MergedFile ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NHẬT BẢN HỌC – HỆ CHẤT LƯỢNG CAO TIỂU LUẬN MÔN VĂN HÓA ĐÔNG Á TÌM HIỂU VỀ NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP CỦA TRUNG HOA VÀ NHẬT BẢN GVHD Hồ Minh Quang SV thực hiện Triệu Quỳnh Như MSSV 2056191033 TP Hồ Chí Minh, năm 2022 1 Mục lục Lời mở đầu 2 CHƯƠNG I NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP TRUNG HOA 2 I Khái quát về nền văn minh Trung Hoa cổ đại 2 1 Sơ lược về Trung Quốc và nền văn minh Trung Hoa cổ đại 2 2 Lịch sử Trung Quốc 3 II Nghệ thuật.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NHẬT BẢN HỌC – HỆ CHẤT LƯỢNG CAO
TIỂU LUẬN
MÔN : VĂN HÓA ĐÔNG Á
THƯ PHÁP CỦA TRUNG HOA VÀ
GVHD: Hồ Minh Quang
SV thực hiện: Triệu Quỳnh Như MSSV: 2056191033
TP Hồ Chí Minh, năm 2022
Trang 2Mục lục
Lời mở đầu 2
CHƯƠNG I: NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP TRUNG HOA 2
I Khái quát về nền văn minh Trung Hoa cổ đại 2
1 Sơ lược về Trung Quốc và nền văn minh Trung Hoa cổ đại 2
2 Lịch sử Trung Quốc 3
II Nghệ thuật thư pháp Trung Hoa 6
1 Nguồn gốc 6
2 Thư pháp đã trở thành một loại hình nghệ thuật đỉnh cao 10
CHƯƠNG II: NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP NHẬT BẢN 12
I Lịch sử nguồn gốc 12
II Các đặc trưng của thư pháp Nhật Bản 14
1) Thư pháp viết bởi Takahashi Deishu (1835 – 1903), Katsu Kaishu (1867 – 1899) 14
2) Thư pháp dưới thời Nara 14
3) Thư pháp viết bởi Honda Tadamune (1691 – 1757) 15
4) Thư pháp viết bởi Yamamoto Hokuzan thời Edo 15
III Ba phong cách viết thư pháp Nhật cơ bản 16
1) Kaisho 16
2) Gyousho 16
3) Sousho 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3Lời mở đầu
Trung Quốc là một trong những quốc gia lớn có nền văn minh rực rỡ nhất thế giới được tạo nên do những ưu thế vốn có của mình từ việc kế thừa những di sản văn hóa cổ đại, điều kiện kinh tế xã hội và sự giao lưu với các luồng văn hóa ngoại lai Nền văn minh ấy đã được người dân tiếp thu và chuyển biến thành bản sắc riêng của dân tộc thể hiện trên nhiều mặt, trong đó nổi bật có thể kể đến là: nghệ thuật, văn học, sử học, … Hơn hết trong những nét đặc trưng văn hóa ấy, ta không thể không kể đến chữ viết của họ - chữ Hán Chữ Hán đã chứng tỏ được sức ảnh hưởng lớn của mình đến với các quốc gia lân cận qua việc hình thành
cả một vùng văn hóa chữ Hán ở các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản… Theo thời gian, việc viết chữ Hán đã dần trở thành một hình thức văn hóa nghệ thuật cao quý được gọi là thư pháp Thư pháp dần trải qua các thế hệ người Trung Quốc được trau chuốt, sáng tạo đạt tới đỉnh cao, sánh ngang với những tác phẩm được xem như báu vật nhân loại
Trong hàng ngàn năm qua, văn hóa Trung Hoa vẫn luôn ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống người dân Nhật Bản Do nằm trong vùng văn hóa chữ Hán, Nhật Bản dần phát triển nền nghệ thuật thư pháp một cách tốt đẹp, tạo nên được những giá trị cao quý đóng góp cho nền nghệ thuật phong phú của nước nhà Khi chúng ta tìm hiểu về “nghệ thuật thư pháp của Trung Hoa cổ đại” nghĩa là chúng ta đang tìm hiểu về một trong những nét văn hóa quan trọng trong đời sống của người Trung Quốc Những nét văn hóa tốt đẹp ấy dần lan truyền sang những vùng xung quanh trong đó có Nhật Bản Với sự ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là Hán tự, thư pháp được coi là một trong những loại hình nghệ thuật độc tôn của xứ sở Phù Tang này Đây là lĩnh vực có ảnh hưởng rất lớn với nền mỹ thuật của nước này
CHƯƠNG I: NGHỆ THUẬT THƯ PHÁP TRUNG HOA
TRUNG ĐẠI
I Khái quát về nền văn minh Trung Hoa cổ đại
1 Sơ lược về Trung Quốc và nền văn minh Trung Hoa cổ đại
Đất nước Trung Quốc rộng lớn được cho là bắt đầu từ những vùng dân cư- nơi họ sản xuất nông nghiệp và dân cư ở vùng trung nguyên, nằm giữa hai con sông Hoàng Hà (dài 5464km) ở phía Bắc và Dương Tử (dài 6300km) ở phía Nam - đây chính là một đặc điểm
mà chúng ta dễ dàng nhận thấy đối với các nền văn minh lớn ở phương Đông thời cổ đại: tất
cả đều hình thành trên lưu vực các con sông lớn
Những cư dân này có thể có nguồn gốc từ Châu Phi di cư đến đây vào khoảng 65 000 năm trước Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, hai dòng sông này đã đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng phía Đông Trung Quốc thêm màu mỡ, nông nghiệp vì thế mà dễ dàng phát triển Dần dần nơi đây đã trở thành cái nôi của nền văn minh lớn này Lịch sử Trung Quốc
đã trải qua hàng ngàn năm với những biến cố phức tạp
Trang 4Ở buổi đầu dựng nước (vào khoảng thế kỉ XXI TCN), lành thổ Trung Quốc chỉ mới là một vùng đất nhỏ ở trung lưu lưu vực sông Hoàng Hà Sau đó, Trung Quốc dần mở rộng lãnh thổ của mình cho đến cuối thời cổ đại (thế kỉ thứ III TCN), phía Bắc của Trung Quốc dừng lại ở dãy Vạn lí trường thành, phía Tây dừng lại ở Đông Nam tỉnh Cam Túc và phía Nam chỉ là một dãy đất dọc theo hữu ngạn Trường Giang
Đến cuối thế kỉ III TCN, đất nước Trung Quốc trở thành một nước thống nhất thời phong kiến Các triều đại của Trung Quốc dần trỗi dậy và đi chinh phục các nước xung quanh nhằm mở rộng sức ảnh hưởng của bản thân Đến thế kỉ XVIII, lãnh thổ Trung Quốc đã xác định được phạm vi cơ bản như hiện nay
Dưới thời quân chủ, tên nước ở Trung Quốc được xác định theo tên gọi các triều đại Đồng thời, từ thời cổ đại, người Trung Hoa cho rằng, xung quanh nước họ là các dân tộc như Man,
Di, Nhung, Địch, còn bản thân Trung Quốc thì ở giữa, vì thế tên gọi Trung Hoa (Trung Quốc) được ra đời trên cơ sở đó Tuy nhiên, tên gọi này chỉ được dùng để phân biệt Trung Quốc với những vùng xung quanh, chưa được công nhận là tên nước chính thức Cho đến năm
1912, khi quốc hiệu Đại Thanh bị xóa bỏ do triều Thanh bị lật đổ, cái tên Trung Hoa chính thức trở thành tên nước
2 Lịch sử Trung Quốc
a) Thời kỳ cổ đại:
Thời kỳ Tam Hoàng, Ngũ Đế (từ khoảng 2852 – 2205 trước CN)
Trang 5Ở giai đoạn đầu của lịch sử Trung Quốc, các tài liệu chưa có sự ghi chép chính xác nào nhưng thay vào đó chính là những truyền thuyết về thời kì đầu của Trung Quốc Theo huyền
sử, Tam Hoàng (Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông) là ba vị vua đầu tiên của nước này, tiếp đến
là năm vị vua hay được gọi là Ngũ Đế (Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế) Họ là những người đã có công khai hóa đất nước Trung Hoa, đưa nhân dân thoát khỏi thời kỳ sơ khai Theo truyền thuyết, ba vị vua này được xem là thần thiên, có phép màu nhiệm có thể giúp dân Đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên thủy
Sau thời kỳ Tam Hoàng, Ngũ Đế, Trung Hoa lần lượt trải qua sự cai trị của ba triêu đại nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu Có một số ý kiến cho rằng những triều đại này nối tiếp nhau, một số khác cho rằng chúng tồn tại song hành cùng nhau
Kinh tế xã hội dưới các triều đại này vẫn tiếp tục phát triển Nền nông nghiệp lúa nước được mở rộng Khoảng thế kỉ thứ VIII TCN, các bộ tộc phía tây thường xuyên nổi loạn, phản đối, chống phá, vì thế nhà Chu đã dời kinh đô từ phía tây sang phía đông sông Hoàng
Hà Lịch sử nhà Chu trải qua hai giai đoạn: Tây Chu và Đông Chu Nhằm muốn dẹp loạn cuộc tấn công của các bộ tộc, nhà Chu đã nhờ đến sự trợ giúp của các nước chư hầu Ngay lúc uy thế nhà Chu đang suy yếu, các nước chư hầu đánh dẹp các láng giềng nhỏ hơn, sáp nhập lãnh thổ vào nước mình Sau cùng, từ vài chục nước lớn nhỏ sáp nhập thành chỉ còn vài nước đủ hùng mạnh có thể vươn lên khẳng định vị thế, đó là các nước: Tề, Tấn, Sở, Tần, Tống, Ngô, Việt Trên danh nghĩa, nhà Chu vẫn được xem như đứng đầu nắm giữ nhưng thực tế, quyền lực lại thuộc về các nước chư hầu lớn Đây chính là thời kỳ Xuân Thu Sau sự sụp đổ của nhà Chu, các nước chư hầu dần mất đi sự cân bằng Đất nước rơi vào tình trạng hỗn loạn do các nước lớn khơi nguồn chiến tranh nhằm giành quyền thống trị toàn Trung Quốc Vào thời Xuân Thu, dân số Trung Quốc phát triển nhanh, đồ sắt đã được sử dụng phổ biến từ đó các nước chư hầu có điều kiện thành lập những đội quân chiến đấu cho riêng mình khiến cho cuộc chiến giành ngôi vị cao nhất thống lĩnh trở nên khốc liệt hơn, gây
ra những đau thương hỗn loạn Đây chính là thời kỳ Chiến quốc
b) Thời kỳ trung đại (phong kiến)
Thời ký của Đế chế Trung Quốc kéo dài từ nhà Tần đến nhà Thanh Trong thời kỳ này, Trung Hoa được cai trị bởi các triều đại: Nhà Tần (211-206 TCN), nhà Hán (Tây Hán, từ
206 TCN – 8, và Đông Hán, từ 25- 220), nhà Tấn (Tây Tấn, từ 265 – 316, Đông Tấn, 317 – 420), Nam – Bắc triều (420-581), nhà Đường (618 – 907), thời kì Ngũ Đại – Thập quốc (907 – 960), nhà Tống ( 960 – 1279), nhà Nguyên (1279 – 1368), nhà Minh (1368 – 1644), nhà Thanh (1644 – 1911)
Trong thời trung đại, các thời kì Trung Quốc cường thịnh, phát triển mạnh về mọi mặt chính là thời kỳ được cai trị bởi những vương triều lớn như Hán, Đường, Tống, Minh Nhà Nguyên và nhà Thanh cũng là hai triều đại lớn nhưng triều Nguyên do người Mông Cổ lập
Trang 6nên còn triều Thanh do tộc Mãn Châu lập nên Tuy triều Thanh tồn tại đến năm 1911 nhưng
từ năm 1840, tính chất của xã hội Trung Quốc đã dần chuyển mình sang thời kì lịch sử cận đại
c) Các thành tưu của nền văn minh Trung Hoa
Trong suốt mấy ngàn năm tồn tại và phát triển, văn minh Trung Quốc không chỉ có sức ảnh hưởng đến các nước lân cận ở Châu Á mà nó còn có đóng góp lớn cho quá trình phát triển cho nhân loại trên thế giới Người Trung Quốc rất năng động, sáng tạo đã có những phát minh lớn trong lịch sử khoa học – kĩ thuật Những phát minh này đã làm thay đổi bộ mặt thế giới trên nhiều phương diện: văn học, chiến tranh, hàng hải…
Về văn học tiêu biểu nhất là Kinh Thi, thơ Đường và tiểu thuyết Minh – Thanh Văn học
Trung Quốc bắt đầu phát triển từ thời Xuân Thu Chiến Quốc Tư tưởng Nho gia được để cao
ở thời Tây Hán Chế độ khoa cử bắt đầu xuất hiện, văn chương trở thành thước đo tài năng của các nhân tài ở thời Tùy Đường
Về sử học có hàng loạt những tác phẩm được viết bởi những tác giả lớn như Sử ký của
Tư Mã Thiên, Hán Thư của Ban Cố Từ đời Hán đến Nam Bắc Triệu ngoài Hán Thư còn có Tam quốc chí của Trần Thọ, hậu Hán thư của Phạm Diệp Bộ sử có ảnh hưởng đời sau nhất
là bộ Tư trị thông giám của Tư mã Quang Tư trị thông giám đã có sức ảnh hưởng lớn qua
đó lối viết sử theo kiểu biên niên dần được ụa chuộng Đây được xem là những di sản văn hóa quan trọng của người Trung Quốc
Về khoa học tự nhiên ở Toán học, phép tính thập phân được sử dụng sớm nhất tại đất
nước này so với thế giới Vào thời Nam Bắc Triều, không thể kể đến người có công tìm ra được số 𝜋, tính chính xác đến con số thập phân thứ 10 – đó là Tổ Xung Chi Trong khi đó, phải đến thế kỉ thứ XVI, tức là 1000 năm sau, các nhà toán học ở Đức và Hà Lan mới tìm được kết quả trên Thiên văn học ở Trung Quốc cũng được ra đời rất sớm, do đây là đất nước
có nghề nông phát triển và là cơ sở kinh tế vững chắc, người dân nơi đây sớm để ý đến việc ghi chú ngày tháng, làm lịch, dự đoán thời tiết Sau khi qua nhiều lần chỉnh sửa, lịch Mặt Trăng đã tương đối hoàn thiện với năm bình thường 12 tháng, đủ 30 ngày (thiếu 29 ngày); năm nhuận 13 tháng, 3 năm có một tháng nhuận, qua 5 năm lại có nhuận 2 lần Sự hoàn thiện này xảy ra dưới thời nhà Hạ…
Một thành tựu nữa không thể không nhắc đến đó chính là chữ viết, thành tựu này được
xem như là một cột mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của nền văn minh Trung Hoa đa dạng này
d) Sự ra đời của chữ Hán
Là một trong những ngôn ngữ ra đời sớm nhất thế giới, có rất nhiều giả thiết về sự ra đời của chữ Hán này Ra đời từ thiên niên kỉ thứ II TCN, chữ viết Trung Quốc là hệ chữ duy nhất hiện còn được sử dụng và ngày càng đổi mới phù hợp với yêu cầu cuộc sống ngày nay Theo truyền thuyết kể rằng văn tự Trung Hoa đã có mặt từ 4 – 5 ngàn năm trước do Hoàng Đế sáng lập nên Nhưng đó cũng chỉ là truyền thuyết nên không có bất kì cơ sở khoa
Trang 7học nào để khẳng định chắc chắn là sự thật Thuyết Thương Hiệt cho chữ cũng không đủ sức thuyết phục vì ta không xác định được Thương Hiệt ở đời nào do đấy cũng chỉ là truyền thuyết Chung đỉnh văn thời Hạ, truyền là khắc trên cửu đỉnh do Hạ Vũ(夏禹) đúc khi trị thủy, cũng chưa thực sự có độ tin cậy cao Thời Ân, Thương, trên các mai rùa, yếm rùa, xương thú người ta tìm thấy các lời bói được khắc từ các chữ tượng hình gọi là giáp văn Đến thời của Chu Tuyên Vương, những cổ văn từ xa xưa được đem chỉnh lý thành một thể mới gọi là Trựu văn, Trựu triện, đại triện bởi một vị quan Thái sử tên Trựu Qua những cổ vật yếm rùa, xương thú, đồ đồng có khắc chữ được tìm thấy ở An Dương (Hà Nam), chữ viết Trung Hoa được phỏng đoán ra đời muộn nhất là vào thời kỳ nhà Thương, khoảng 1800
TCN
Bản sao văn tự cổ Trung quốc trên mai rùa, yếm rùa
Chữ Hán đã nhiều lần cải tiến từ hình tượng thành phù hiệu, tách từ đồ họa sang chữ, từ nét cong hoặc nét cong không đều thành nét tròn, từ hình khối không đều thành hình khối,
từ kết cấu phức tạp đến đơn giản Không dừng lại ở đó, do nhu cầu nghiên cứu nghệ thuật, chữ Hán đã trở thành nghệ thuật biểu đạt dân tộc, thể hiện tâm tư, nguyện vọng của con người với những tác dụng tỉ mỉ và giá trị thẩm mỹ cao Thư pháp Trung Quốc thực sự thu hút sự chú ý của mọi người Chữ Hán từng trở thành “Quốc gia văn tự” đối với các nước Đông Á và Việt Nam
II Nghệ thuật thư pháp Trung Hoa
1 Nguồn gốc
Trang 8Theo lịch sử Trung Quốc, người Trung Quốc tin như vậy, vào thời nhà Tần, Lý Tư - Thừa tướng của triều đình nhà Tần Ông là người được vua Tần Thủy Hoàng giao nhiệm vụ tiến hành cải cách và thống nhất văn học Sau khi vua Tần Thủy Hoàng thôn tính hết các nước nhỏ và đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia thống nhất Vì vậy, người Trung Quốc cho rằng Lý Tư là cha đẻ của bộ môn thư pháp Trải qua các triều đại khác nhau, Trung Quốc
có rất nhiều thư pháp gia nổi tiếng Một trong số đó có thể kể đến như Vương Hy Chi thời Đông Tấn hay Tề Bạch Thạch thời nhà Thanh,
Chữ Hán được hình thành từ hệ thống ngôn ngữ Hán – Tạng, có hình thể được cấu tạo với 6 nét bút cơ bản, kiểu khối vuông từ đó lập thành một hệ thống chữ có khả năng biếu đạt
đa dạng từ các sự vật gần gũi với đời sống đến cá khái niệm trừu tượng Lối viết chữ dần được trau dồi qua các thế hệ tư duy của người cổ đại dần đạt đến sự hoàn thiện theo lối lục thư trên cơ sở lấy chữ tượng hình làm gốc Ban đầu, chữ Hán chỉ để dùng như một phương tiện trao đổi thông tin, nhưng do nhu cầu trao đổi càng nhiều, thường xuyên hơn, người Trung Quốc đã dần sáng tạo ra những lối viết thư pháp độc đáo dựa trên cơ sở kiểu khối vuông ban đầu của chúng Từ đó, loại hình nghệ thuật Thư pháp của Trung Hoa trung đại được hình thành và trở thành thú chơi, thói quen tao nhã của những người có học vị cao Hán
tự ra đời rất sớm, được cho rằng xuất hiện vào khoảng thế kỷ II – IV gồm có 5 thể chính, mỗi thể lại mang một phong cách riêng biệt
Quá trình phát triển của chữ Hán
+ Khải thư: Đây là kiểu chữ thư pháp thông dụng nhất hiện nay Đây là kiểu chữ thường được những người mới bắt đầu học chữ Hán sử dụng Khải Thư có bố cục vuông vắn, viết rất chậm và cẩn thận Khi viết bằng Khải Thư, ngòi bút thường được nâng lên khỏi mặt giấy
Trang 9Trước đời Đường, khải thư được gọi là chân thư, theo ghi chép lại, đây là thể chữ do Vương Thứ Trọng (王次仲) sáng tạo ra
+ Triện thư: Với những đường nét thanh mảnh, bố cục đơn giản, đây là loại chữ viết tồn tại với lịch sử lâu đời nhất ở Trung Quốc Triện thư gồm hai loại: Đại Triện và Tiểu Triện
Thư pháp Triện thư
+ Lệ thư: Là loại chữ cao hơn Triện thư với những nét vuông, mạnh mẽ và đơn giản Thời gian này có Trình Mạc (程邈) - một viên ngục lại ở huyện, vì mắc tội với Tần Thủy Hoàng, bị giam giữ ở ngục Vân Dương (雲陽), đã để tâm suy nghĩ trong suốt mười năm trời, thêm bớt những nét vuông tròn cho chữ đại, tiểu triện, tạo ra ba ngàn chữ lệ thư, Tần Thủy Hoàng liền dùng ông ta vào chức Ngự sử Vì loại chữ này thuận tiện cho những người tù, nô
lệ, quan ngục sử dụng nên được gọi là lệ thư (chữ lệ trong từ nô lệ)
+ Hành thư: Cuối đời Hán, Lưu Đức Thăng (劉德昇) sáng tạo ra hành thư Dưới thời nhà Ngụy Tấn là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của loại hình nghệ thuật thư pháp, trong đó thể hành thư là phát triển nhất Trong hành thư được chia làm hai thể: một là thể chân hành, lối viết rõ ràng, có quy tắc gần giống với khải thư Loại còn lại gần giống với thảo thư, lối viết
Trang 10phóng túng gọi là hành thảo Loại hình chữ viết này gần giống với chữ thường Khi viết, ngòi bút ít nhấc lên khỏi mặt giấy, có bố cục phóng khoáng, ít góc cạnh
Cửu Hoa thiếp – Dương Ngưng Thức
+ Thảo thư: Đây là kiểu chữ mang tính nghệ thuật rất cao, các nét biến tấu đầy thi vị, thanh thoát, uyển chuyển có sự liên kết với nhau Người ta kể rằng vào thời vua Trương, Du
Bá Du (杜伯 度) giỏi viết chữ, Hoàng đế họ Trương rất thích và dùng chữ thảo trong các sắc