HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌN
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ HỘI
NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
Họ và tên sinh viên: Trần Thị Thanh Thảo
Mã số sinh viên: KTQT48C1-0310
Lớp: Triết (13) KTQT48C1
Ngành: Kinh tế quốc tế
Khóa học: 2021-2022
Trang 2HÀ NỘI - 2022
I PHẦN MỞ ĐẦU 1
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1
1 Cơ sở hạ tầng 1
2 Kiến trúc thượng tầng 2
II MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG 3
1 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng 3
2 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng 3
Tiểu kết 4
III Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN 4
IV VAI TRÒ CỦA KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VIỆT NAM 5
1 Tình hình kinh tế- hội nhập quốc tế Việt Nam hiện nay 5
2 Vai trò của Nhà nước Việt Nam phát triển kinh tế- hội nhập quốc tế 6
2.1 Vai trò của nhà nước VN trong phát triển kinh tế 6
2.2 Vai trò của nhà nước VN trong hội nhập quốc tế 8
3 Thành tựu đạt được 9
4 Những bất cập còn tồn tại 10
5 Phương hướng phát triển và giải quyết khó khăn 10
6 Quan điểm cá nhân 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 4I PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế ngày nay, Việt Nam đã và đang không ngừng nỗ lực tiến hành công cuộc đổi mới một cách toàn diện và ngày càng sâu sắc về cơ sở hạ tầng cũng như kiến trúc thượng tầng xã hội Như chúng ta đã biết, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được xem là một trong những nội dung cơ bản nằm trong học thuyết hình thái kinh tế xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử, là cơ sở của thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong nhận thức cũng như cải tạo xã hội Cơ sở hạ tầng là kết cấu kinh tế đa thành phần trong đó có thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể và nhiều thành kinh tế khác nhau Đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú được phản chiếu trên nền kiến trúc thượng tầng và đặt ra đòi hỏi khách quan là nền kiến trúc thượng tầng cũng phải đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế Vì vậy, trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội ở nước ta, cần vận dụng và quán triệt quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Qua đó cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng và liên hệ với vai trò của kiến trúc thượng tầng Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế hiện nay” thực
sự có ý nghĩa và rất cần thiết
II CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định
Kết cấu cơ sở hạ tầng của một xã hội gồm: quan hệ sản xuất thống trị (chính thống ); quan hệ sản xuất tàn dư (của phương thức sản xuất cũ); quan hệ sản xuất mới (tồn tại dưới hình thái mầm mống) Trong đó quan hệ sản xuất thống trị chiếm vị trí chủ đạo, chi phối các quan hệ sản xuất khác, định hướng sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội và giữ vai trò là đặc trưng cho chế độ kinh tế của một xã hội nhất định Sự tồn tại của ba loại hình quan hệ sản xuất cấu thành
Trang 5cơ sở hạ tầng của một xã hội phản ánh tính chất vận động, phát triển liên tục của lực lượng sản xuất với các tính chất kế thừa, phát huy và phát triển C.Mác đã viết: “ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó ”
Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì cơ sở hạ tầng cũng mang tính đối kháng giai cấp, giai cấp thống trị nắm giữ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, giai cấp bị trị không có tư liệu sản xuất , lợi ích cơ bản đối lập nhau nên tất yếu mâu thuẫn với nhau
2 Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, được hình thành trên
cơ sở hạ tầng nhất định
Kiến trúc thượng tầng của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm: hệ tư tưởng và thể chế giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm của xã hội trước để lại; quan điểm và tổ chức của các giai cấp trung gian Tính chất hệ tư tưởng của giai cấp thống trị quyết định tính chất cơ bản của kiến trúc thượng tầng trong một hình thái xã hội nhất định Trong đó bộ phận mạnh nhất của kiến trúc thượng tầng là nhà nước- công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống xã hội
Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng, nhưng chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng Song, mỗi yếu tố khác nhau có quan hệ khác nhau đối với cơ sở hạ tầng Có những yếu tố như chính trị, pháp luật có quan hệ trực tiếp với cơ sở hạ tầng; còn những yếu tố như triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ quan hệ gián tiếp với nó
Trang 6II MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
1 Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng
- Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng: Cơ sở hạ tầng như thế nào thì
cơ cấu, tính chất của kiến trúc thượng tầng là như thế ấy Trong các quan hệ xã hội, quan hệ vật chất quyết định quan hệ tinh thần Mâu thuẫn trong đời sống vật chất, kinh tế, xét cho đến cùng, quy định mâu thuẫn trong đời sống tinh thần, tư tưởng của xã hội
- Những biến đổi căn bản của cơ sở hạ tầng sớm hay muộn sẽ dẫn đến sự biến đổi căn bản trong kiến trúc thượng tầng Nguyên nhân của sự biến đổi đó là do
sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm biến đổi quan hệ sản xuất, kéo theo sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và thông qua
sự biến đổi này, làm biến đổi kiến trúc thượng tầng
- Sự phụ thuộc của kiến trúc thượng tầng vào cơ sở hạ tầng phong phú và phức tạp Bên trong kiến trúc thượng tầng cũng có những mối liên hệ tác động lẫn nhau, đôi khi dẫn đến những biến đổi trong kiến trúc thượng tầng mà không do
cơ sở hạ tầng gây nên Nhưng suy cho đến cùng, mọi sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng đều có cơ sở từ những sự biến đổi trong cơ sở hạ tầng
2 Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
- Kiến trúc thượng tầng là một bộ phận cấu thành hình thành kinh tế xã hội, được sinh ra và phát triển trên một cơ sở hạ tầng nhất định, cho nên sự tác động tích cực của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng được thể hiện ở chức năng xã hội của kiến trúc thượng tầng là luôn luôn bảo vệ duy trì, củng cố và hoàn thiện cơ sở hạ tầng sinh ra nó, đấu tranh xoá bỏ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đã lỗi thời lạc hậu Kiến trúc thượng tầng tìm mọi biện pháp để xoá
bỏ những tàn dư của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ, ngăn chặn những mầm mống tự phát của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mới nảy sinh trong xã hội ấy
- Thực chất trong xã hội có giai cấp đối kháng, kiến trúc thượng tầng bảo đảm
sự thống trị chính trị và tư tưởng của giai cấp giữ địa vị thống trị trong kinh tế Nếu giai cấp thống trị không xác lập được sự thống trị về chính trị và tưởng, cơ
sở kinh tế của nó không thể đứng vững được Vì vậy, kiến trúc thượng tầng thực
sự trở thành công cụ, phương tiện để duy trì, bảo vệ địa vị thống trị về kinh tế của giai cấp thống trị của xã hội
Trang 7- Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có tác dụng to lớn đối với cơ sở hạ tầng Nhà nước không chỉ dựa vào hệ tư tưởng mà còn dựa vào chức năng kiểm soát xã hội để tăng cường sức mạnh kinh tế của giai cấp thống trị Ăngghen viết: “bạo lực (nghĩa là quyền lực nhà nước) cũng là một lực lượng kinh tế” Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… cũng tác động đến cơ
sở hạ tầng, nhưng thường thường phải thông qua nhà nước, pháp luật
- Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng theo chiều tích cực hoặc tiêu cực:
Tích cực: Nếu kiến trúc thượng tầng tác động cùng chiều với những quy luật vận động của cơ sở hạ tầng thì nó thúc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển Từ đó nó thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
Tiêu cực: Nếu kiến trúc thượng tầng tác động ngược chiều với các quy luật vận động của cơ sở hạ tầng thì nó cản trở, kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng
Từ đó nó kìm hãm phát triển kinh tế
Tiểu kết
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt cơ bản của xã hội gắn bó hữu
cơ, tác động biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, còn kiến trúc thượng tầng tác động trở lại to lớn đối với cơ sở hạ tầng Thực chất là sự hình thành, vận động, phát triển của các quan điểm tư tưởng cùng những thể chế chính trị-xã hội tương ứng xét đến cùng, phụ thuộc vào quá trình sản xuất và tái sản xuất các quan hệ kinh tế Do đó, khi xem xét và cải tạo xã hội phải thấy rõ vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng và tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng, không được tuyệt đối hoá hoặc hạ thấp yếu tố nào
III Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
là cơ sở khoa học cho việc nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ giữa kinh
tế và chính trị Kinh tế và chính trị tác động biện chứng, đó kinh tế quyết định chính trị, chính trị tác động trở lại to lớn, mạnh mẽ đối với kinh tế Thực chất của vai trò kiến trúc thượng tầng là vai trò hoạt động tự giác, tích cực của các giai cấp, đảng phái vì lợi ích kinh tế sống còn của mình Sự tác động của kiến
Trang 8trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng trước hết và chủ yếu thông qua đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước
Trong nhận thức và thực tiễn, nếu tách rời hoặc tuyệt đối hóa một yếu tố nào giữa kinh tế và chính trị đều là sai lầm Tuyệt đối hóa kinh tế, hạ thấp hoặc phủ nhận yếu tố chính trị là rơi vào quan điểm duy vật tầm thường, duy vật kinh tế
sẽ dẫn đến vô chính phủ, bất chấp kỷ cương, pháp luật và không tránh khỏi thất bại, đổ vỡ Nếu tuyệt đối hóa về chính trị, hạ thấp hoặc phủ định vai trò của kinh
tế sẽ dẫn đến duy tâm, duy ý chí, nôn nóng, chủ quan, đốt cháy giai đoạn và cũng không tránh khỏi thất bại
IV VAI TRÒ CỦA KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VIỆT NAM
1 Tình hình kinh tế- hội nhập quốc tế Việt Nam hiện nay
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) là minh chứng rõ nhất cho sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng Trước đổi mới năm
1986, đất nước ta thổi phồng và quá đề cao chính trị, hay nói cách khác là đề cao kiến trúc thượng tầng mà coi nhẹ cơ sở hạ tầng Bên cạnh đó, lúc bấy giờ đất nước ta tập trung phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thuần nhất, dẫn tới đường lối chủ trương đó không phù hợp với kinh tế khách quan và tình hình cụ thể của Việt Nam và làm cho kinh tế rơi vào tình trạng trì trệ dẫn tới khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được coi
là cột mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, phù hợp với sự phát triển của nước ta và xu thế hội nhập quốc tế, thúc đẩy
và tạo điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển bứt phá
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới toàn diện cả kinh tế và chính trị, trong đó:
- Đổi mới kinh tế phải gắn liền với đổi mới chính trị: Kinh tế và chính trị là hai mặt cốt lõi của mối quan hệ của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Trong mối quan hệ này, kinh tế giữ vai trò quyết định chính trị
- Đổi mới chính trị tạo điều kiện để đổi mới kinh tế: Khi đường lối về chính trị, các thiết chế chính trị được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế thì chính trị trở thành định hướng cho kinh tế phát triển Điều này cũng tạo môi trường phát triển về an ninh trật tự để phát triển kinh tế và chính trị đóng vai trò can thiệp điều tiết, khắc phục các mặt trái do đổi mới kinh tế
Trang 9Cơ sở hạ tầng kinh tế của nước ta hiện nay là một kết cấu kinh tế nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu đan xen lẫn nhau, bao gồm các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với các hình thức sở hữu khác nhau, tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhưng cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Thừa nhận sự tồn tại của một kết cấu kinh tế với nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại như vậy là một tất yếu khách quan Bởi lẽ, trình độ lực lượng sản xuất của chúng ta còn thấp và chưa đồng đều Song, đây lại là một nền kinh tế năng động, phong phú Chính tính chất đan xen của kết cấu kinh tế ấy nó đặt ra nhu cầu khách quan là kiến trúc thượng tầng cũng phải được đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế theo hướng: đổi mới tổ chức, đổi mới bộ máy hành chính nhà nước, đổi mới con người, đổi mới phong cách lãnh đạo, đa dạng hoá các tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, mở rộng dân chủ (đặc biệt là dân chủ cơ sở), tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc… nhằm tập trung sức mạnh của quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là nền kinh tế hiện đại và hội nhập quốc
tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, các thành phần kinh tế khác được khuyến khích phát triển hết mọi tiềm năng
Việt Nam hướng tới xây dựng nền kinh tế tự chủ, mặc dù hội nhập sâu rộng nhưng chúng ta không phụ thuộc vào bất cứ nước nào, coi trọng thị trường trong nước
Nước ta đã và đang tập trung đến việc mở rộng giao lưu quốc tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước, hàng chục hiệp định thương mại, đầu tư song phương đã được kí kết giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới
2 Vai trò của Nhà nước Việt Nam phát triển kinh tế- hội nhập quốc tế
2.1 Vai trò của nhà nước VN trong phát triển kinh tế
- Ổn định kinh tế vĩ mô: Nền kinh tế của một quốc gia sẽ không thể "cất cánh" trừ phi nó có được nền tảng là một cơ sở hạ tầng vững chắc Vì thế, nhà nước phải đầu tư cơ sở hạ tầng, ổn định nền kinh tế vĩ mô của đất nước Nhà nước
Trang 10Việt Nam sử dụng các công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô để điều tiết nền kinh tế,
sử dụng ngân sách để tiến hành đầu tư công cho các công trình; xây dựng các dự
án cơ sở hạ tầng dựa trên căn cứ và tiêu chí kinh tế thích hợp nhằm giảm thiểu những gánh nặng chi phí của ngân sách nhà nước và của nền kinh tế; tiến hành việc kiểm soát chi tiêu công và tiền vay của các tập đoàn kinh tế nhà nước để duy trì sự ổn định nền kinh tế
- Điều tiết các yếu tố ngoại vi: Yếu tố ngoại vi là ảnh hưởng do các yếu tố bên ngoài gây nên cho hoạt động của các doanh nghiệp hay cho xã hội Nhà nước sử dụng hệ thống thuế, luật pháp, điều lệ, mức hình phạt, thậm chí truy tố trước pháp luật nhằm giảm thiểu ô nhiễm hoặc tạo điều kiện để các tổ chức xã hội thành lập các quỹ bảo vệ môi trường, môi sinh nhằm giám sát các hoạt động của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường và khuyến nghị các biện pháp sản xuất bảo đảm yếu tố bền vững Ngoài ra, nhà nước sử dụng chính sách quyền sở hữu công khai nguồn tài nguyên, bắt buộc các cá nhân, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên gây ô nhiễm phải chịu chi phí theo giá thị trường Có thể nói, vai trò của nhà nước là tạo ra sự cân bằng giữa cá nhân và xã hội thông qua việc điều chỉnh sản xuất thừa hoặc tiêu dùng thừa vào chi phí ngoại vi
-Bảo đảm công bằng, trật tự xã hội: Để thực hiện chức năng phân phối, nền kinh
tế thị trường đòi hỏi một loạt thể chế phát triển cao, trong đó có hệ thống luật pháp để chống gian lận Nhà nước phải thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân
và quyền được hưởng các lợi ích kinh tế xuất phát từ việc sử dụng quyền sở hữu
đó Nhà nước trong vai trò bảo đảm tính công bằng trong các hoạt động xã hội thông qua sự bảo hộ của mình đối với sở hữu tư nhân, đồng thời áp dụng đối với
cả các sở hữu liên quan tới trí tuệ để bảo vệ bản quyền tác giả và qua đó, khuyến khích những hoạt động sáng tạo, khả năng trí tuệ của các nhà khoa học, nghệ sĩ
- Bảo đảm cạnh tranh và chống độc quyền: Vai trò này của nhà nước thể hiện ở những biện pháp kiểm soát thông qua điều tiết đối với những hãng có khả năng chi phối, kiểm soát các vụ việc sáp nhập công ty nhằm ngăn ngừa khả năng độc quyền hoá các ngành công nghiệp, kiểm soát các hành vi chống cạnh tranh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà cung ứng, đồng thời bảo vệ người tiêu dùng chống lại tình trạng độc quyền rong thời kỳ hội nhập kinh tế T
quốc tế hiện nay, thương mại quốc tế không chỉ tạo ra sức ép cạnh tranh mà còn
là thước đo năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa Để bảo đảm năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp, nhà nước phải tạo lập "sân chơi" bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế, không thiên vị với