1 3 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TÊN BÀI THU HOẠCH BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ NĂM 2022 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 1 Chương 1 BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM BIỂU HIỆN, NGUY.
Trang 1BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNG
TÊN MÔN HỌC: GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
TÊN BÀI THU HOẠCH: BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
-ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG
NĂM 2022
Trang 2PHẦN II NỘI DUNG 1
Chương 1. BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM - BIỂU
1.1 Khái niệm, nội dung biểu hiện của bất bình đẳng giới
2.1 Khái quát về thực trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh
2.2 Giải pháp khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh
2.3 Trách nhiệm của người lãnh đạo, quản lý trong khắc phục
tình trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh Bình Phước hiện nay 17
Trang 3Phần I: MỞ ĐẦU
Khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới đang tồn tại hiện nay là mốilưu tâm hàng đầu của các quốc gia nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.Đối với Việt Nam, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới là nội dung luônđược Đảng và Nhà nước dành sự ưu tiên đặc biệt trong quá trình phát triển đấtnước; được Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định cụ thểtrong các văn bản quy phạm pháp luật và trong các Công ước Quốc tế Nhiệmvụ đặt ra để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới được thể hiện: Đảm bảo bìnhđẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên cáclĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần thắng lợi sự nghiệpCNH-HĐH đất nước Từ ngày 24/12/2010 Thủ tướng Chính phủ phê duyệtChiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 cho đến nay, sauhơn 10 năm thực hiện nhiều mục tiêu về bình đẳng giới và các giải pháp khắcphục tình trạng bất bình đẳng giới đã và đang được triển khai đồng bộ, manglại những thành tựu to lớn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
cá nhân, từng gia đình cũng như toàn xã hội, nhận thức của mỗi người dânViệt Nam trong vấn đề bình đẳng giới và khắc phục tình trạng bất bình đẳnggiới có sự chuyển biến vững chắc qua đó góp phần tô thắm hình ảnh đất nướcViệt Nam tiến bộ, văn minh trong tư duy của bạn bè quốc tế
Nhận thức rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng của bình đẳng giới và khắcphục những ảnh hưởng bất bình đẳng giới trong chiến lược phát triển kinh tế -văn hóa - xã hội, trong thời gian qua tỉnh Bình Phước đã đưa ra nhiều hệthống giải pháp nhằm khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới và đạt đượcnhiều thành tựu nổi bật trong công tác bình đẳng giới trên địa bàn các địaphương Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế nhất định, như: vẫncòn tình trạng bạo lực trên cơ sở giới, mà đối tượng chịu tác động chính làphụ nữ và trẻ em gái; có địa phương còn xảy ra tình trạng phụ nữ và trẻ em bịbuôn bán; tình trạng sinh con thứ ba trở lên, mất cân bằng giới tính đang cóchiều hướng gia tăng ở một số phường, xã Việc rút ngắn khoảng cách về thời
Trang 4gian tham gia công việc gia đình của nam so với nữ còn chậm Vì vậy, việc
nghiên cứu vấn đề “Bất bình đẳng giới ở Việt Nam - Biển hiện, nguyên nhân và giải pháp Vận dụng trong lãnh đạo, quản lý khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới ở tỉnh Bình Phước hiện nay” là vấn đề có ý nghĩa to lớn và cấp thiết.
Phần II: NỘI DUNG Chương 1: BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM- BIỂU HIỆN, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP
1.1 Khái niệm, nội dung biểu hiện của bất bình đẳng giới ở Việt Nam
* Khái niệm bất bình đẳng giới
Để có một cách hiểu khách quan, toàn diện về bất bình đẳng giới, trướchết chúng ta tìm hiểu về khái niệm giới và giới tính, bình đẳng giới
Giới: là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi cho nam và
nữ nhìn từ góc độ xã hội; giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểuphân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thểtrong xã hội Đặc trưng cơ bản nhất của giới là do dạy và học mà có, vì vậynhững đặc trưng về giới mang tính xã hội, được xã hội quy định Giới thể hiệncác đặc trưng của xã hội về phụ nữ và nam giới nên rất đa dạng, nó phụ thuộcvào đặc điểm văn hóa, kinh tế và chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, các khuvực, các giai tầng trong xã hội Các quan niệm, các hành vi, chuẩn mực xã hội
về giới hoàn toàn có thể thay đổi được
Giới tính: là đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam giới và
nữ giới Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất, nghĩa là giữa nam và nữ ởkhắp mọi nơi trên thế giới đều có những sự khác biệt như nhau về mặtsinh học, sinh lý không thể thay đổi được giữa nam và nữ, do các yếu tốsinh học quyết định
Bình đẳng giới: là một cách tiếp cận giải quyết các vấn đề đang đối diện
với cả nam và nữ theo cách chia sẻ các lợi ích của phát triển một cách bìnhđẳng, bảo đảm chống lại gánh nặng thiên lệch của những tác động tiêu cực
Trang 5Bất bình đẳng giới: sự phân biệt đối xử với nam, nữ về vị thế, điều kiện
và cơ hội bất lợi cho nam, nữ trong việc thực hiện quyền con người, đónggóp và hưởng lợi từ sự phát triển của gia đình, của đất nước
* Nội dung biểu hiện của bất bình đẳng giới ở Việt Nam
Biểu hiện thứ nhất là sự bất bình đẳng về giáo dục Theo số liệu của BộGiáo dục và Đào tạo, tỷ lệ học sinh nữ ở cấp tiểu học và trung học sơ sở thấphơn học sinh nam, nhất là ở các vùng nông thôn nghèo và vùng dân tộc thiểu
số Sau mỗi kỳ nghỉ Hè, đặc biệt là sau mỗi cấp học thì các em nam có nhiều
cơ hội quay trở lại học tiếp hơn so với các em nữ Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnhmiền núi đi học còn thấp chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, dotrường nội trú ở quá xa nhà và ở một số nơi vẫn còn hủ tục tảo hôn, và một sốvùng địa phương, dân tộc quan niệm bé gái lớn lên để kiếm tấm chồng, nươngcậy vào chồng…
Biểu hiện thứ hai là việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản củaphụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế; Tỷ lệ tử vong sảnphụ còn cao so với một số nước trong khu vực Mức giảm tỷ lệ tử vong sảnphụ trong nhiều năm qua còn chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng dântộc thiểu số; Tỷ lệ nữ có bảo hiểm y tế (tính trong số người khám chữa bệnh)tăng lên qua các năm, tuy nhiên còn thấp hơn nam giới
Thứ ba là tình trạng phân biệt đối xử giữa bé trai và bé gái “Theo số liệucủa Bộ Y tế, nếu như năm 2015 tỷ số giới tính khi sinh tại nước ta là 112,8 bétrai trên 100 bé gái thì đếm năm 2016, tỷ lệ này đã tới 113,4/100 Các chuyêngia lo ngại, nếu tỷ số giới tính tiếp tục gia tăng và ngày càng lan rộng nhưhiện nay thì vấn đề về mất cân bằng giới của Việt Nam trong 20-25 năm sau
là hết sức nghiêm trọng” [11, tr.103]
Biểu hiện thứ tư là bất bình đẳng giới trong các hoạt động dân số - kếhoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản Vai trò của nam giới tham giaKHHGĐ còn hạn chế, phụ nữ được coi là người phải chịu trách nhiệm thựchiện KHHGĐ Dĩ nhiên, việc mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người
Trang 6phụ nữ Song trên thực tế, mang thai khi nào và sinh bao nhiêu con lại thường
do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định, có hay không sử dụng biệnpháp tránh thai để giãn khoảng cách sinh hoặc không sinh con cũng thường
do người chồng, gia đình chồng quyết định
Biểu hiện thứ năm là bất bình đẳng giới trên thị trường lao động và trongthu nhập Khi tiếp nhận một lao động nữ trẻ thì các chủ doanh nghiệp thường
e ngại về thời gian 6 tháng nghỉ thai sản Nhiều doanh nghiệp buộc lao động
nữ ký thêm một phụ lục trong hợp đồng lao động là không được mang thaitrong thời gian 2 năm đầu làm việc Từ đó dẫn đến tình trạng một số doanhnghiệp thích tuyển lao động nam dù khả năng làm việc của họ thua kém nữgiới Còn về thu nhập, “theo số liệu báo cáo của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội) năm 2017, mức lương bình quân hằng thángcủa lao động nữ khoảng 4,58 triệu đồng, thấp hơn so với lao động nam (5,19triệu đồng)”[5, tr.3] Điều này không hẳn là do chủ doanh nghiệp cố ý trảlương cho lao động nữ thấp hơn nam giới khi làm cùng một công việc Lý dochính là vì phụ nữ phải chăm sóc con, đảm đang việc gia đình nên ngày côngkhông cao bằng nam giới
Biểu hiện thứ sáu là bất bình đẳng giới về vị thế xã hội, sở hữu tài sản.Nam giới chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản giá trị cao Hầuhết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mang tên chủ hộ là namgiới Tình trạng này có thể khiến phụ nữ bị mất quyền sở hữu trong trườnghợp ly hôn hay hưởng thừa kế Nam giới thường ra quyết định về đầu tư kinhdoanh của hộ gia đình và việc sử dụng thu nhập Hạn chế trong sở hữu tài sảnlàm giảm khả năng tiếp cận của phụ nữ tới các cơ hội tín dụng và đầu tư…
1.2 Nguyên nhân bất bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Nguyên nhân đầu tiên: phải kể đến là quan niệm: “Trọng nam khinh nữ” đã
có từ ngàn đời xưa của ông cha ta, quan điểm này đẵn sâu vào tiềm thức cáchsống cách nghĩ của người Việt Hơn nữa nước ta theo thế hệ phụ hệ (con cáimang họ cha là chủ yếu) nên việc sinh con trai để duy trì dòng họ và việc thờ
Trang 7cúng ông bà tổ tiên thường là việc của người đàn ông còn con gái theo như xưathì: “Con gái lấy chồng như bát nước hất đi” người phụ nữ khi lấy chồng thì sẽtheo phía chồng ít có dính dán đến cha mẹ đẻ và công việc thờ cúng ông bà tổtiên họ không có phần được đảm trách Trong thời đại đang bùng nổ dân số thìNhà Nước đã đưa ra nhiều chính sách kế hoạch hóa gia đình trong đó đáng chú ý
là khẩu ngữ: “Dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt” đã làm cho vấn đề muốnsinh con trai nối dõi tông đường tăng cao hơn nữa trong các gia đình Việt
Một khía cạnh khác không thể bỏ qua ở các vùng ven biển Việt Nam đó làviệc những người ngư dân họ đều muốn sinh con trai càng nhiều càng có thêmlực lượng lao động tham gia đi biển tăng thêm thu nhập thay vì con gái khôngthể ra biển đánh bắt được nên làm cho việc sinh 3,4,… tăng nhanh
Nguyên nhân thứ hai, nhận thức chưa được nâng cao của đa số người
dân, công tác tuyên truyền về vấn đề bình đẳng giới từ cán bộ đến người dânchưa phù hợp, còn gặp nhiều bất cập Trong Báo cáo về mất cân bằng giớitính khi sinh ở Việt Nam qua các bằng chứng từ Tổng điều tra dân số và nhà ởnăm 2019, trình độ học vấn của người mẹ quan hệ tương hỗ chặt chẽ với tỷ sốgiới tính khi sinh – người phụ nữ càng có học thức cao thì càng có khả năng
và điều kiện lựa chọn sinh con trai Cụ thể, “nhóm các bà mẹ có trình độ tiểuhọc và thấp hơn có tỉ lệ đẻ con trai là 107/100 (số nam/nữ), trong khi nhómtrung học phổ thông và học nghề là 111 và con số này ở nhóm chị em có trình
độ cao đẳng trở lên là gần 114 Nhóm phụ nữ có học thức cao thường cũng lànhóm giàu nhất, có mức sinh thấp, đồng thời cũng có nhiều điều kiện tiếp cậnthông tin, công nghệ để lựa chọn giới tính của con, nên có tỷ lệ đẻ con trai caohơn trong khi nhóm dân số nghèo nhất thường có tỷ số giới tính nam – nữ gầnvới mức bình thường nhất là 105, trong khi với nhóm dân số giàu thì con sốnày lên đến 112 [11, tr.215]
Nguyên nhân thứ ba đáng chú ý là những người phụ nữ họ lại chưa nhận
thức được những quyền lợi mà bản thân họ đáng nhận được, chính họ lạivôtình đẩy họ vào những tệ nạn của xã h ội mà bản thân chỉ biết câm nín
Trang 8chịuđựng: “Công việc nội trợ là thiên chức của Phụ nữ’ Không những thế, xãhộicòn đánh giá thấp ý nghĩa của các công việc gia đình làm cho nam giớithiếu động lực trong việc chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ Vấn đề giảiphóng phụ nữ trong gia đình chưa được đặt một cách tương xứng với yêu cầuđổi mới kinh tế, xã hội, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Phụ nữ phải phụthuộc, nam giới là độc lập, mạnh mẽ có năng lực và là người ra quyếtđịnh.Chồng có quyền dạy vợ, vợ phải nghe theo chồng Nam là trụ cột tronggia đình, có quyền quyết định những việc lớn quan trọng trong gia đình, nữ cótrách nhiệm nuôi dạy con cái, nội trợ trong nhà.
1.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước về giải quyết bất bình đẳng giới
Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ “nam - nữ bìnhquyền là 1 trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam” Điều nàyđược ghi nhận trong Cương lĩnh Chính trị của Đảng năm 1930 Cương lĩnhcũng nêu rõ giải phóng phụ nữ phải gắn với giải phóng dân tộc và giải phónggiai cấp
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềnam nữ bình quyền được ghi nhận tại Điều 9 - Hiến pháp đầu tiên của nước tanăm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Trong cácbản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 1959, 1980 và 1992 quy định: “Công dânnam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội vàgia đình Nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ, xúc phạm nhânphẩm phụ nữ Lao động nam nữ làm việc như nhau thì hưởng lương như nhau.Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, khôngngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63, Hiến pháp năm 1992)
Về bình đẳng giới trong chính trị, Điều 54 - Hiến pháp năm 1992 cũng ghirõ: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tínngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở
Trang 9lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hộiđồng nhân dân theo quy định của pháp luật”.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã cụ thể hóa quan điểm bình đẳng gỉớibằng những Nghị quyết và Chỉ thị về công tác phụ nữ Cụ thể là:
Nghị quyết 04/NQ-TƯ ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị Trung ươngĐảng về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hìnhmới,mục tiêu của Nghị quyết 04/NQ-TƯ là nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò củaphụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ
có những bước tiến mới và tăng số lượng, chất lượng cán bộ phụ nữ trong hệthống Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế, xã hội
Chỉ thị 37-CT/TƯ ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềmột số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới Trong đó, Đảng ta xácđịnh rõ: “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, tham gia quản lýkinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủcủa phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng trí tuệ và nâng cao địa vị xã hộicủa phụ nữ Chống lại những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe,hẹp hòi trong đánh giá cán bộ nữ” [1, tr.4] Chỉ thị đã nhấn mạnh quan điểmcủa Đảng là nhằm làm tốt hơn nữa công tác cán bộ nữ và tăng cường sự thamgia lãnh đạo và quản lý của phụ nữ trong thời kỳ đổi mới và xây dựng đất nước.Nghị quyết 11-NQ/TƯngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng
về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Đây là Nghị quyết được ban hành sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 37-CT/TƯvềcông tác cán bộ nữ và trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh toàn diện côngcuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhậpkinh tế thế giới
Mục tiêu mà Nghị quyết 11-NQ/TƯ đề ra là: “Phấn đấu đến năm 2020,phụ nữ được nâng trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chuyên môn,nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,
có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, tham
Trang 10gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực, đónggóp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trongcác quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực” [2, tr.3].
Luật Bình đẳng giới do Quốc hội thông qua ngày 29-11-2006 Điều nàythể hiện quyết tâm của Nhà nước và ý chí của toàn dân về vấn đề thúc đẩy bìnhđẳng giới và thực hiện quyền phụ nữ
Luật Bình đẳng giới đã khái quát hóa các quyền bình đẳng của phụ nữđược phản ánh trong các văn bản luật pháp đã có trước đây, đồng thời đã đề caonhững nguyên tắc cơ bản như: Nam nữ bình đẳng trong các lĩnh vực đời sống
xã hội và gia đình, nam nữ không bị phân biệt, đối xử về giới, biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới, bảo đảm lồng ghépvấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi luật pháp, thực hiện bình đẳnggiới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân
Trong đó, tại Điều 11, Luật Bình đẳng giới quy định rõ các biện pháp thúcđẩy bình đẳng giới trong chính trị bao gồm: 1) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng nữ đạibiểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phù hợp với mục tiêu quốc gia bìnhđẳng giới; 2) Bảo đảm tỷ lệ thích đáng việc bổ nhiệm các chức danh trong cơquan nhà nước phù hợp với mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới
Trên cơ sở kế thừa Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011-2020, tiếp tục thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về thực hiện mục tiêubình đẳng giới, góp phần đạt được các mục tiêu phát triển bền vững đến năm
2030, ngày 3/3/2021, Chính phủ đã ra Nghị quyết 28/NQ-CP về việc ban hànhChiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030, với mục tiêu tổngquát “Tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ vànam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội,góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước” [3, tr.1] Chiến lược gồm 6mục tiêu và 20 chỉ tiêu, cụ thể nhằm tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới trong cáclĩnh vực chính trị; kinh tế, lao động; trong đời sống gia đình và phòng ngừa, ứngphó với bạo lực trên cơ sở giới; y tế; giáo dục, đào tạo; thông tin, truyền thông
Trang 11Trong đó xác định: “đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơquan quản lý Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt lànữ; tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương lên đạt 50% vào năm 2025 vàkhoảng 60% vào năm 2030; giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vựcnông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm xuống dưới 30% vào năm
2025 và dưới 25% vào năm 2030; tỷ lệ nữ giám đốc/chủ doanh nghiệp, hợp tác
xã đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030
Giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đìnhkhông được trả công của phụ nữ còn 1,7 lần vào năm 2025 và 1,4 lần vào năm
2030 so với nam giới; đến năm 2025 đạt 80% và đến 2030 đạt 90% người bị bạolực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được tiếp cận ít nhất một trong các dịch vụ
hỗ trợ cơ bản
Trong lĩnh vực y tế, đưa tỷ số giới tính khi sinh ở mức 111 bé trai/100 bégái sinh ra sống vào năm 2025 và 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống vào năm2030; tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản giảm còn 42/100.000 trẻ sinhsống vào năm 2025 và xuống dưới 42/100.000 vào năm 2030
Nội dung về giới, bình đẳng giới được đưa vào chương trình giảng dạytrong hệ thống giáo dục quốc dân và được giảng dạy chính thức ở các trường sưphạm từ năm 2025 trở đi; tỷ lệ trẻ em trai và trẻ em gái dân tộc thiểu số hoànthành giáo dục tiểu học đạt trên 90% vào năm 2025 và khoảng 99% vào năm2030; tỷ lệ hoàn thành cấp trung học cơ sở đạt khoảng 85% vào năm 2025 và90% vào năm 2030 ” [3, tr.2]
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII cũng chỉ rõ: “Thực hiện đồng bộ vàtoàn diện các giải pháp phát triển thanh niên, bình đẳng giới và vì sự tiến bộcủa phụ nữ Giảm dần khoảng cách giới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhóa, xã hội và gia đình” [4, tr.271]
Như vậy, xét trong mối tương quan với nam giới, các quy định của phápluật về quyền của phụ nữ Việt Nam đã thể hiện rõ quan điểm phụ nữ “đượcbình đẳng và có ưu tiên.”