1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CCCT bất BÌNH ĐẲNG GIỚI ở VIỆT NAM BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN và GIẢI PHÁP vận DỤNG TRONG LÃNH đạo, QUẢN lý KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG bất BÌNH ĐẲNG GIỚI tại TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

22 48 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu Luận CCCT Bất Bình Đẳng Giới Ở Việt Nam: Biểu Hiện, Nguyên Nhân và Giải Pháp Vận Dụng Trong Lãnh đạo, Quản lý Khắc Phục Tình Trạng Bất Bình Đẳng Giới Tại Tỉnh Bình Phước Hiện Nay
Trường học Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chính Trị, Quản Lý, Đạo Đức
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 113,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 3 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TÊN BÀI THU HOẠCH BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ NĂM 2022 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 1 Chương 1 BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM BIỂU HIỆN, NGUY.

Trang 1

BÀI THU HOẠCH

LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HỆ TẬP TRUNG

TÊN MÔN HỌC: GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

TÊN BÀI THU HOẠCH: BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

-ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

NĂM 2022

Trang 2

PHẦN II NỘI DUNG 1

Chương 1. BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM - BIỂU

1.1 Khái niệm, nội dung biểu hiện của bất bình đẳng giới

2.1 Khái quát về thực trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh

2.2 Giải pháp khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh

2.3 Trách nhiệm của người lãnh đạo, quản lý trong khắc phục

tình trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh Bình Phước hiện nay 17

Trang 3

Phần I: MỞ ĐẦU

Khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới đang tồn tại hiện nay là mốilưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.Đối với Việt Nam, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới là nội dung luônđược Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt trong quá trình phát triển đấtnước; được Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định cụ thểtrong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các Công ước Quốc tế Nhiệmvụ đặt ra để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới được thể hiện: Đảm bảo bìnhđẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần thắng lợi sự nghiệpCNH-HĐH đất nước Từ ngày 24/12/2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệtChiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 cho đến nay, sauhơn 10 năm thực hiện nhiều mục tiêu về bình đẳng giới và các giải pháp khắcphục tình trạng bất bình đẳng giới đã và đang được triển khai đồng bộ, manglại những thành tựu to lớn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của từng

cá nhân, từng gia đình cũng như toàn xã hội, nhận thức của mỗi người dânViệt Nam trong vấn đề bình đẳng giới và khắc phục tình trạng bất bình đẳnggiới có sự chuyển biến vững chắc qua đó góp phần tô thắm hình ảnh đất nướcViệt Nam tiến bộ, văn minh trong tư duy của bạn bè quốc tế

Nhận thức rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng của bình đẳng giới và khắcphục những ảnh hưởng bất bình đẳng giới trong chiến lược phát triển kinh tế -văn hóa - xã hội, trong thời gian qua tỉnh Bình Phước đã đưa ra nhiều hệthống giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới và đạt đượcnhiều thành tựu nổi bật trong công tác bình đẳng giới trên địa bàn các địaphương Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế nhất định, như: vẫncòn tình trạng bạo lực trên cơ sở giới, mà đối tượng chịu tác động chính làphụ nữ và trẻ em gái; có địa phương còn xảy ra tình trạng phụ nữ và trẻ em bịbuôn bán; tình trạng sinh con thứ ba trở lên, mất cân bằng giới tính đang cóchiều hướng gia tăng ở một số phường, xã Việc rút ngắn khoảng cách về thời

Trang 4

gian tham gia công việc gia đình của nam so với nữ còn chậm Vì vậy, việc

nghiên cứu vấn đề “Bất bình đẳng giới ở Việt Nam - Biển hiện, nguyên nhân và giải pháp Vận dụng trong lãnh đạo, quản lý khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh Bình Phước hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa to lớn và cấp thiết.

Phần II: NỘI DUNG Chương 1: BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM- BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP

1.1 Khái niệm, nội dung biểu hiện của bất bình đẳng giới ở Việt Nam

* Khái niệm bất bình đẳng giới

Để có một cách hiểu khách quan, toàn diện về bất bình đẳng giới, trướchết chúng ta tìm hiểu về khái niệm giới và giới tính, bình đẳng giới

Giới: là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi cho nam và

nữ nhìn từ góc độ xã hội; giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểuphân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thểtrong xã hội Đặc trưng cơ bản nhất của giới là do dạy và học mà có, vì vậynhững đặc trưng về giới mang tính xã hội, được xã hội quy định Giới thể hiệncác đặc trưng của xã hội về phụ nữ và nam giới nên rất đa dạng, nó phụ thuộcvào đặc điểm văn hóa, kinh tế và chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, các khuvực, các giai tầng trong xã hội Các quan niệm, các hành vi, chuẩn mực xã hội

về giới hoàn toàn có thể thay đổi được

Giới tính: là đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và

nữ giới Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, nghĩa là giữa nam và nữ ởkhắp mọi nơi trên thế giới đều có những sự khác biệt như nhau về mặtsinh học, sinh lý không thể thay đổi được giữa nam và nữ, do các yếu tốsinh học quyết định

Bình đẳng giới: là một cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đang đối diện

với cả nam và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát triển một cách bìnhđẳng, bảo đảm chống lại gánh nặng thiên lệch của những tác động tiêu cực

Trang 5

Bất bình đẳng giới: sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện

và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đónggóp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước

* Nội dung biểu hiện của bất bình đẳng giới ở Việt Nam

Biểu hiện thứ nhất là sự bất bình đẳng về giáo dục Theo số liệu của BộGiáo dục và Đào tạo, tỷ lệ học sinh nữ ở cấp tiểu học và trung học sơ sở thấphơn học sinh nam, nhất là ở các vùng nông thôn nghèo và vùng dân tộc thiểu

số Sau mỗi kỳ nghỉ Hè, đặc biệt là sau mỗi cấp học thì các em nam có nhiều

cơ hội quay trở lại học tiếp hơn so với các em nữ Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnhmiền núi đi học còn thấp chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, dotrường nội trú ở quá xa nhà và ở một số nơi vẫn còn hủ tục tảo hôn, và một sốvùng địa phương, dân tộc quan niệm bé gái lớn lên để kiếm tấm chồng, nươngcậy vào chồng…

Biểu hiện thứ hai là việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản củaphụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế; Tỷ lệ tử vong sảnphụ còn cao so với một số nước trong khu vực Mức giảm tỷ lệ tử vong sảnphụ trong nhiều năm qua còn chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng dântộc thiểu số; Tỷ lệ nữ có bảo hiểm y tế (tính trong số người khám chữa bệnh)tăng lên qua các năm, tuy nhiên còn thấp hơn nam giới

Thứ ba là tình trạng phân biệt đối xử giữa bé trai và bé gái “Theo số liệucủa Bộ Y tế, nếu như năm 2015 tỷ số giới tính khi sinh tại nước ta là 112,8 bétrai trên 100 bé gái thì đếm năm 2016, tỷ lệ này đã tới 113,4/100 Các chuyêngia lo ngại, nếu tỷ số giới tính tiếp tục gia tăng và ngày càng lan rộng nhưhiện nay thì vấn đề về mất cân bằng giới của Việt Nam trong 20-25 năm sau

là hết sức nghiêm trọng” [11, tr.103]

Biểu hiện thứ tư là bất bình đẳng giới trong các hoạt động dân số - kếhoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản Vai trò của nam giới tham giaKHHGĐ còn hạn chế, phụ nữ được coi là người phải chịu trách nhiệm thựchiện KHHGĐ Dĩ nhiên, việc mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người

Trang 6

phụ nữ Song trên thực tế, mang thai khi nào và sinh bao nhiêu con lại thường

do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định, có hay không sử dụng biệnpháp tránh thai để giãn khoảng cách sinh hoặc không sinh con cũng thường

do người chồng, gia đình chồng quyết định

Biểu hiện thứ năm là bất bình đẳng giới trên thị trường lao động và trongthu nhập Khi tiếp nhận một lao động nữ trẻ thì các chủ doanh nghiệp thường

e ngại về thời gian 6 tháng nghỉ thai sản Nhiều doanh nghiệp buộc lao động

nữ ký thêm một phụ lục trong hợp đồng lao động là không được mang thaitrong thời gian 2 năm đầu làm việc Từ đó dẫn đến tình trạng một số doanhnghiệp thích tuyển lao động nam dù khả năng làm việc của họ thua kém nữgiới Còn về thu nhập, “theo số liệu báo cáo của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội) năm 2017, mức lương bình quân hằng thángcủa lao động nữ khoảng 4,58 triệu đồng, thấp hơn so với lao động nam (5,19triệu đồng)”[5, tr.3] Điều này không hẳn là do chủ doanh nghiệp cố ý trảlương cho lao động nữ thấp hơn nam giới khi làm cùng một công việc Lý dochính là vì phụ nữ phải chăm sóc con, đảm đang việc gia đình nên ngày côngkhông cao bằng nam giới

Biểu hiện thứ sáu là bất bình đẳng giới về vị thế xã hội, sở hữu tài sản.Nam giới chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản giá trị cao Hầuhết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mang tên chủ hộ là namgiới Tình trạng này có thể khiến phụ nữ bị mất quyền sở hữu trong trườnghợp ly hôn hay hưởng thừa kế Nam giới thường ra quyết định về đầu tư kinhdoanh của hộ gia đình và việc sử dụng thu nhập Hạn chế trong sở hữu tài sảnlàm giảm khả năng tiếp cận của phụ nữ tới các cơ hội tín dụng và đầu tư…

1.2 Nguyên nhân bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Nguyên nhân đầu tiên: phải kể đến là quan niệm: “Trọng nam khinh nữ” đã

có từ ngàn đời xưa của ông cha ta, quan điểm này đẵn sâu vào tiềm thức cáchsống cách nghĩ của người Việt Hơn nữa nước ta theo thế hệ phụ hệ (con cáimang họ cha là chủ yếu) nên việc sinh con trai để duy trì dòng họ và việc thờ

Trang 7

cúng ông bà tổ tiên thường là việc của người đàn ông còn con gái theo như xưathì: “Con gái lấy chồng như bát nước hất đi” người phụ nữ khi lấy chồng thì sẽtheo phía chồng ít có dính dán đến cha mẹ đẻ và công việc thờ cúng ông bà tổtiên họ không có phần được đảm trách Trong thời đại đang bùng nổ dân số thìNhà Nước đã đưa ra nhiều chính sách kế hoạch hóa gia đình trong đó đáng chú ý

là khẩu ngữ: “Dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt” đã làm cho vấn đề muốnsinh con trai nối dõi tông đường tăng cao hơn nữa trong các gia đình Việt

Một khía cạnh khác không thể bỏ qua ở các vùng ven biển Việt Nam đó làviệc những người ngư dân họ đều muốn sinh con trai càng nhiều càng có thêmlực lượng lao động tham gia đi biển tăng thêm thu nhập thay vì con gái khôngthể ra biển đánh bắt được nên làm cho việc sinh 3,4,… tăng nhanh

Nguyên nhân thứ hai, nhận thức chưa được nâng cao của đa số người

dân, công tác tuyên truyền về vấn đề bình đẳng giới từ cán bộ đến người dânchưa phù hợp, còn gặp nhiều bất cập Trong Báo cáo về mất cân bằng giớitính khi sinh ở Việt Nam qua các bằng chứng từ Tổng điều tra dân số và nhà ởnăm 2019, trình độ học vấn của người mẹ quan hệ tương hỗ chặt chẽ với tỷ sốgiới tính khi sinh – người phụ nữ càng có học thức cao thì càng có khả năng

và điều kiện lựa chọn sinh con trai Cụ thể, “nhóm các bà mẹ có trình độ tiểuhọc và thấp hơn có tỉ lệ đẻ con trai là 107/100 (số nam/nữ), trong khi nhómtrung học phổ thông và học nghề là 111 và con số này ở nhóm chị em có trình

độ cao đẳng trở lên là gần 114 Nhóm phụ nữ có học thức cao thường cũng lànhóm giàu nhất, có mức sinh thấp, đồng thời cũng có nhiều điều kiện tiếp cậnthông tin, công nghệ để lựa chọn giới tính của con, nên có tỷ lệ đẻ con trai caohơn trong khi nhóm dân số nghèo nhất thường có tỷ số giới tính nam – nữ gầnvới mức bình thường nhất là 105, trong khi với nhóm dân số giàu thì con sốnày lên đến 112 [11, tr.215]

Nguyên nhân thứ ba đáng chú ý là những người phụ nữ họ lại chưa nhận

thức được những quyền lợi mà bản thân họ đáng nhận được, chính họ lạivôtình đẩy họ vào những tệ nạn của xã h ội mà bản thân chỉ biết câm nín

Trang 8

chịuđựng: “Công việc nội trợ là thiên chức của Phụ nữ’ Không những thế, xãhộicòn đánh giá thấp ý nghĩa của các công việc gia đình làm cho nam giớithiếu động lực trong việc chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ Vấn đề giảiphóng phụ nữ trong gia đình chưa được đặt một cách tương xứng với yêu cầuđổi mới kinh tế, xã hội, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Phụ nữ phải phụthuộc, nam giới là độc lập, mạnh mẽ có năng lực và là người ra quyếtđịnh.Chồng có quyền dạy vợ, vợ phải nghe theo chồng Nam là trụ cột tronggia đình, có quyền quyết định những việc lớn quan trọng trong gia đình, nữ cótrách nhiệm nuôi dạy con cái, nội trợ trong nhà.

1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước về giải quyết bất bình đẳng giới

Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ “nam - nữ bìnhquyền là 1 trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam” Điều nàyđược ghi nhận trong Cương lĩnh Chính trị của Đảng năm 1930 Cương lĩnhcũng nêu rõ giải phóng phụ nữ phải gắn với giải phóng dân tộc và giải phónggiai cấp

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềnam nữ bình quyền được ghi nhận tại Điều 9 - Hiến pháp đầu tiên của nước tanăm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Trong cácbản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 1959, 1980 và 1992 quy định: “Công dânnam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội vàgia đình Nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ, xúc phạm nhânphẩm phụ nữ Lao động nam nữ làm việc như nhau thì hưởng lương như nhau.Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, khôngngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63, Hiến pháp năm 1992)

Về bình đẳng giới trong chính trị, Điều 54 - Hiến pháp năm 1992 cũng ghirõ: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tínngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở

Trang 9

lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hộiđồng nhân dân theo quy định của pháp luật”.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã cụ thể hóa quan điểm bình đẳng gỉớibằng những Nghị quyết và Chỉ thị về công tác phụ nữ Cụ thể là:

Nghị quyết 04/NQ-TƯ ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị Trung ươngĐảng về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hìnhmới,mục tiêu của Nghị quyết 04/NQ-TƯ là nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò củaphụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ

có những bước tiến mới và tăng số lượng, chất lượng cán bộ phụ nữ trong hệthống Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế, xã hội

Chỉ thị 37-CT/TƯ ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềmột số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới Trong đó, Đảng ta xácđịnh rõ: “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, tham gia quản lýkinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủcủa phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ và nâng cao địa vị xã hộicủa phụ nữ Chống lại những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe,hẹp hòi trong đánh giá cán bộ nữ” [1, tr.4] Chỉ thị đã nhấn mạnh quan điểmcủa Đảng là nhằm làm tốt hơn nữa công tác cán bộ nữ và tăng cường sự thamgia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới và xây dựng đất nước.Nghị quyết 11-NQ/TƯngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng

về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Đây là Nghị quyết được ban hành sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯvềcông tác cán bộ nữ và trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện côngcuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhậpkinh tế thế giới

Mục tiêu mà Nghị quyết 11-NQ/TƯ đề ra là: “Phấn đấu đến năm 2020,phụ nữ được nâng trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chuyên môn,nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,

có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, tham

Trang 10

gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực, đónggóp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trongcác quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực” [2, tr.3].

Luật Bình đẳng giới do Quốc hội thông qua ngày 29-11-2006 Điều nàythể hiện quyết tâm của Nhà nước và ý chí của toàn dân về vấn đề thúc đẩy bìnhđẳng giới và thực hiện quyền phụ nữ

Luật Bình đẳng giới đã khái quát hóa các quyền bình đẳng của phụ nữđược phản ánh trong các văn bản luật pháp đã có trước đây, đồng thời đã đề caonhững nguyên tắc cơ bản như: Nam nữ bình đẳng trong các lĩnh vực đời sống

xã hội và gia đình, nam nữ không bị phân biệt, đối xử về giới, biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới, bảo đảm lồng ghépvấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi luật pháp, thực hiện bình đẳnggiới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân

Trong đó, tại Điều 11, Luật Bình đẳng giới quy định rõ các biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới trong chính trị bao gồm: 1) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đạibiểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia bìnhđẳng giới; 2) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng việc bổ nhiệm các chức danh trong cơquan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới

Trên cơ sở kế thừa Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn

2011-2020, tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về thực hiện mục tiêubình đẳng giới, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển bền vững đến năm

2030, ngày 3/3/2021, Chính phủ đã ra Nghị quyết 28/NQ-CP về việc ban hànhChiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, với mục tiêu tổngquát “Tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ vànam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội,góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước” [3, tr.1] Chiến lược gồm 6mục tiêu và 20 chỉ tiêu, cụ thể nhằm tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới trong cáclĩnh vực chính trị; kinh tế, lao động; trong đời sống gia đình và phòng ngừa, ứngphó với bạo lực trên cơ sở giới; y tế; giáo dục, đào tạo; thông tin, truyền thông

Trang 11

Trong đó xác định: “đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơquan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt lànữ; tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 vàkhoảng 60% vào năm 2030; giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vựcnông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm xuống dưới 30% vào năm

2025 và dưới 25% vào năm 2030; tỷ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác

xã đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030

Giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đìnhkhông được trả công của phụ nữ còn 1,7 lần vào năm 2025 và 1,4 lần vào năm

2030 so với nam giới; đến năm 2025 đạt 80% và đến 2030 đạt 90% người bị bạolực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được tiếp cận ít nhất một trong các dịch vụ

hỗ trợ cơ bản

Trong lĩnh vực y tế, đưa tỷ số giới tính khi sinh ở mức 111 bé trai/100 bégái sinh ra sống vào năm 2025 và 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống vào năm2030; tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản giảm còn 42/100.000 trẻ sinhsống vào năm 2025 và xuống dưới 42/100.000 vào năm 2030

Nội dung về giới, bình đẳng giới được đưa vào chương trình giảng dạytrong hệ thống giáo dục quốc dân và được giảng dạy chính thức ở các trường sưphạm từ năm 2025 trở đi; tỷ lệ trẻ em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số hoànthành giáo dục tiểu học đạt trên 90% vào năm 2025 và khoảng 99% vào năm2030; tỷ lệ hoàn thành cấp trung học cơ sở đạt khoảng 85% vào năm 2025 và90% vào năm 2030 ” [3, tr.2]

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII cũng chỉ rõ: “Thực hiện đồng bộ vàtoàn diện các giải pháp phát triển thanh niên, bình đẳng giới và vì sự tiến bộcủa phụ nữ Giảm dần khoảng cách giới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội và gia đình” [4, tr.271]

Như vậy, xét trong mối tương quan với nam giới, các quy định của phápluật về quyền của phụ nữ Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm phụ nữ “đượcbình đẳng và có ưu tiên.”

Ngày đăng: 16/06/2022, 14:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1994), Chỉ thị về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới, số 37-CT/TƯ ngày 16-5-1994, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về một số vấn đề công tác cánbộ nữ trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 1994
2. Ban Chấp hành Trung ương (2007), Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, số 11/NQ/TW, ngày 27 tháng 4 năm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị về côngtác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2007
3. Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2021), Nghị quyết về việc ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021- 2030, số 28/NQ-CP, ngày 3/3/2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyếtvề việc ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030
Tác giả: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2021
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2021
5. Mai Đan (2018), Tỉ lệ lao động nữ tại Việt Nam thuộc nhóm cao trên thế giới, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ lao động nữ tại Việt Nam thuộc nhóm cao trên thếgiới
Tác giả: Mai Đan
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2018
6. Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Lộc (2000), Xã hội học về giới và phát triển, chương 1, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học về giới vàphát triển
Tác giả: Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Lộc
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2000
7. C.Mác và Ăngghen toàn tập(1995), Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mác và Ăngghen toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ăngghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
9. Quốc hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Luật Bình đẳng giới, số 73/2006/QH11, ngày 29-11-2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bình đẳnggiới
Tác giả: Quốc hội Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
10. Trần Thị Kim Xuyến (2011), Giới và các vấn đề về xã hội, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới và các vấn đề về xã hội
Tác giả: Trần Thị Kim Xuyến
Nhà XB: Nxb Đại họcquốc gia
Năm: 2011
11. Nguyễn Thị Thu(2020), Vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, tham khảo ngày 10/7/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Namhiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu
Năm: 2020
12. Thảo Vân (2020), Công bố Báo cáo điều tra quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ Việt Nam, tham khảo ngày 10/7/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công bố Báo cáo điều tra quốc gia về bạo lực đối vớiphụ nữ Việt Nam
Tác giả: Thảo Vân
Năm: 2020
8. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w