Hội nhập trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác...13 CHƯƠNG III: HẠN CHẾ CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI..... Vì vậy, hội nhập là cần thiết và để hội
Trang 1HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA TRUYỀN THÔNG QUỐC TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
Đề tài: Hội nhập quốc tế của Việt Nam thời kỳ đổi mới
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Hải Yến
Mã sinh viên : TTQT48A1 – 1630
Giảng viên hướng dẫn : GS TS Vũ Dương Huân
Hà Nội, ngày 19 tháng 1 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: NHẬN THỨC CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1 Khái niệm 3
2 Nội hàm của hợp tác quốc tế 3
3 Các hình thức và chủ thể hội nhập quốc tế 4
CHƯƠNG II: HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
1 Quá trình phát triển quan điểm về hội nhập quốc tế 4
2 Khái quát quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam 5
CHƯƠNG III: THÀNH TỰU CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1 Hội nhập kinh tế quốc tế 8
1.1 Tổng quan 8
1.2 Kết quả cụ thể 9
2 Hội nhập về chính trị 12
3 Hội nhập quốc phòng – an ninh 12
4 Hội nhập trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và các lĩnh vực khác 13
CHƯƠNG III: HẠN CHẾ CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1 Các hạn chế 14
2 Nguyên nhân 14
3 Giải pháp trong thời kỳ đổi mới 15
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, không thể tránh khỏi mà mỗi quốc gia đều tham gia Một quốc gia không thể không tham gia xu thế chung của toàn thế giới hay đứng biệt lập Vì vậy, hội nhập là cần thiết và để hội nhập thì mỗi quốc gia phải “biết mình, biết ta”, phải hiểu rõ về chính những điểm mạnh, điểm yếu của mình cũng như đặc điểm của các quốc gia khác để đạt được tiếng nói chung trong quan điểm cũng như trong quan hệ hợp tác Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế Đây là một quá trình đã mang đến nhiều tác động và ảnh hưởng tới bản thân đất nước, cũng như quan hệ của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới
Trang 4CHƯƠNG I: NHẬN THỨC CHUNG VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1 Khái niệm
Hội nhập quốc tế là quá trình các quốc gia cùng tham gia vào một cộng đồng
để cùng nhau hoạt động, phát triển trong từng lĩnh vực nhất định Đây là một quá trình tất yếu, có nguồn gốc và lịch sử lâu dài Điều này là vì các quốc gia nếu muốn phát triển đều phải liên kết với quốc gia khác Các quốc gia tham gia hội nhập quốc tế vì lợi ích quốc gia, vì sự thịnh vượng của dân tộc mình Bên cạnh đó, các quốc gia thực hiện hội nhập quốc tế cũng thúc đẩy sự phát triển chung của nhân loại Nhìn chung, hội nhập quốc tế có ba cấp độ chính: Hội nhập toàn cầu, khu vực và song phương Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế được triển khai trên ba lĩnh vực chính: lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh và trong lĩnh vực văn hóa – xã hội nói chung 1
Bên cạnh từ “hội nhập”, trong tiếng Việt còn các thuật ngữ khác có nét nghĩa tương đồng như “hợp tác”, “liên kết”, hay “hòa nhập” Các thuật ngữ này được cho là có nguồn gốc từ “integration”, với nghĩa chung nhất là quá trình gắn kết các phần tử riêng lẻ với nhau; hợp chung các bộ phận vào một chỉnh thể và kết hợp các thành tố khác nhau lại 2
Thuật ngữ “Hội nhập” được chính thức nêu ra từ năm 1996 trong văn kiện Đại hội VIII, phần Định hướng mở rộng kinh tế đối ngoại Tới Đại hội IX,3
“chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” là một chủ trương đối ngoại lớn của Đảng ta Đại hội X tái khẳng định hủ trương này với bước phát triển cao hơn4
về phương châm triển khai và trở thành “chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế” 5
1 Trần Anh Tuấn Khái quát chung về hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay Trang thông tin điện tử
pháp luật quốc tế https://moj.gov.vn/tttp/tintuc/Pages/thuong-mai-tai-chinh.aspx?ItemID=5 Ngày truy cập: 19/1/2022
2 Đặng Đình Quý, Bàn thêm về khái niệm và nội hàm “Hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới,
2012 Truy cập đường dẫn: Bàn thêm về khái niệm và nội hàm "hội nhập quốc tế" của Việt Nam trong giai đoạn mới (tnu.edu.vn) Ngày truy cập: 19/1/2022
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2008, trang 346.
4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2008, trang 483.
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2008, trang 483.
Trang 52 Nội hàm của hợp tác quốc tế
Về nội hàm, hội nhập chính là việc chấp nhận, tham gia xây dựng và thực hiện các chuẩn mực quốc tế, bao gồm: các thể chế, luật lệ, tập quán, nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được chấp nhận rộng rãi Các chuẩn mực này có thể được hình thành từ các hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước hoặc các chuẩn mực, tập quán được đặt ra bởi các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ được các tổ chức, cá nhân trên thế giới chấp nhận rộng rãi Ví dụ, khi mới gia nhập Hiệp ước thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung trong ASEAN (CEPT), Việt Nam chưa phải tuân thủ ngay và đầy đủ các điều khoản của Hiệp ước này, do vậy Việt Nam chưa được gọi là đã hội nhập ASEAN.6
3 Các hình thức và chủ thể hội nhập quốc tế
Về hình thức, hội nhập quốc tế bao gồm các hoạt động: thúc đẩy quan hệ song phương dựa trên các chuẩn mực quốc tế chung; tham gia các tổ chức quốc tế, các cơ chế hợp tác quốc tế, xây dựng các luật lệ và chuẩn mực, thực hiện các luật lệ, chuẩn mực đó và các hoạt động chung ở phạm vi quốc tế và quốc gia Như đã nói ở trên, quá trình hội nhập diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến quốc phòng – an ninh và văn hóa cùng nhiều lĩnh vực khác Hội nhập diễn ra trên các lĩnh vực này với mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Thông thường, hội nhập bắt đầu từ kinh tế và kinh tế cũng là cơ sở vững chắc cho hội nhập trong các lĩnh vực khác Đồng thời, hội nhập trong các lĩnh vực khác cũng tạo ra môi trường thuận lợi cho hội nhập kinh tế Chủ thể tham gia hội nhập quốc tế bao gồm cả nhà nước và các chủ thể phi nhà nước, tạo ra sự đan xen trong hội nhập quốc tế Trong lĩnh vực chính trị
và quốc phòng – an ninh, chủ thế chính là nhà nước và các lực lượng chính trị Xong, ở các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa – xã hội, các chủ thể phi nhà nước như các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các công dân cũng đóng vai trò quan trọng
Chương II: HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM
6 Đặng Đình Quý, Bàn thêm về khái niệm và nội hàm “Hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới,
2012 Truy cập đường dẫn: Bàn thêm về khái niệm và nội hàm "hội nhập quốc tế" của Việt Nam trong giai đoạn mới (tnu.edu.vn) Ngày truy cập: 19/1/2022
Trang 61 Quá trình phát triển quan điểm về hội nhập quốc tế
Đảng và Nhà nước ta đã tiếp thu và phát triển quan điểm Mác – Lê-nin về hội nhập quốc tế Theo lý luận Mác, thứ nhất, sự phát triển lực lượng sản xuất là tiền đế chính tạo ra xu hướng xã hội hóa đời sống kinh tế Thứ hai, xã hội hóa kinh tế là xu hướng tất yếu, khách quan Thứ ba, xã hội hóa đời sống kinh tế
là cơ sở nền tảng xã hội hóa các lĩnh vực khác của xã hội, làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia – dân tộc và thứ tư, sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến quốc tế hóa mọi mặt đời sống xã hội dưới chủ nghĩa xã hội với bản chất tốt đẹp hơn Còn với Lê-nin, ông đã chỉ ra quốc tế hóa trong bối cảnh cũ là “tự do cạnh tranh” đã chuyển sang bối cảnh mới là chủ nghĩa “độc quyền” Bên cạnh đó, quá trình tích tụ và tập trung tư bản, việc xuất khẩu tư bản tăng lên tất yếu dẫn tới sự phân chia thế giới về mặt kinh tế giữa các tập đoàn tư bản độc quyền và hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế Các công ty xuyên quốc gia cũng có vai trò ngày càng quan trọng trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa, là lực lượng chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế Ngoài ra, điều tiết và phối hợp chính sách trên phạm vi quốc tế được tăng cường
Kế thừa các quan điểm trên, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “… không thể nào hạn chế những hoạt động hiện nay và tương lai… trong khuôn khổ dân tộc thuần túy, những hoạt động đó có muôn ngàn sợi dây liên hệ với cuộc đấu tranh chung của thế giới tiến bộ…” Theo Hồ Chí Minh, thứ nhất, hội7 nhập quốc tế phải phục vụ mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập và thống nhất Thứ hai, hội nhập quốc tế phải trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Thứ ba, hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi Thứ tư, nội lực là yếu tố quyết định thành công trong hợp tác quốc tế Thứ năm, hội nhập và đoàn kết quốc tế cần “làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết” 8
2 Khái quát quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam
7 Hồ Chí Minh, Kết hợp chặt chẽ lòng yêu nước với tinh thần quốc tế vô sản NXB Sự thật, 1976, trang 127.
8 Hồ Chí Minh, Toàn tập NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, trang 75.
Trang 7“Có thể nói quá trình hội nhập chính trị của nước ta thực tế đã bắt đầu từ khi Việt Nam trở thành thành viên Liên Hợp Quốc năm 1977”, còn hội nhập kinh
tế bắt đầu khi Việt Nam tham gia Hội đồng Tương trợ kinh tế năm 1978 Xong quá trình phát triển tư duy về hội nhập quốc tế của Đảng ta thực chất bắt đầu cùng với sự nghiệp đổi mới được Đại hội VI (1986) khởi xướng.9 Đại hội VI đã nhận định: “Một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất.” Tới năm 1991, Cương lĩnh do Đại hội VII thông qua khẳng10 định: “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc
tế hóa đời sống kinh tế thế giới là một thời cơ để phát triển” 11 Như vậy, cho đến Đại hội VII, khái niệm hội nhập chưa xuất hiện xong đã có tiền đề quan trọng để phát triển tư duy về hội nhập quốc tế là nhận thức của Đảng ta về quá trình “quốc tế hóa” Thực tế chỉ ra rằng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã bắt đầu diên ra trong thời kỳ này với việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vào tháng 10/1993
Thuật ngữ “hội nhập” lần đầu được đề cập trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (1996): “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả” Từ Đại hội IX của Đảng, Việt Nam12
đề cập đến “toàn cầu hóa kinh tế”: “Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, […] xu thế này đang bị một số nước phát triển và các tập đoàn kinh tế
tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh”
9 Đặng Đình Quý, Bàn thêm về khái niệm và nội hàm “Hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới,
2012 Truy cập đường dẫn: Bàn thêm về khái niệm và nội hàm "hội nhập quốc tế" của Việt Nam trong giai đoạn mới (tnu.edu.vn) Ngày truy cập: 19/1/2022.
10 Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, trang 27.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, trang 230
12 Đảng Cộng sản Việt Nam, tlđd, trang 342.
Trang 8Nghị quyết 07-NQ/TW (27/11/2011) đã xác định rõ 5 quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế, khái quát nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh của tình hình hội nhập quốc tế tại Việt Nam tại thời điểm đó với tầm nhìn xa trong tương lai Giữa Đại hội X và Đại hội XI chứng kiến một số thay đổi về chất trong hội nhập quốc tế, và trong số đó không thể không kể đến việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO (2007) Nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết, như Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện với Nhật Bản (JVEPA) năm 2008; Hiệp định khung về Đối tác và hợp tác toàn diện với EU (PCA) năm 2010; FTA với Chi-lê; FTA của ASEAN với các đối tác; bắt đầu đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) năm 2010 Cũng trong khoảng thời gian này, ta mở rộng hợp tác trong quốc phòng – an ninh thông qua việc tham gia một số cơ chế đối thoại
về quốc phòng Các Bộ, ngành chức năng cũng tích cực mở rộng hợp tác quốc
tế trong các lĩnh vực chuyên ngành, tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế
và khu vực Tại Đại hội XI, Đảng ta có thêm một bước tiến trong tư duy với việc chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “tích cực và chủ động hội nhập quốc tế” , đó chính là việc mở rộng phạm vi, lĩnh vực và tính chất của13 hội nhập
Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế ngày 10/4/2013 xác định mục tiêu của hội nhập quốc tế cũng nhấn mạnh vào các quan điểm chỉ đạo
Một là, chủ động hội nhập quốc tế trên cơ sở đường lối đối ngoại độc lập, tự
chủ, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì hòa bình, hợp tác và phát triển Hai là, hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn Ba là, hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị Bốn là, hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, hội nhập kinh tế là trọng tâm Năm là, quá trình vừa hợp tác và đấu tranh và nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế,
…14
13 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, website:
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xi-dang-cong-san-viet-nam-1524 , truy cập ngày 19/1/2022.
14 Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Hà Nội, 2013
Trang 9Quyết định số 40/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định mục tiêu tổng quát của hội nhập quốc tế, đồng thởi cũng đưa ra quan điểm chỉ đạo cho quá trình hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, chúng ta có Nghị quyết 06 thuộc Hội nghị Trung ương lần thứ tư về việc thực hiện hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế (5/11/2016)
Nhìn chung, từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới và mở rộng hợp tác với bên ngoài, tư duy của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế không ngừng được đổi mới và phát triển Thứ nhất, hội nhập quốc tế gắn liền với quá trình gia nhập các tổ chức quốc tế, tức là chấp nhận các luật lệ và chuẩn mực quốc
tế chung Thứ hai, hội nhập quốc tế được coi là diễn ra trên các cấp độ toàn cầu, cấp độ khu vực và ở một mức độ nào đó diễn ra song phương Thứ ba, hội nhập quốc tế khởi đầu đặt trọng tâm trong lĩnh vực kinh tế và sau đó mở rộng sang các lĩnh vực khác
CHƯƠNG III: THÀNH TỰU CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ TẠI VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1 Hội nhập kinh tế quốc tế
1.1 Tổng quan
Về hội nhập đa phương, Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức quốc tế như Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) Bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, tổ chức thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới, cùng với việc ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được thúc đẩy và đưa lên một tầm quan trọng mới Đặc biệt, một thành tựu không thể không kể đến là việc Việt Nam tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào 1/1/2007, sau 11 năm đàm phán Việt Nam hội nhập sâu rộng và toàn diện vào kinh tế thế giới
Về hội nhập khu vực, từ tháng 7 năm 1995, Việt Nam đã là thành viên của ASEAN và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) vào năm 1996 Tiếp đó, Việt Nam còn tham gia hội nghị thương đỉnh Á – Âu
Trang 10ASEM (1996) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương APEC (1998)
Về hội nhập song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn
189 quốc gia, mở rộng quan hệ thương mại với trên 240 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần
60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư cùng nhiều hiệp định khác về hợp tác văn hóa song phương với các nước Việt Nam còn thiết lập quan hệ với tất
cả các thành viên G7, có 94 cơ quan đại diện ở nước ngoài, trong đó có 68 đại
sứ quán, 22 tổng lãnh sự quán và 4 phái đoàn đại diện tại tổ chức quốc tế Đặc biệt, những năm gần đây, Việt Nam tích cực tham gia đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) Ta đã ký kết 14 FTA, trong đó đặc biệt là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP, Hiệp định Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực RCEP và Hiệp định Thương mại tư do giữa Việt Nam – EU EVFTA; đang đàm phán Hiệp định thương mại
tự do giữa Việt Nam và khối EFTA (Thụy Sĩ, Nauy, Iceland, Liechtenstein) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Israel
1.2 Kết quả cụ thể
Sau hơn 20 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực và quan trọng, thể hiện qua nhiều lĩnh vực Đầu tiên, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì được tốc độ tăng trưởng tài chính khả quan, dù bị ảnh hưởng bởi tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Các khu vực sản xuất nông nghiệp, khu vực sản xuất công nghiệp và khu vực dịch vụ mặc dù đều phải chịu những tác động tiêu cực nhất định đều đảm bảo tốc độ tăng trưởng khá ổn định Thứ hai, WTO đã làm thay đổi diện mạo khuôn khổ pháp lý, thể chế chính sách về kinh tế, thương mại, đầu tư cũng như phương thức quản lý kinh tế của Việt Nam Việt Nam đã tiến hành nhiều cải cách chính sách thương mại theo hướng ngày càng minh bạch và phù hợp hơn với các cam kết, thông lệ quốc tế, đồng thời chuyển dần từ phương thức quản lý nhà nước can thiệp hành chính sang phương thức quản lý nhà nước kiến tạo – tôn trọng quyền tự do kinh doanh, theo quy luật thị trường, từ đó
mở màn cho sự bùng nổ của khu vực doanh nghiệp tư nhân Việt Nam Bên