1 2 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TÊN MÔN HỌC GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TÊN BÀI THU HOẠCH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI VẬN DỤNG TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU SÔNG BÉ HIỆN NAY ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ NĂM 2022 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 PHẦN II NỘI DUNG 1 Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TƯ.
Trang 1BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TÊN MÔN HỌC: GIỚI TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
TÊN BÀI THU HOẠCH: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI - VẬN DỤNG TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU SÔNG BÉ HIỆN NAY
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ
- NĂM 2022
Trang 2PHẦN II NỘI DUNG 1
Chương 1.
QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ BÌNH
1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới 2
1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới 7
Chương 2.
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN TRONG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CAO SU
2.1. Khái quát về thực trạng bình đẳng giới ở công ty Cổ phần
2.2. Giải pháp trong lãnh đạo, quản lý thúc đẩy bình đẳng giới
tại Công ty Cổ phần Cao su Sông Bé hiện nay 13 2.3.
Trách nhiệm là người lãnh đạo, quản lý trong thúc đẩybình đẳng giới tại Công ty Cổ phần Cao su Sông Bé hiện
Trang 3Phần I: MỞ ĐẦU
Bình đẳng giới là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của côngdân Việt Nam được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật vàtrong các Công ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết Trong Hiếnpháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Hiến pháp năm 1946,tại Điều 9 đã đề cập thẳng đến quyền bình đẳng nam nữ: “Đàn bà ngangquyền với đàn ông trên mọi phương diện” Chủ tịch Hồ Chí Minh trước lúc đi
xa cũng căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồidưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng có thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọicông việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên
Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ” Và vấn
đề này đã được thể chế hóa thành các văn bản Luật như Luật Bình đẳng giớinăm 2006, Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay ban hành cácchương trình hành động như: Chương trình hành động quốc gia về bình đẳnggiới giai đoạn 2016 – 2020, Chương trình hành động quốc gia về phòng,chống bạo lực gia đình đến năm 2020 để đảm bảo quyền lợi cho người phụ
nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục, y tế và ngay chính
trong gia đình của họ
Nhận thức rõ vai trò của việc thực hiện quyền bình đẳng trong chiếnlược phát triển sản xuất, kinh doanh của Công ty, thời gian quan, Ban Giámđốc Công ty cổ phần Cao su Sông Bé đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháplãnh đạp, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyền bình đẳng giới trong Công ty và đãđạt được nhiều thành tựu nổi bật Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạnchế nhất định, như: còn tình trạng bất hợp lý trong lao động nam – nữ; tỉ lệtham gia lãnh đạo của lao động nữ trong Công ty còn hạn chế, chưa tươngxứng với tiềm năng của đội ngũ công nhân viên chức nữa trong Công ty… Vì
vậy, việc nghiên cứu “Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bình đẳng giới - Vận dụng trong lãnh đạo, quản lý thúc đẩy bình đẳng giới tại Công ty cổ phần Cao su Sông Bé hiện nay” là vấn
đề có ý nghĩa thiết thực, cấp thiết
Trang 4Phần II: NỘI DUNG Chương 1: QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG TA VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI
1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về bình đẳng giới
Ngay từ thế kỷ XIX, C Mác và Ph Ăngghen - các lãnh tụ thiên tài củagiai cấp vô sản toàn thế giới - đã chỉ rõ: “Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thấtbại lịch sử có tính chất toàn thế giới của giới nữ Ngay cả ở trong nhà, ngườiđàn ông cũng nắm lấy quyền cai quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nôdịch, bị biến thành nô lệ cho sự dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh
đẻ đơn thuần” [10, tr.93]; “người vợ trở thành người đầy tớ chính và khôngđược tham gia vào nền sản xuất xã hội” [10, tr.115] “Tình trạng không bìnhquyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta,tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà vềmặt kinh tế” [10, tr.115] Hai ông khẳng định: “Một sự bình đẳng thực sự giữaphụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độbóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong giađình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội” [11, tr.341]
V.I Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản thế kỷ XIX - XX kếthừa quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, chỉ ra tình cảnh khốn khổ của nữcông nhân lao động trong các nhà máy, công xưởng: “Hàng triệu và hàng triệuphụ nữ trong những gia đình như vậy đang sống (hoặc nói đúng hơn đang bịđọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho gia đình bằng từng xunhỏ mà họ phải trả bằng những cố gắng phi thường hàng ngày và bằng “sự tiếtkiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân” [6, tr.173].Ông chỉ rõ, “trong nông nghiệp, người lao động phụ nữ, vô sản cũng như nôngdân, đều phải cố đem hết sức mình ra, phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, làm đếnkiệt sức, hại đến sức khỏe của mình và của con cái để cố đuổi cho kịp người laođộng nam giới trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa” [6, tr.355-357]; “họcùng làm ở công xưởng 10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10 - 1,50
Trang 5mác (nam giới thì được 2,50 - 2,70 mác) và nếu trả công theo sản phẩm thì họđược 1,7 - 2,0 mác” [5, tr.198] Phụ nữ “không có quyền gì cả vì pháp luậtkhông cho họ có quyền bình đẳng với nam giới”, còn trong gia đình họ là “nô lệgia đình”, bị nghẹt dưới cái gánh những công việc bếp núc nhỏ nhặt nhất, lam
lũ nhất khổ cực nhất, làm cho mụ người nhất Ông khẳng định: “Không cònnghi ngờ gì nữa, công xưởng tư bản chủ nghĩa đã đẩy các loại người lao động
đó vào tình cảnh đặc biệt khó khăn Thế nhưng, xu hướng đòi hoàn toàn cấmchỉ phụ nữ và thiếu niên không được lao động trong công nghiệp, hoặc xuhướng duy trì chế độ gia trưởng về sinh hoạt là chế độ loại bỏ lao động đó, xuhướng đó thật là phản động, không tưởng” [4, tr.690]
V.I Lênin chủ trương: phụ nữ được bình quyền với nam giới về mọi mặt,thủ tiêu chế độ đẳng cấp; quyền bình đẳng hoàn toàn của mọi công dân, khôngphân biệt trai gái, tôn giáo, chủng tộc; bổ nhiệm nữ thanh tra trong các ngành
mà lao động nữ chiếm đa số; thành lập chế độ cộng hòa , thực hiện chế độnhân dân bầu cử quan chức, nam nữ bình đẳng; hủy bỏ tất cả mọi sự hạn chế,không trừ sự hạn chế nào, đối với các quyền chính trị của phụ nữ so với cácquyền của nam giới Người khẳng định: “Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự
do hoàn toàn, nếu không giành được tự do hoàn toàn cho phụ nữ” [7, tr.183] 1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng giới
Có thể thấy, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa sử dụng cụm từ “bìnhđẳng giới” Người chỉ bàn về vấn đề giải phóng phụ nữ và thực hiện nam nữbình quyền Nhưng đây cũng chính là nội dung cốt lõi của vấn đề bình đẳnggiới hiện nay mà thế giới và Việt Nam đang quyết tâm theo đuổi vì một xã hộidân chủ, công bằng, văn minh Những tư tưởng cốt lõi về bình đẳng giới củaChủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở một số luận điểm sau:
Thứ nhất, phụ nữ là phân nửa xã hội, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội
phải giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền
Là học trò xuất sắc của C.Mác và V.I.Lênin, am hiểu lịch sử dân tộc vàtrực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
Trang 6“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu
mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [13, tr.340]
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên gắn liền cuộc đấu tranh
vì độc lập dân tộc với cuộc đấu tranh cho bình đẳng, tự do và phát triển của phụ
nữ Việt Nam Trong những năm đi bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã códịp tìm hiểu nhiều cuộc cách mạng diễn ra trên thế giới Người rút ra kết luận,chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng “đến nơi”, hay còn gọi
là cuộc cách mạng triệt để, nghĩa là đem lại quyền làm chủ xã hội thực sự chongười dân “Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cơ sở của quyền tự do chânchính và quyền bình đẳng thực sự đã được đặt ra cho loài người Chính nhờcuộc cách mạng này mà sự giải phóng phụ nữ sẽ có giá trị và có những ý nghĩađầy đủ, trọn vẹn” [12, tr.7] Vì vậy, Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường cáchmạng vô sản, nhằm giành lại độc lập hoàn toàn cho dân tộc, ấm no tự do hạnhphúc thực sự cho nhân dân và để thực sự giải phóng cho phụ nữ thoát khỏi cảách áp bức dân tộc lẫn ách áp bức xã hội
Người luôn động viên phụ nữ tham gia vào sự nghiệp cách mạng cùng dântộc, bởi theo Người, giải phóng phụ nữ - bản thân nó cũng là một cuộc cáchmạng, là một trong những mục tiêu lớn của cách mạng, nó luôn gắn với sựnghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Trong Văn kiện thành lập ĐảngCộng sản Việt Nam năm 1930, Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạngkhông chỉ giành độc lập cho dân tộc, các quyền dân chủ tự do cho nhân dân,
mà còn nhằm “thực hiện nam nữ bình quyền”
Người nhấn mạnh rằng dưới chế độ phong kiến thực dân, phụ nữ bị ápbức tàn tệ Ngoài xã hội thì phụ nữ bị xem khinh là nô lệ Ở gia đình thì họ bịkìm hãm trong xiềng xích “tam tòng”; cũng dưới chế độ thực dân, phong kiến,nhân dân ta bị áp bức, bóc lột thì phụ nữ ta bị áp bức, bóc lột nặng nề hơn
“Điều đó chứng tỏ rằng vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng talàm cách mạng” [12, tr.506] Từ cảm nhận sâu sắc nỗi “khổ nhục” của ngườiphụ nữ dưới chế độ thực dân phong kiến, Người càng ý thức hơn chính phụ nữ
Trang 7là lực lượng “một nửa” thành công của cách mạng Người luôn nhấn mạnh khảnăng cách mạng của phụ nữ và sớm nhận thấy nhân tố góp phần thắng lợi củacuộc cách mạng ấy chính là phụ nữ: “Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng cólần nào là không có đàn bà, con gái tham gia” [12, tr.313] và “An Nam cáchmệnh cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công” [12, tr.315].
Người có những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đềgiải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong tương quan pháttriển của xã hội mới, của chủ nghĩa xã hội: “Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội.Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người Nếukhông giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa” [14,tr.300] Đánh giá cao vai trò của phụ nữ khi nhìn nhận họ là lực lượng lao độngđông đảo của xã hội, Người còn thấy rõ khả năng làm việc không thua kémnam giới của phụ nữ Người nêu những tấm gương tiêu biểu của phụ nữ như:Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Định Ngườinói, trên thế giới chưa có nơi nào phụ nữ làm Phó Tổng Tư lệnh như ở miềnNam nước ta Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, kính trọng phụ nữ, thực hiệnquyền bình đẳng nam nữ, bảo đảm quyền lợi của phụ nữ là bản chất của chế độta; trong đó, vị trí xã hội của chị em được Người đặc biệt quan tâm
Thứ hai, giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là nhiệm vụ của
Đảng, Nhà nước và bản thân chị em phụ nữ
Người luôn theo dõi sát sao và tạo mọi điều kiện cho phụ nữ tham gia vào
sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng nhà nước Đặc biệt, Ngườirất quan tâm đến công tác phát triển đảng trong quần chúng phụ nữ Khi làmviệc với các cấp ủy đảng từ Trung ương đến địa phương, Người luôn chú ý đến
số lượng cán bộ nữ Người hiểu rõ khả năng to lớn của phụ nữ trong các lĩnhvực của đời sống xã hội: “Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đãtrở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc vàphó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch ủy banhành chính, bí thư chi bộ đảng, v.v ” [14, tr.639] và Người vui mừng trước việc
Trang 8ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào công việc quản lý: “Từ ngày nước tađược giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội Nhưng một trong những tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiệnnay tham gia chính quyền ngày càng nhiều” [17, tr.173].
Thực hiện nam nữ bình quyền, theo Hồ Chí Minh: “Đó là một cuộc cáchmạng khá to và khó Vì trọng trai khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm đểlại Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xãhội” [13, tr.342] Để thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng nam nữ, Hồ ChíMinh nhắc nhở chị em “phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập vàphấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường,
tự lập” [16, tr.313] Người chỉ rõ cho các cấp ủy đảng và chính quyền “phải cóphương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ” [15,tr.260]
Quan tâm tới vị trí của phụ nữ trong xã hội, Hồ Chí Minh cũng đồng thờinhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng, một trong những nhiệm vụ của phụ nữ dướichế độ ta là phải “hăng hái tham gia chính quyền” Người còn nói, nếu cán bộlãnh đạo là nữ mà ít, đấy là một thiếu sót của Đảng Nguyên nhân của tìnhtrạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lý, theo Người là vì: “Nhiều ngườicòn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Nhưvậy là rất sai” [17, tr.275] Không chỉ phê bình những tư tưởng hẹp hòi đối vớiphụ nữ, Người còn đòi hỏi phải tích cực sửa chữa Người đã đặt trách nhiệmcủa Đảng đối với sự phát triển của phụ nữ Người khẳng định: Phải giải phóngphụ nữ thực sự, giải phóng phụ nữ thì bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụthể: “Từ nay, các cấp đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho phụ
nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ
nữ nhiều hơn nữa” [14, tr.640], “phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọngquyền lợi của phụ nữ” “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực
để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọicông việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên
Trang 9Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ” [17,tr.617].
Hồ Chí Minh còn đặt vấn đề về phụ nữ, phát huy vai trò và phát triển nănglực sáng tạo của phụ nữ, coi đó là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó có sự
tự vươn lên của chị em phụ nữ: Đảng và Chính phủ ta cần phải có kế hoạchthiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ để người phụ nữ phụ trách ngàycàng thêm nhiều mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo Bản thân người phụ
nữ thì phải cố gắng Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng chophụ nữ
Như vậy, bình đẳng giới theo tư tưởng của Hồ Chí Minh: Thứ nhất, phụ
nữ có vai trò rất quan trọng trong xã hội không chỉ vì họ là lực lượng lao động
to lớn, mà còn vì họ là những người tham gia xây dựng, cải tạo xã hội Ngoàithiên chức làm mẹ, thì khả năng làm việc, sức sáng tạo khi làm việc cho cộngđồng của phụ nữ không thua kém đàn ông Thứ hai, sự nghiệp giải phóng dântộc, giải phóng xã hội sẽ không mang tính cách mạng đầy đủ nếu không thực sựgiải phóng phụ nữ, bởi vì, họ là một nửa nhân loại, một nửa xã hội Thứ ba,dưới chế độ ta - chế độ mọi người dân đều là chủ xã hội, nam nữ bình đẳng về
vị trí, bình đẳng về quyền lợi, thì phụ nữ phải có vị trí xứng đáng với vai tròcủa mình Lịch sử dân tộc ta cũng đã chứng minh rằng, phụ nữ Việt Nam có thểlàm được và làm tốt mọi công việc to lớn mà lịch sử đòi hỏi, đất nước trao cho.Thứ tư, cần phải xóa bỏ tàn dư phong kiến trọng nam khinh nữ, coi thường,xem nhẹ khả năng làm việc xã hội của phụ nữ; chỉ có vậy mới thực sự giảiphóng phụ nữ, để cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo có ýnghĩa cách mạng đầy đủ, có tính nhân văn sâu sắc
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng giải phóng phụ nữ và thực hiệnnam nữ bình đẳng đã trở thành lý tưởng cách mạng, vừa thể hiện ý thức chínhtrị, lòng nhân ái vừa thể hiện giá trị văn hóa, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản củaNgười
1.3 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới
Trang 10Ngay từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ “nam - nữ bìnhquyền là 1 trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam” Điều nàyđược ghi nhận trong Cương lĩnh Chính trị của Đảng năm 1930 Cương lĩnhcũng nêu rõ giải phóng phụ nữ phải gắn với giải phóng dân tộc và giải phónggiai cấp.
Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềnam nữ bình quyền được ghi nhận tại Điều 9 - Hiến pháp đầu tiên của nước tanăm 1946: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Trong cácbản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 1959, 1980 và 1992 quy định: “Công dânnam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội vàgia đình Nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử đối với phụ nữ, xúc phạm nhânphẩm phụ nữ Lao động nam nữ làm việc như nhau thì hưởng lương như nhau.Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, khôngngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội” (Điều 63, Hiến pháp năm 1992)
Về bình đẳng giới trong chính trị, Điều 54 - Hiến pháp năm 1992 cũng ghirõ: “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tínngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trởlên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hộiđồng nhân dân theo quy định của pháp luật”
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã cụ thể hóa quan điểm bình đẳng gỉớibằng những Nghị quyết và Chỉ thị về công tác phụ nữ Cụ thể là:
Nghị quyết 04/NQ-TƯ ngày 12-7-1993 của Bộ Chính trị Trung ươngĐảng về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hìnhmới,mục tiêu của Nghị quyết 04/NQ-TƯlà nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò củaphụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ
có những bước tiến mới và tăng số lượng, chất lượng cán bộ phụ nữ trong hệthống Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế, xã hội
Chỉ thị 37-CT/TƯ ngày 16-5-1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềmột số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới Trong đó, Đảng ta xácđịnh rõ: “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, tham gia quản lýkinh tế - xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ