi hẹp, mang tính khẩu ngữ, luôn luôn thay đổi, biến động Ở những băng đảng trộm cắp thì thay đổi làm sao cho giữ bí mất nhất có thể, nhưng với lứa tuổi học sinh thì chỉ cần nó mới Thậm chí đã có rất nhiều từ lóng đi vào từ ngữ chung của tiếng Việt Chúng ta
đã anh dũng chiến đấu và chiến thắng hai cuộc chiến tranh vô cùng oanh liệt, phải chăng từ khi đó những từ ngữ quân sự xuất hiện nhiều hơn: tấn công, công phá, bắn gục, áp sát, nổ chậm, đội hình, chiến tranh, hòa bình…
- Tiếng lóng được người viết dẫn vào tác phẩm của mình chủ yếu dưới dạng dẫn lại lời nói của nhân vật, hoặc nhắc lại Điều đó cho thấy mặc dù được xuất hiện trong văn viết nhưng lóng vẫn chỉ là lóng ở dạng văn nói (khẩu ngữ) mà thôi Chúng ta dẫn lời nói có tiếng lóng vào nó như con dao hai lưỡi, nếu ai hiểu nghĩa thì sẽ giúp cho giá trị bài tăng đáng kể, ngược lại nếu bạn dùng tràn lan, dùng bừa bãi thì nó sẽ phản tác dụng Chính điều này
đã đặt dấu hỏi chấm to đùng cho những ai đã, đang và sẽ cầm bút Họ muốn
sử dụng phong cách chữ thay đổi linh hoạt theo từng hoàn cảnh, vừa cố gắng
để chính mình không phải là người vi phạm
- Với tư cách là biến thể trong sử dụng phương ngữ xã hội, tiếng lóng chỉ được sử dụng giới hạn trong nhóm khác nhau Mặc dù đã có rất nhiều những nghiên cứu về tiếng lóng nhưng đến nay thì có hai quan điểm nhìn nhận đối với tiếng lóng
Quan điểm đầu tiên cho rằng “tiếng lóng là một hiện tượng không lành mạnh trong ngôn ngữ, nó làm cho ngôn ngữ thêm tối tăm chứ không làm giàu ngôn ngữ Nó chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp và mất dần đi, vì vậy, chúng
ta cương quyết chống lại các hiện tượng không tốt đẹp này và gạt bỏ ra khỏi ngôn ngữ văn hóa” (Nguyễn Văn Tu, 1976, tr123)
Quan điểm khác lại cho rằng: “Đối với tiếng lóng không lên án được toàn bộ nhưng cũng không chấp nhận tất cả” (Trịnh Liễn, 1979) Trên cơ sở
Trang 2314
này thì ông đã đề xuất chấp nhận những tiếng lóng tốt, tích cực bổ sung vào vốn từ chung của ngôn ngữ toàn dân Cũng trong mối quan hệ này thì Nguyễn Thiện Giáp (1985) cho rằng chỉ nên lên án những tiếng lóng “thô tục”
Quan điểm bác bỏ toàn bộ tiếng lóng ra khỏi tiếng Việt toàn dân là điều rất khó Tuy nhiên không phải vì thế mà không loại ngôn ngữ lóng ra khỏi ngôn ngữ toàn dân Nếu chúng ta nhìn phiến diện một chiều thì ngay lập tức
ta sẽ bị ác cảm, sẽ muốn loại bỏ ngay thứ tiếng này ra, muốn lên án sự xuất hiện của tiếng lóng Nhưng từ góc độ ngôn ngữ học xã hội thì đã có nhóm xã hội chắc chắn sẽ có ngôn ngữ nhóm xã hội đó Và cái vấn đề ở đây là cách lựa chọn sử dụng ngôn ngữ của người nói, người viết như thế nào, có hay không việc sử dụng tiếng lóng, mức độ sử dụng ra sao? Tiếng lóng chắc chắn vẫn là một phương tiện đặc biệt để sử dụng khi cần của người cầm bút cũng như của một người khi giao tiếp ngôn ngữ
1.1.3 Vai trò của việc sử dụng tiếng lóng
Ngay từ khi xuất hiện, tiếng lóng chỉ là một dạng mật mã, hoặc tín hiệu dành cho một nhóm xã hội (thường là nhóm xã hội hoạt động bất hợp pháp)
Ví dụ: tiếng lóng của nhóm xã hội hút hít, nghiện ngập; nhóm xã hội vượt biên; Ngoài những từ ngữ lóng dành cho tầng lớp tù tội, lưu manh… Vai trò bảo mật thông tin trong nhóm xã hội là một yêu cầu tiên quyết của tiếng lóng
Sau này, tiếng lóng của giới trẻ, tầng lớp học sinh, sinh viên gây ấn tượng mạnh ở tính tươi trẻ, trí tuệ, nghịch ngợm Vai trò giữ bí mật không còn
là vai trò tiên quyết mà vai trò “làm cho mới” mới là yêu cầu quan trọng Như V.Huy Gô cũng đã tốn rất nhiều công sức bàn về thứ tiếng mà người đời cho
là “ngôn ngữ của kẻ khốn cùng”, “ngôn ngữ của những người ngu dốt” V.Huy Gô cho biết tiếng lóng bị coi “đó là ngôn ngữ của những tên khổ sai, những nhà ngục, của tất cả những gì khả ố nhất trong xã hội ( ) thứ ngôn ngữ xấu xí, lo âu, thâm hiểm, phản bội, có nọc, ác độc, ám muội, đê hèn, sâu sắc, bất hạnh của kẻ khốn cùng” [24, tr.371], những từ ngữ này dị dượm và đượm một nét gì cầm thú quái đản (…) cảnh hoạn nạn tối lắm, nhưng tội ác còn tối hơn nữa Hai cái đen tối ấy hỗn tạp tạo nên tiếng lóng Tối mò trong không khí, tối mò trong hành động, tối mò trong tiếng nói” [24, tr.367;368]
Trang 2415
Những tín hiệu, những mật mã sẽ kích thích chúng ta đi khám phá, đi tìm hiểu ý nghĩa của nó Nó như vẽ ra trước mắt của ta một bức tranh mực tàu toàn bích về thế giới đang hiện hữu trước mắt chúng ta Khi ta sử dụng tiếng lóng đúng lúc, đúng nơi đúng chỗ thì nó còn mang đến sự vui tươi hài hước,
dí dỏm Tiếng lóng còn có vai trò như một công cụ giúp cho người dùng thoát
ra khỏi thế giới được dập khuôn bởi ý thức hệ ám ảnh duy nhất
Hiện nay tiếng lóng của học sinh, sinh viên, của giới trẻ khi sử dụng tiếng lóng giúp cho tiếng Việt của chúng ta đa dạng hơn, phong phú hơn và không bị đơn điệu, cũ kĩ
1.2 Giới trẻ và tiếng lóng của giới trẻ
“Giới trẻ” đây là cách gọi để chỉ những người thuộc tầng lớp thanh niên trong xã hội Tầng lớp này chiếm số lượng khá đông, khá quan trọng trong xã hội, có rất nhiều khái niệm khác nhau về lứa tuổi thanh niên
Điều 1, Bộ Luật Thanh niên số 53/2005/QH11 của Quốc hội quy định:
“Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “thanh niên” là những người trong
độ tuổi từ 15-24”
Còn có rất nhiều những quan niệm khác về độ tuổi này, nhưng ở Việt Nam ta thì độ tuổi thanh niên theo quy định của WHO từ 15-24 tuổi được dùng khá nhiều Trong những cuộc điều tra dân số thì tổng cục điều tra cũng
áp dụng tuổi này của WHO
Ở cái độ tuổi này thì tư tưởng, suy nghĩ của giới trẻ luôn luôn có tính sáng tạo, mới lạ, không dập khuôn so với thế hệ trước đó Có nhiều trường hợp trẻ cố tình làm trái, làm khác để khẳng định bản thân mình, để chứng tỏ mình
đã lớn, mình đã trưởng thành Có lẽ đây chính là nguyên nhân lớn nhất khiến cho giới trẻ đang bị “lệch chuẩn” về ngôn ngữ Thế hệ 9X có những từ ngữ lóng rất khác so với thế hệ trước, nhưng đến nay thế hệ 10X còn có những ngôn ngữ @ khác hoàn toàn thế hệ 9X Điều đó đương nhiên thế hệ trước đó
sẽ không hiểu nổi nếu không cập nhật không “up date” thường xuyên
Trang 25(khoản 6 Điều 3 Luật Báo chí 2016)
Báo điện tử có những đặc trưng sau:
a Tính thời sự
Báo điện tử giúp cho bạn đọc cập nhật thông tin nhanh, chính xác, thường xuyên và liên tục Thời đại công nghệ 4.0 và 5.0 thì Internet phủ sóng khắp mọi nơi, đường chuyền nhanh dễ dàng, công nghệ phát triển, máy tính hiện đại… cho phép các nhà báo có thể dễ dàng xâm nhập vào trong các sự kiện bất cứ lúc nào, viết bài và gửi về tòa soạn thông qua đường truyền Internet, hệ thống thư điện tử… Không cần phải đợi sự kiện diễn ra xong mí đăng tin, báo điện tử cho phép chúng ta đưa tin cùng lúc với sự kiện, ví dụ như tường thuật trực tiếp một trận bóng, một cuộc họp báo…Các nhà báo còn được update thường xuyên, thông tin mới nhất, nóng hổi nhất Thời gian đăng tải thêm tin rất chủ động, không cần chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như báo giấy Đó chính là tính phi định kì Báo điện tử ưu Việt hơn các báo khác ở chỗ tốc độ thông tin, lượng thông tin, tính thời sự và rất thuận tiện cho bạn đọc Đây là lí do lớn nhất giúp báo điện tử giữ chân được
số lượng bạn đọc nhất định và ngày càng gia tăng độc giả
b Tính tương tác
Khi mọi mặt của đời sống đều được nâng cao, nhu cầu đáp ứng về mặt thông tin rất được chú trọng, sự tương tác của bạn đọc với tác giả cũng rất quan trọng Không cứ gì báo điện tử, ở tất cả các loại hình đều phải lưu tâm vấn đề này Được sự hỗ trợ của công nghệ thông tin nên độc giả với bạn đọc
đã đến gần nhau hơn, chia sẻ trực tiếp trạng thái của mình Ngày nay ta có thể thấy, không chỉ có độc giả tương tác với tòa soạn, với tác giả mà độc giả còn tương tác với nhau, tương tác trực tiếp với các nhân vật trong tác phẩm Rất
Trang 2617
nhanh và đơn giản, chỉ cần một cái ấn chuột là chúng ta đã bày tỏ cảm xúc vui, buồn, mệt hay đói…
c Tính đa phương tiện
Báo điện tử là một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia) Chỉ với một bài báo điện tử mà tác giả có thể kết hợp cách kênh với nhau như tích hợp báo viết, báo hình, báo phát thanh, video sống động sắc nét Và độc giả có thể theo dõi bài viết của mình trên bất kì trang nào giống như báo in Khi theo dõi chúng ta được theo dõi cùng lúc cả video, hình ảnh, nghe âm thanh… mà không bị giới hạn về thời gian xem, và không gian xem Chính vì thế báo điện tử nó trở nên hấp dẫn hơn, sinh động hơn, nó tổng hợp của tất cả các loại hình báo chí khác
d Tính liên kết
Báo điện tử có thể liên kết vô cùng lớn nhờ vào các siêu liên kết (hyperlink), các từ khoá, web link, hồ sơ… Từ một trang báo bạn có thể đi đến các trang web liên kết khác chỉ cần một các click chuột Hay bạn đọc muốn tìm hiểu một thông tin nào đó, ngay lập tức những thông tin liên quan đến vấn đề đó sẽ hiện ra Dù bạn tìm kiếm theo nội dung thông tin, hay theo chủ đề, hay theo ngày thì những nội dung liên quan đều sẽ hiện ra cho bạn thỏa sức lựa chọn Bạn đọc sẽ ngợp thở trong lượng thông tin khổng lồ và vô hạn
e Khả năng lưu trữ và tìm kiếm
Báo điện tử cho phép bạn lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khổng lồ thông tin lưu trữ Bạn muốn đọc một thông tin nào đó chỉ cần bấm vào nút tìm kiếm ngay lập tức tất cả những bài viết liên quan sẽ hiện
ra Bạn có thể lọc thông tin theo ngày, theo chủ đề hay theo từ khóa Không bao giờ những bài viết bị xóa, bị mất hay bị thấy lạc vậy nên các bạn yên tâm tìm kiếm thoải mái Bạn đọc có thể xem đi, cũng có thể quay lại, chỉ cần ấn vào nút tìm kiếm nó khác hoàn toàn với truyền hình và phát thanh Nếu bạn không có thời gian đọc luôn, thì bạn có thể lưu lại và nào rảnh thì đọc Và kho lưu trữ của các bạn là vô hạn, muốn lưu bao nhiêu thì lưu, muốn lưu bài nào cũng được và lưu trong thời gian bao lâu cũng đều được, sẽ không bị trôi mất
Trang 2718
f Tính xã hội hóa
Tính xã hội hoá cao, khả năng cá thể hoá tốt nhờ vào sự phủ sóng của mạng toàn cầu Internet, báo điện tử không có giới hạn về khoảng cách, thêm vào đó là tính tương tác cao, do đó dễ dàng có thể thấy tính xã hội hoá rất cao
ở loại hình báo chí mới mẻ này Nếu bạn đọc muốn biết thông tin của các nước trên thế giới cũng chỉ cần một cái ấn chuột là có thể ra đúng nội dung bạn đang quan tâm Nhưng báo điện tử cũng có tính cá thể hóa tốt Mới nhìn thì ta thấy nó đang mâu thuẫn nhưng không phải như vậy Tính cá thể hóa là dành cho bạn đọc, chúng ta có thể tự do lựa chọn, tự do tìm hiểu những bài báo mà mình thích, những nội dung mà mình đang quan tâm Bạn đọc có thể dàng bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình bằng cách bình luận trực tiếp trên bài viết, hay “chat” với tác giả Đọc bao lâu, đọc kĩ hay đọc lướt qua tùy thích và tùy nhu cầu của bạn đọc Ngoài ra thì báo điện tử có độ lan tỏa rất cao, rất nhanh, và nội dung nếu có sơ suất thì dễ dàng đính chính, và chi phí thấp vì độc giả chỉ cần post bài một lần
Bên cạnh những ưu điểm trên, báo điện tử cũng có những hạn chế đáng lưu ý:
Thông tin nhiều, tràn lan nên độ tin cậy rất thấp, chúng ta nên chắt lọc những thông tin đáng tin cậy, hoặc biết lựa chọn những trang báo uy tín, độ tin cậy cao
Và nếu chúng ta muốn đọc được báo điện tử thì cần phải có thiết bị kết nối Internet như điện thoại, máy tính, ti vi…
Muốn tận dụng được hết tất cả nhưng thông tin hữu ích chúng ta cần phải tìm hiểu những trang web đáng tin cậy, và thường xuyên “update” những thông tin nóng hổi, nên hội nhập cùng những trang báo của các nước khác để
có nguồn thông tin mới hơn
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã tìm hiểu một cách tổng quan nhất về tình hình nghiên cứu tiếng lóng trong tiếng Việt như khái niệm, đặc điểm và vai trò của việc sử dụng tiếng lóng nói chung và tiếng lóng của giới trẻ nói riêng
Trang 2819
Bên cạnh đó, những vấn đề về báo điện tử cũng được chúng tôi xác lập như khái niệm, đặc trưng của báo điện tử Đây sẽ là những cơ sở lí thuyết quan trọng để chúng tôi có thể tìm hiểu về đặc điểm của tiếng lóng