Tóm tắt các tác phẩm văn học lớp 12 là tài liệu hữu ích, không thể thiếu dành cho các bạn học sinh lớp 12 tham khảo. Thông qua tài liệu này các bạn nắm được nội dung chính của các tác phẩm qua đó dễ dàng ôn tập, củng cố kiến thức Ngữ văn 12. Ngoài ra để học tốt kiến thức Ngữ văn 12 các em tham khảo thêm một số tài liệu khác như: tổng hợp kiến thức Ngữ văn 12, Sơ đồ tư duy môn Ngữ văn 12, mở bài hay nhất về các tác phẩm Văn học ôn thi THPT Quốc gia và rất nhiều tư liệu khác tại chuyên mục Văn 12.
Trang 1Tóm tắt các tác phẩm văn học lớp 12
1 Tóm tắt Tuyên ngôn độc lập
Tóm tắt mẫu 1
Tuyên ngôn độc lập - văn kiện có ý nghĩa lịch sử sống còn với vận mệnh dân tộc Nếu
ở Mỹ có Tuyên ngôn độc lập năm 1776, ở Pháp có bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 thì Việt Nam có bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh được tuyên bố ngày mùng 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình để xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; khẳng định quyền tự chủ và vị thế của dân tộc ta trên thế giới,
đó là mốc son chói lọi đánh dấu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam
Tuyên ngôn độc lập được Bác triển khai theo ba nội dung rõ ràng Phần mở đầu: Bác
có đưa ra cơ sở cho bản Tuyên ngôn nói về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc dựa vào hai bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp-hai nước tư bản lớn trên thế giới-hai quốc gia xâm lược Việt Nam Bác dùng những lí lẽ đó để làm bản lề vạch ra cho ta thấy những việc làm trái với tuyên ngôn của chúng Phần nội dung: Những cơ sở thực tế đã được chỉ ra, đó là những tội ác của Pháp, chúng đã thi hành ở nước ta hơn 80 năm nay trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa-giáo dục Tất cả những điều đó đập tan luận điệu xảo trá của kẻ thù đã, đang và sẽ nô dịch nước
ta trở lại Phần kết luận: Lời tuyên bố đanh thép và khẳng định quyết tâm sắt đá giữ vững nền độc lập dân tộc Tuyên ngôn độc lập đã hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh đồng thời cho thấy khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam
Tóm tắt mẫu 2
Ngày 2/9/1945 Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa-mốc son chói lọi trong lịch sử đánh dấu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam Văn bản Tuyên ngôn độc lập được Bác viết cho ai? Người viết để hướng tới “đồng bào cả nước”-những người hơn 80 năm qua rên xiết dưới ách xâm lược của thực Pháp và phát xít Nhật Không chỉ vậy đối tượng của bản Tuyên ngôn còn là các nước thực dân xâm lược-thế lực thù địch có dã tâm cướp nước
ta lần nữa, đặc biệt là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đồng thời Người còn hướng đến toàn thể nhân dân trên toàn thế giới Bác viết như thế nào? Người đưa ra cơ sở lý luận
và cơ sở thực tế cho bản Tuyên ngôn của dân tộc Trước hết về cơ sở lí luận được Bách trích dẫn về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, bản Tuyên ngôn Nhân quyền
Trang 2và Dân quyền năm 1791 của Pháp Về cơ sở thực tiễn Bác tố cáo tội ác của thực dân Pháp đã gây ra cho dân tộc ta hơn 80 năm qua Từ đó đập tan luận điệu xảo trá, bẻ gãy ngọn cờ “bảo hộ”của chúng Cuối cùng Bác viết để làm gì? Mục đích cao cả nhất, lớn lao nhất của bản Tuyên ngôn là: tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc ta bằng tất cả “tinh thần và lực lượng, tính mạng của cải” Tuyên ngôn độc lập đã hội tụ vẻ đẹp tư tưởng và tình cảm của Hồ Chí Minh đồng thời cho thấy khát vọng cháy bỏng về độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam Xem thêm:Tóm tắt Tuyên ngôn độc lập
2 Tóm tắt Ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ, nhà văn lớn của nền văn học dân tộc nước nhà với các tác phẩm có giá trị nhân văn sâu sắc Nhà thơ mù họ Nguyễn đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng hết lòng ngợi ca trong bài viết “Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” để kỉ niệm 75 năm ngày mất của ông Văn bản được tác giả viết theo bố cục ba phần mạch lạc: Phần mở đầu với luận đề “Trên trời có những
vì sao sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn mới thấy,
và càng nhìn thì càng thấy sáng Văn thơ Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy” Đây là cách nhìn mới mẻ, sâu sắc của Phạm Văn đồng về thơ văn Nguyễn Đình Chiểu Phần nội dung: gồm ba luận điểm cụ thể hóa cho luận điểm bao trùm ở phần mở đầu Luận điểm 1: “ánh sáng khác thường” được chứng minh qua cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Luận điểm 2; “ánh sáng khác thường” trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu nội dung chủ yếu nói về tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” Luận điểm 3: “ánh sáng khác thường” trong truyện thơ “Lục Vân Tiên” Phần kết luận: tác giả đánh giá vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc và khẳng định giá trị thơ văn vượt thời gian của Đồ Chiểu Bài viết đã cho ta cách đánh giá mới mẻ, đúng đắn về Nguyễn Đình Chiểu cùng ý nghĩa thiết thực trong các tác phẩm văn chương của ông
3 Tóm tắt Người lái đò sông Đà
Tóm tắt mẫu 1
Tây Bắc có thiên nhiên hùng vĩ được tô điểm bằng con sông Đà vừa dữ dội, hung tợn
và đôi khi lại thật nhẹ nhàng, yêu kiều và thơ mộng như một người con gái Con sông
Đà hung bạo và hùng vĩ bởi đá ở bờ sông “dựng vách thành”, lòng sông thắt lại như yếu hầu, vô số những điểm “hút nước” vô cùng nguy hiểm cho thuyền bè Chỉ cần di chuyển một quãng đường sẽ thấy vô số những khó khăn đó là đá nổi, đá chìm, sóng thác sẵn sàng cản bước những con thuyền có ý định vượt sông Đà Sông Đà mang vẻ
Trang 3đẹp thơ mộng, trữ tình nhất là nhìn từ xa dòng sông như mái tóc một người con gái, trong năm còn sống có nhiều sự thay đổi theo mùa, mỗi mùa lại có những vẻ đẹp riêng biệt và độc đáo Sông Đà hiện lên thật hung tợn và dữ dội nhưng thật nhẹ nhàng, thơ mộng Trên nền thiên nhiên rộng lớn hình tượng người lái đò người dân lao động đặc điểm thân hình cao to, nước da rám nắng, thông thạo trong nghề nghiệp của mình Ông nắm chắc các qui luật dòng thác, từng vách đá, luồng nước, cửa sinh, cửa tử Người lái đò sông Đà trước tiên cần sự kinh nghiệm trong nghề nghiệp và sự dũng cảm, gan dạ, những người lái đò là những con người tài hoa, khiêm tốn trong cuộc sống, họ giúp những con thuyền vượt qua khó khăn từ thiên nhiên và về bến an toàn
Tóm tắt mẫu 2
Tây Bắc là nơi nổi tiếng bởi thiên nhiên hùng vĩ , mà minh chứng cụ thể là con sông
Đà Từ thượng nguồn sông Đà đã mang vẻ dữ dội của đại ngàn: dựng đá vách thành, chỉ lúc đúng ngọ mới thấy mặt trời; sóng đá dữ dội dàn thành các thạch trận xô nhau liên tiếp, dữ dội hơn trông Đà giang như sôi lên sùng sục , tiếng thác đá ở đây thì như ngàn con trâu mộng giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa Có lúc sông Đà cũng dịu dàng: Sông Đà tuôn dài như áng tóc trữ tình, mang màu xanh ngọc bích và màu đỏ phù sa chứ không có màu đen như Pháp nói; sông Đà lại giống như một cố nhân lâu ngày gặp lại; hai bên bờ sông Đà tĩnh lặng nhưng đầy sức sống Trên vẻ đẹp của Tây Bắc ấy hình ảnh người lái đò hiện ra đầy nghệ sĩ, hùng dũng dù rất bình dị đời thường, Ông lái đò vượt qua ba thạch trận với nhiều cửa tử; dù, ngày nào cũng chiến đấu với sông
Đà dữ dội, đêm trở về với những thứ bình dị, khiêm tốn
Tóm tắt mẫu 3
Người lái đò sông Đà kể về thiên nhiên hùng vĩ nhất là còn sông Đà và hình ảnh người lái đò tài giỏi, dũng cảm Con sông Đà nổi tiếng hung tợn và vô cùng hiểm trở với những thác nước, đá ngầm, đá nổi, thạch trận được bố trí vô cùng nguy hiểm nhưng con sông Đà trở nên hiền hòa và có chất thơ hơn khi ngắm nhìn màu nước biến đổi theo mùa và mang đặc điểm riêng Trên nền của thiên nhiên xuất hiện hình ảnh người lao động đó là người lái đò sông Đà những người thực hiện nhiệm bảo chèo lái con thuyền vượt sông Đà Ông lái đò khỏe mạnh, rắn chắc và có thừa sự dũng cảm Ông trong nghề đã nhiều năm và nắm vững bố trí bãi đá, con thác, thạch trận…mọi thứ đều lão ghi nhớ và nắm trong lòng bàn tay Để chèo lái con thuyền vượt qua sông Đà thành công ông phải kết hợp kinh nghiệm của bản thân và sự dũng cảm, gan dạ Sau khi trở về bến ông và những người bạn còn toát lên vẻ đẹp của sự tài hoa và khiêm nhường họ xem những thử thách vừa trải qua là những công việc thường ngày
Tóm tắt mẫu 4
Trang 4Thiên nhiên Tây Bắc được tô điểm bởi con sông đà vừa hung bạo vừa trữ tình Sông
Đà có lúc dịu dàng như người phụ nữ kiều diễm Nước sông Đà thay đổi theo mùa phản chiếu trời xuân nắng thu “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, mùa thu lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa” Dọc theo sông Đà, có lắm thác nhiều ghềnh,
có đá dựng vách thành, có đá tảng, đá hòn bày thế thạch trận, tạo nên cửa sinh cửa tử Nổi bật trên bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, đầy sức sống đó là hình ảnh ông lái đò sông Đà Đó là một người mang vẻ đẹp khỏe khoắn của người dân lao động vùng sông nước với thân hình cao to, nước da rám nắng Ông làm nghề lái đò đã nhiều năm, từng gắn bó với dòng sông Đà, hiểu được tính khí của nó Ông thuộc nằm lòng từng con thác lớn, thác nhỏ, từng vách đá, luồng nước, từng cửa sinh, cửa tử do thế thạch trận tạo nên Ông đã dùng kinh nghiệm nghề nghiệp cộng với sự cần cù gan dạ đưa con thuyền vượt thác nước sông Đà đầy nguy hiểm Ông đã đưa nhiều chuyến hàng về xuôi an toàn để góp phần vào cuộc sống Sau khi vượt sông Đà, ông lái đò trở về cuộc sống đời thường thanh thản của mình, ông neo thuyền chỗ khúc sông bình lặng và nấu ống cơm lam, bàn tán về cá anh vũ cá dầm xanh
4 Tóm tắt Ai đã đặt tên cho dòng sông?
Tóm tắt mẫu 1
Có một dòng sông với những vẻ đẹp biến hóa kì ảo mang tên Sông Hương gắn liền với xứ Huế mộng mơ Khi chảy qua thượng nguồn, con sông Hương mang vẻ đẹp hoang dại như cô gái Digan với những điệu nhảy nóng bỏng Và còn “người mẹ phù sa” với vẻ đẹp đầy tinh tế, đắm say lòng người Rời xa thượng nguồn về với thành phố,
là màu sắc rực rỡ của hoa đỗ quyên hai bên bờ sông Lúc này sông Hương tựa như cô gái thức giấc với những chuyển mình đầy biến hóa Khi thì tạo hình cung, rồi ôm lấy chân đồi Thiên Mụ, khi thì hóa xanh, trưa vàng rồi lại chiều tím, làm ngây ngất lòng người Khi con sông tiến thẳng về phía hướng Bắc, thì ôm gọn lấy đảo Cồn hến Khi đột ngột chuyển hướng Đông – Tây thì quay lại thành phố ở thị trấn Bao Vinh Đó là nỗi vấn vương của dòng sông mà tác giả gọi là sự vấn vương của nàng Kiều đối với Kim Trọng Không những thế, sông Hương còn mang dấu ấn của lịch sử, của thi ca khi chứng kiến bao cuộc đấu tranh của dân tộc Vì vậy, nó xứng đáng là biểu tượng bất diệt của Huế, là nguồn cảm hứng bất tận của thi ca sau này
Tóm tắt mẫu 2
Con sông Hương chảy qua thành phố thật mộng mơ và có lịch sử gắn liền với Huế Ở mỗi thời điểm con sông lại có những vẻ đẹp riêng Khi sông Hương chảy ở thượng nguồn thật hoang dại tựa như “bản trường ca rừng già”, “như cô gái Di-gan”, “người
mẹ phù sa” vẻ đẹp đầy tinh tế và say đắm lòng người Rời xa thượng nguồn con sông Hương tiếp tục đi đến thành phố, hai bên bờ sông nổi bật với màu đỏ của hoa đỗ
Trang 5quyên, sông Hương lúc này tựa như cô gái thức giấc, liên tục chuyển dòng, tạo thành những hình cung, ôm chân đồi Thiên Mụ, sông Hương lúc này đa màu sắc với sớm xanh, trưa vàng, chiều tím vẻ đẹp khiến con người mê mệt Tạm rời xa thành phố sông Hương tiến thẳng về hướng Bắc, con sông ôm lấy đảo Cồn Hến chìm trong sương khói, và giữa màu xanh biếc tre trúc và vườn cau của làng Vỹ Dạ Con sông đột ngột
rẽ sang hướng đông – tây quay lại thành phố ở thị trấn Bao Vinh Con sông trước khi trở lại với biển còn vấn vương với kinh thành Huế tựa như nỗi vấn vương của nàng Kiều với Kim Trọng xưa kia Sông Hương còn là mang nhiều dấu ấn của lịch sử, thi
ca Đó là dòng sông chứng kiến nhiều trận chiến những trận chiến bảo vệ đất nước, giành độc lập tự do bi tráng của dân tộc Dòng sông Hương mãi là biểu tượng bất diệt của thành phố Huế và nguồn cảm hứng về thi ca cho nhiều thế hệ mai sau
Tóm tắt mẫu 3
Bài bút kí đã ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương gắn liền với xứ hú mơ mộng đã đi vào lòng người và với truyền thống lịch sử xứ Huế Lúc ở thượng nguồn, sông Hương có
vẻ đẹp mãnh liệt và hoang dại, có nhiều ghềnh thác đáy vực bí ẩn Có thể xem sông Hương như bản trường ca của rừng già Lúc về đồng bằng, sông Hương thơ mộng làm say đắm lòng người Hai bên bờ sông Hương chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên Dòng sông mềm như tấm lùa uốn cong, cảnh đẹp như bức tranh có đường nét, hình khối trôi
đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, cao đột ngột như VỌNG CẢNH, TAM THAI, LỰU BẢO Sông hương có vẻ đẹp da màu biến ảo: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím
Lúc qua thành phố Huế, sông Hương trôi đi thật chậm chảy lặng lờ như điệu slow Sông Hương đã trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya Trên sông vọng lại tiếng hát trong một khoang thuyền nào đó Sông Hương mang vẻ đẹp vừa trữ tình, vừa trầm mặc gắn liền với lịch sử bi tráng của dân tộc mà trên thế giới không có dòng sông nào như thế Và trước về với biển sông hương lưu luyến tình cảm với thành phố Huế ví như nỗi vấn vương của nàng Kiều với Kim Trọng
5 Tóm tắt Vợ chồng A Phủ
Tóm tắt mẫu 1
“Vợ chồng A Phủ” là tác phẩm xuất sắc của nhà văn Tô Hoài viết về người dân vùng cao Tây Bắc Câu chuyện kể về hai nhân vật chính là Mị và A Phủ Mị là cô gái H’mông xinh đẹp, có tài thổi sáo rất hay, được nhiều chàng trai theo đuổi Mỗi khi tết đến xuân về trai gái đều hò hẹn nhau để cùng vui chơi, ca hát Năm ấy, Mị đi chơi bị con trai nhà thống lí Pá Tra là A Sử bắt về cúng trình ma Mị trở thành con dâu gạt nợ
do năm xưa khi bố mẹ Mị lấy nhau không có tiền cưới hỏi phải đến vay nhà thống lí
Trang 6Mỗi năm phải trả lãi một nương ngô nhưng mãi vẫn chưa trả được nợ Lúc đầu cô không chấp nhận làm vợ A Sử định ăn lá ngón tự tử nhưng nghĩ về bố-người cha già
đã vất vả nuôi cô khôn lớn, cô không đành lòng chết Từ đây, cuộc sống của Mị không còn vui vẻ nói cười mà thay vào đó là sự khổ sở hơn kiếp trâu ngựa làm việc quần quật cả ngày lẫn đêm hết năm này qua năm khác Cuộc sống của Mị cứ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” chẳng nói chẳng rằng Một mùa xuân nữa lại đến Hôm ấy
Mị uống rượu, cô thấy trong lòng phơi phới, nghe tiếng sáo gọi bạn tình Mị nhớ lại hồi mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử phát hiện Hắn trói Mị vào cột nhà bằng thúng sợi đay và tóc của cô Trong đêm mê man, tiếng sáo thúc giục cô bước chân đi chợt thấy nhói đau, ê ẩm người mới sực nhớ ra là đang bị trói May mắn cho
Mị là có chị dâu-những người phụ nữ cùng kiếp nô lệ cởi trói cho cô
A Phủ là một chàng trai nghèo mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhờ ơn trời anh rất khỏe mạnh, chăm chỉ lao động Trong đêm mùa xuân ấy, vì bất bình trước thái độ ngang tàn, bạo ngược của A Sử mà đánh hắn trọng thương nên bị làng bắt vạ phải nộp 100 lạng bạc trắng nhưng không có tiền đành phải đi ở trả nợ cho nhà thống lí Pá Tra Công việc của A Phủ là chăn đàn bò, trong một lần không may anh để hổ bắt mất một con liền bị thống lí Pá Tra trừng phạt trói vào cột nhà nhịn ăn, nhịn uống và chịu rét chờ A Sử bắn được hổ sẽ tha
Lúc đầu nhìn cảnh tượng ấy Mị thản nhiên, hờ hững nhưng rồi lòng thương người cũng trỗi dậy khi nhìn thấy hai hàng nước mắt chảy xuống hõm má trên gương mặt tiều tụy đáng thương của A Phủ Cô đã dũng cảm cắt dây cởi trói cho A Phủ, hai người cùng nhau trốn khỏi Hồng Ngài, họ nên đôi vợ chồng và cùng tham gia cách mạng
Tóm tắt mẫu 2
Vợ chồng A Phủ kể về cuộc đời đôi nam nữ người H’Mông, người con gái tên là Mị
và người con trai là A Phủ Khi xưa, cha mẹ Mị lấy nhau không đủ tiền đã phải vay tiền của cha thống lí Pá Tra, món nợ ngày càng nhiều chưa thể trả nhưng Mị vẫn nhất định không lấy A Sử – con trai thống lý Pá Tra để xóa hết nợ Một đêm nọ, Mị bị A
Sử bắt về nhà Tại nhà thống lí Mị bị đối xử thậm tệ còn thua con trâu con ngựa Không chịu tủi nhục Mị định tự tử nhưng không đằng chết tại nhà A Sử vì thương cha già Khổ nhiều cũng thành quen, một cái Tết nữa đến, Mị uống rượu và nghe tiếng sáo gọi bạn tình nhớ lại ngày xưa, Mị có ý định đi tìm hạnh phúc, khi chuẩn bị đi chơi thì lại bị A Sử bắt trói đứng A Phủ chàng trai hiền lành, khỏe mạnh, vì bất bình đã đánh
A Sử nên đã bị bắt về lao động không công để trừ nợ, chàng trai bắt đầu cuộc sống tại nhà lí trưởng Trong một lần A Phủ đi chăn bò không cẩn thận đã để hổ vồ mất bò nên
bị A Phủ phạt bị trói đứng ở góc nhà, không cho ăn cho uống nhiều ngày liền đến kiệt sức Mị thấy vậy nhưng hoàn toàn không có cảm giác nhưng khi nhìn thấy A Phủ
Trang 7khóc vì đói, rét, kiệt sức, tuyệt vọng Mị động lòng thương và thấy hai người cùng cảnh ngộ đã quyết định cắt dây trói cho A Phủ rồi cùng nhau bỏ trốn thật xa Cả hai chạy trốn thật nhanh đến Phiềng Sa rồi kết duyên thành vợ thành chồng A Phủ gia nhập với cách mạng kết thân với các cán bộ A Châu và A Phủ cùng nhau chống giặc Pháp xâm lược, bảo vệ quê hương
Tóm tắt mẫu 3
Tác phẩm kể về cuộc đời của đôi trai gái người Mèo là Mị và A Phủ Mị là một cô gái trẻ, đẹp Cô bị bắt làm vợ A Sử - con trai thống lý Pá Tra để trừ một món nợ truyền kiếp của gia đình Lúc đầu, suốt mấy tháng ròng, đêm nào Mị cũng khóc, Mị định ăn
lá ngón tự tử nhưng vì thương cha nên Mị không thể chết Mị đành sống tiếp những ngày tủi cực trong nhà thống lí Mị làm việc quần quật khổ hơn trâu ngựa và lúc nào cũng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” Mùa xuân đến, khi nghe tiếng sáo gọi bạn tình thiết tha Mị nhớ lại mình còn trẻ, Mị muốn đi chơi nhưng A Sử bắt gặp và trói đứng Mị trong buồng tối A Phủ là một chàng trai nghèo mồ côi, khoẻ mạnh, lao động giỏi Vì đánh lại A Sử nên bị bắt, bị đánh đập, phạt vạ rồi trở thành đầy tớ không công cho nhà thống lí Một lần, do để hổ vồ mất một con bò khi đi chăn bò ngoài bìa rừng nên A Phủ đã bị thống lí trói đứng ở góc nhà Lúc đầu, nhìn cảnh tượng ấy, Mị thản nhiên nhưng rồi lòng thương người cùng sự đồng cảm trỗi dậy, Mị cắt dây cởi trói cho A Phủ rồi theo A Phủ trốn khỏi Hồng Ngài…
Tóm tắt mẫu 4
Truyện kể về cuộc đời của vợ chồng A Phủ Mị là cô gái trẻ đẹp, nhà nghèo, sống ở Hồng Ngài Cô bị bắt cóc về làm vợ A Sử, làm con dâu gạt nợ nhà thống Lí Pá Tra
Cô phải lao động quần quật, sống không khác gì con trâu, con ngựa Khi mùa xuân đến, cô cũng muốn đi chơi liền bị A Sử trói đứng trong buồng Chỉ đến khi A Sử bị đánh, cô mới được cởi trói để đi lấy lá thuốc, xoa dầu cho chồng A Phủ là một chàng trai nghèo, mô côi, khỏe mạnh, gan góc, giỏi lao động Vì đánh A Sử đến phá rối cuộc chơi nên bị bắt, bị đánh đập, bị phạt vạ, phải vay vốn thống lí để nộp phạt, rồi trở thành người ở đợ trừ nợ trong nhà thống lí Một lần để hổ ăn mất một con bò, A Phủ
bị trói đứng, bị bỏ đói suốt mấy ngày đêm Một đêm, khi trở dậy thổi lửa để sưởi, Mị bắt gặp dòng nước mắt chảy trên gò má đen sạm của A Phủ Mị nghĩ về thân phận mình, đồng cảm về cảnh ngộ của A Phủ Cô đã cắt dây trói giải thoát cho A Phủ và bỏ trốn khỏi nhà thống lí Pá Tra Hai người đến Phiềng Sa, thành vợ thành chồng, tạo dựng một cuộc sống mới A Phủ được sự giác ngộ của cán bộ cách mạng A Châu trở thành tiểu đội trưởng du kích Họ cùng mọi người cầm súng để gìn giữ bản làng
Tóm tắt mẫu 5
Trang 8Câu chuyện kể về một cô gái có tên là Mị, nàng là một cô gái trẻ trung xinh đẹp, nết
na, đa tài nhưng bạc phận Vì cha mẹ của nàng thiếu nợ nhà Thống Lý Pá Tra nên nàng bị bắt về làm vợ của A Sử, con trai nhà Thống Lý để trừ nợ cho cha Từ khi nàng
về nhà Thống Lý, nàng trở nên ít nói hơn, suốt ngày lủi thủi trong nhà như con rùa nuôi trong xó cửa Năm ấy tết đến, Mị tình cờ nghe được tiếng sáo ở đâu vọng lại, tâm hồn nàng trở nên bồi hồi, thiết tha, nàng nhớ lại những chuyện xưa kia và nàng muốn
đi chơi, nhưng bị chồng nàng ngăn cản không cho đi, bắt nàng phải ở nhà Trong một lần chồng nàng là A Sử đi chơi bên Làng bên, vì chọc ghẹo con gái nên bị A Phủ đánh, sau đó A Sử bắt A Phủ bồi thường tiền thuốc men cho A Sử, A Phủ không có tiền trả nên bị A Sử bắt về làm công trừ nợ suốt đời cho nhà A Sử Trong đêm tình mùa đông năm ấy, A Phủ bị A Sử trói ở góc nhà, Mị trông thấy và nàng nghĩ lại cuộc đời mình, nàng thấy tủi thân cho và thương thay cho số phận của A Phủ, Nàng đã cởi trói cho A Phủ và cả hai cùng bỏ trốn khỏi nhà Thống Lý Pá Tra
Xem thêm:Tóm tắt tác phẩm Vợ chồng A Phủ
6 Tóm tắt Vợ nhặt
Tóm tắt mẫu 1
Vợ nhặt là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí Tác phẩm ban đầu có tên là Xóm ngụ cư, viết ngay sau Cách mạng tháng Tám Bản thảo sau này được viết lại
Cái đói tràn xuống chợ, trẻ con ủ rũ, người lớn dật dờ, lặng lẽ Tràng bông dắt người đàn bà xa lạ ấy về Trẻ con có đứa gào lên "chông vợ hài", người lớn bàn tán, những khuôn mặt u tối của họ như rạng rỡ lên Về đến cái nhà vắng teo, bà cụ Tứ, mẹ Tràng
về muộn; Tràng loanh quanh hết ra lại vào Người đàn bà theo Tràng trong hoàn cảnh không ngờ Hai lần gặp, và câu đùa với bốn bát bánh đúc người đàn bà ăn một chập và cái "chặc lưỡi" của Tràng
Bà cụ Tứ về, Tràng reo lên, bà ngạc nhiên Thấy trong nhà có người đàn bà, lại chào
bà là u, bà càng ngạc nhiên Được Tràng giải thích, bà nín lặng Bao nỗi niềm xáo trộn trong lòng bà Nói chuyện với con dâu, bà khóc Tràng bật lửa thắp đèn, bà vội lau nước mắt mùi đống rấm và tiếng hờ khóc ở những nhà trong xóm có người chết vẳng tới
Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn Từ trong nhà đến ngoài sân đều đổi thay, gọn gàng, sạch sẽ Tràng thấy có bổn phận với vợ và yêu cái nhà mình hơn Bữa ăn chỉ có rau chuối rối chấm muối với mỗi người hai lưng bát cháo lõng bõng Bà cụ Tứ nói toàn những chuyện vui vẻ Bà mừng con dâu mới bằng nồi cháo cám mà bà gọi vui là "chè
Trang 9khoán" Tiếng trống thúc thuế ngoài đình nổi lên Bà cụ Tứ lại khóc Trong óc Tràng bỗng hiện lên lá cờ đỏ và đoàn người trên đê Sộp đi phá kho thóc
Tóm tắt mẫu 2
Năm 1945, nạn đói khủng khiếp xảy ra lan tràn khắp nơi trên cả nước, người chết như
rạ, người sống cũng dật dờ như những bóng ma Tràng là chàng trai xấu xí thô kệch, ế
vợ, Tràng sống ở xóm ngụ cư Anh làm nghề kéo xe bò thuê và sống cùng người mẹ già Một lần kéo xe thóc Liên đoàn lên tỉnh Tràng đã quen với một cô gái Vài ngày sau gặp lại, Tràng không còn nhận ra cô gái ấy, bởi vẻ tiều tụy, đói rách làm cô đã khác đi rất nhiều Tràng đã mời cô gái một bữa ăn, cô gái liền ăn một lúc bốn bát bánh đúc Sau một câu nói nửa thật, nửa đùa, cô gái đã theo anh về nhà làm vợ Việc Tràng nhặt được vợ đã làm cả xóm ngụ cư ngạc nhiên, nhất là bà Cụ Tứ (mẹ của Tràng) cũng không nổi bàng hoàng ngạc nhiên và lo lắng nhưng rồi bà cụ cũng đã hiểu ra và chấp nhận người con dâu ấy Trong bữa cơm” đón nàng dâu mới, họ chỉ với một bữa cháo kèm theo là nồi cháo cám bà cụ tứ dành cho nàng dâu nhân bữa cơm đón nàng dâu mới với tấm lòng độ lượng, bao dung Tác phẩm kết thúc ở chi tiết vào buổi sáng hôm sau tiếng trống thúc thuế dồn dập, quạ đen bay vù như mây đen Thị nói về chuyện Việt Minh phá kho thóc Nhật và Tràng nhớ lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới hôm nào
Xem thêm:Tóm tắt tác phẩm Vợ nhặt
7 Tóm tắt Rừng xà nu
Tóm tắt mẫu 1
Tác phẩm viết về làng Xô Man và núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Sau ba năm xa làng đi bộ đội giải phóng, Tnú trở về thăm quê, làng
Xô Man bất khuất kiên cường nằm giữa rừng xà nu bạt ngàn của Tây Nguyên
Trong một buổi tối sum họp của làng, cụ Mết đã kể lại cho dân làng nghe về một trang
sử bi thương mà hùng tráng của làng, có gắn với cuộc đời Tnú Làng Xô Man trong những năm đen tối của cách mạng, là một căn cứ bí mật vững chắc nuôi giấu cán bộ Lúc ấy, Tnú và Mai còn nhỏ nhưng đã góp phần tích cực vào việc chở che nuôi giấu cán bộ Lớn lên, hai người thành vợ chồng Tnú trở thành người lãnh đạo dân làng đánh giặc
Tin "Làng Xô Man mài giáo mác chuẩn bị khởi nghĩa bay đến tay giặc", chúng cho quân đến vây quét Cụ Mết và Tnú, cùng thanh niên rút ra ngoài rừng Giặc dùng mọi cách khủng bố, uy hiếp tinh thần dân chúng Để hòng dử dỗ Tnú đầu hàng, chúng bắt
vợ và con anh hành hạ Nấp trong rừng, chứng kiến cảnh vợ con bị đánh đập dã man,
Trang 10Tnú sôi sục căm thù đến mức không tỉnh táo được nữa, đã nhảy xổ ra chém giết lũ giặc Nhưng anh cũng không cứu được vợ con mình Anh bị giặc bắt trói, tẩm nhựa xà
nu đốt cháy mười đầu nón tay trước mắt dân làng, hòng uy hiếp "mộng cầm dáo mác" của họ
Tnú kiên cường, cắn răng chịu đựng, không hề khuất phục Căm thù tột đô, cả khối người đã vùng dậy đánh gục kẻ thù "cả làng Xô Man ào ào rung động và lửa cháy khắp rừng" Câu chuyện khép lại bằng cảnh cụ Mết và Dit tiễn đưa Tnú trở lại đem vị
ở nơi cửa rừng xà nu tràn trề sức sống vượt lên trên sự hủy diệt của bom đạn như làng
Xô Man bất khuất kiên trung
Rừng Xà Nu kể về làng Man, một làng ở Tây Nguyên, làng nằm giữa những cánh rừng Xà nu bạt ngàn, đang ngày đêm gánh chịu mưa bom, bão đạn Và tại đó, có chàng Tnú là người dân tộc Strá Tnú tham gia cách mạng Quân giặc biết được, bắt
vợ con anh, hành hạ đánh đập dã man để dụ anh ra Chứng kiến cảnh vợ con cùng khổ, anh không chịu được xông ra giữa vòng vây địch để cứu Mai và con Nhưng anh không cứu được, mẹ con Mai chết, còn anh thì bị giặc bắt đốt trụi mười đầu ngón tay Tnú được dân làng cứu thoát Tnú tìm đến quân giải phóng, tham gia chiến đấu chống lại bọn giặc Sau ba năm, anh trở lại lành Man thăm làng vào mọi người Đêm hôm đó,
cả làng ngồi nghe cụ Mết kể lại những chiến công của Tnú, chuyện anh bị địch bắt bị tra tấn nhưng vẫn kiên quyết không khai báo, chuyện anh bị đốt 10 đầu ngón tay, chuyện anh cùng làng Man nhất tề thắng bọn giặc… nhằm giúp dân làng nâng cao tinh thần truyền thống anh hùng bất khuất Sáng hôm sau, Tnú được cụ Mết, bé Heng, Dít, tiễn anh lên đường tiếp tục đánh đuổi giặc ngoại xâm Họ chia tay nhau ở đồi Xà nu
Tóm tắt mẫu 2
Truyện ngắn là lời kể của cụ Mết về cuộc đời của Tnú cho dân làng Xô Man nghe Tnú từ khi còn nhỏ đã rất dũng cảm, băng rừng vượt núi để liên lạc, nuôi giấu cán bộ
là anh Quyết Khi lớn hơn, Tnú bị giặc bắt trong một lần làm nhiệm vụ nhưng vẫn quyết giữ bí mật và trốn được khỏi đó sau 3 năm Tnú cưới Mai, thằng Dục đưa quân giặc đến để đe dọa dân làng, chúng giết mẹ con Mai, Tnú phẫn uất xông ra nhưng bị chúng bắt và tẩm nhựa xà nu thiêu đốt 10 đầu ngón tay Sau đó, Tnú vẫn lên đường tham gia giải phóng quân và lập được nhiều chiến tích dù có đôi bàn tay không lành lặn Truyện làm hiện lên hình ảnh bất khuất cũng như vẻ đẹp kiên cường của những cánh rừng xà nu hùng vĩ, của người dân làng Xô Man và của Tnú Qua đó cho thấy tinh thần quả cảm của những người dân trong thời kì chiến tranh
Xem thêm: Tóm tắt Rừng xà nu
8 Tóm tắt Những đứa con trong gia đình