Lịch sử tư tưởng chính trị TƯ TƯỞNG NHÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
Trang 1chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hoá, văn học Cho nên chọn nghiên cứu đề tài “Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi”, trước hết là thể hiện niềm kính yêu của bản thân đối với danh nhân Nguyễn Trãi, muốn được học hỏi nhiều hơn và sâu hơn những tư tưởng mà ông đã cống hiến cho dân tộc.
Về lĩnh vực tư tưởng chính trị, các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau rằng tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, mà bao trùm là tư tưởng nhân dân, là sự cống hiến xuất sắc của ông vào nền tư tưởng chính trị của dân tộc Ông thông thái những nội dung tinh tuý của các tư tưởng lớn như: triết lý nhân nghĩa - thân dân của nho giáo, tư tưởng chính trị thân dân Lý - Trần,
truyền thống yêu nước, nhân ái của dân tộc… để hình thành tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi Tư tưởng nhân nghĩa có tính thực tiễn sâu sắc Nó là nhân tố quyết định làm nên chiến thắng vẻ vang, đem lại nền thái bình cho dân tộc Vì thế, tư
tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “tinh hoa của mọi thời đại”, là giá trị văn hoá tư tưởng
đáng tự hào của dân tộc ta Nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi vượt lên trên những quan niệm về đạo nhân, nghĩa của Nho giáo thuần phong kiến, đạt tới những giá trị văn hoá có tính phổ biến của nhân loại, có ý nghĩa phương pháp luận suy nghĩ
Trang 2và hành động của nhiều thế hệ người Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của mình Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn góp phần vào cuộc đấu tranh vì hoà
bình, hữu nghị của Nguyễn Trãi còn góp phần vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội Chính vì vậy, tư tưởng của Nguyễn Trãi cùng với con người ông luôn gần gũi, hiện diện với chúng ta vượt thời gian, không gian, rạng rỡ ra ngoài bờ cõi nước ta.
Chương 1
TƯ TƯỞNG NHÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
1.1 Sơ lược thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi sinh năm 1380 tại Thăng Long,
trong gia đình ông ngoại là Trần Nguyên Đán
thuộc dòng dõi tôn thất đại quý tộc nhà Trần Nguyễn Phi Khanh - cha của Nguyễn Trãi - người làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, đỗ Thái học sinh (tiến sỹ) năm 1374 dưới triều Trần nhưng không được ra làm quan do xuất thân là con nhà thường dân (theo luật lệ của nhà Trần) Năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần lập ra nhà
Hồ Nguyễn Phi Khanh ra làm quan, được Hồ Quý
Ly cử giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Hồ Cũng năm 1400, Hồ Quý Ly mở khoa thi đầu tiên, Nguyễn Trãi ra thi đỗ Thái học sinh
và được trọng dụng trong triều đình nhà Hồ.
Sau khi nhà Hồ thất bại, Nguyễn Trãi phải trốn tránh chính quyền đô hộ nhà Minh và lưu lạc
nhiều nơi trong nhiều năm Cuối cùng ông tìm gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách và giúp Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập cho đất nước Ông đã từng giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Thượng thư bộ Lại dưới thời Lê Thái Tổ, chọc Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, vì
Trang 3những mâu thuẫn trong triều đình nhà lê do cuộc khủng khoảng về thiết chế chính trị diễn ra từ thời hậu Lê Thái Tổ đến trước đời Lê Thánh Tông, gắn với các sự kiện xung đột cung đình, thanh trừng, giết hại công thần,… Nguyễn Trãi mất năm
1442, là một trong những nạn nhân của những cuộc xung đột cung đình đó dưới triều vua Lê Thái Tông Tác phẩm của Nguyễn Trãi gồm có: Quan trung từ mệnh tập, Đại cáo bình Ngô, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập, Dư địa chí,… Toàn
bộ sự nghiệp, cuộc đời và tác phẩm của Ông đều thấm nhuần tư tưởng chính trị nhân nghĩa Tư tưởng chính trị nhân nghĩa của Nguyễn Trãi -
đỉnh cao của tư tưởng dân tộc thế kỷ XV - phản ánh sự trưởng thành về tư duy lý luận Việt Nam trước yêu cầu bức xúc của sự phát triển đất nước
và vấn đề lịch sử đặt ra cho dân tộc ta vào thế kỷ XV.
1.2 Nhân dân, một nội dung lớn trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Lịch sử tư tưởng - chính trị dân tộc đã ghi nhận
sự cống hiến rất to lớn của Nguyễn Trãi Với tư tưởng nhân nghĩa của mình, Nguyễn Trãi đã góp phần nâng cao tính thực tiễn của khái niệm nhân nghĩa vốn là thứ đạo đức trừu tượng của Nho
giáo.
Là một nhà nho, hơn nữa là một đồ đệ của
“Khổng môn” nên tư tưởng của Nguyễn Trãi
thuộc về tư tưởng nho giáo Nhưng Nguyễn Trãi chỉ tiếp thu những giá trị tích cực nhất của tư tưởng nhân nghĩa của Khổng - Mạnh, những giá trị có ích cho nhân dân ông, cho dân tộc ông Đồng thời với việc vạch mặt chỉ trán quân xâm lược, Nguyễn Trãi cũng đã dồn sức say sưa và nhiệt tình vào đầu ngọn bút để ca tụng cuộc
kháng chiến vì nhân, vì nghĩa của dân tộc ta.
Trang 4Lúc ban đầu, “Quân nghĩa mới nổi, thế giặc đang cường Anh hào trong nước, cây thu chìm
sương” (Chí Linh sơn phú) Hoàn cảnh thật gian nan trăm bề Nhưng phải vượt qua tất cả để
giành lẽ sống: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới Chiến sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào”
(Bình Ngô đại cáo) Theo Nguyễn Trãi, mục đích của cuộc kháng chiến cứu nước, đánh đuổi giặc Minh của quân đội Lam Sơn là vô cùng cao đẹp:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân; Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” (Bình Ngô đại cáo) Và nguyên nhân sâu xa để quân dân Đại Việt thắng đội quân xâm lược nhà Minh là vì, theo Nguyễn Trãi “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; Lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Bình Ngô đại cáo) Thắng lợi
sẽ thuộc về những người đại chí, đại nhân, những người tham gia kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, còn thất bại là cái nghiệp khó thoát của quân bạo tàn, bất nghĩa bất nhân.
Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi không
những được Ông sử dụng làm vũ khí sắc bén
đánh đuổi quân Minh xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước, mà còn được ông khẳng định, cảnh tình cho số vua quan đầu triều Lê hiểu rằng đó là cái gốc để trị nước.
Tóm lại, tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi phản ánh sâu sắc lẽ sống và nguyện vọng sống bao đời của dân tộc ta Nội dung cơ bản của tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi là lòng yêu nước,
ý thức độc lập tự chủ, là lòng nhân ái và ước
vọng thái bình của nhân dân ta Do đó, nội dung bao trùm tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là
tư tưởng nhân dân.
1.3 Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi.
Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi có thể hiểu điều đó là những quan điểm, suy nghĩ của
Trang 5Nguyễn Trãi về vấn đề cơ bản của lợi ích người dân, là kết quả của sự vận dụng và phát triển
sáng tạo tư tưởng thân dân của nho giáo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển truyền thống yêu nước, nhân ái của dân tộc
và của tư tưởng nhân dân thời Trần Đó là tư
tưởng về độc lập tự chủ dân tộc, về chống ngoại xâm đến đời sống an vui của nhân dân…
“Dân” theo Nguyễn Trãi, là những “thương sinh” những “xích tử” những “manh lệ”.
Manh là dân cày, còn lệ là người tôi tớ, những điền nô, gia nô còn nhiều trong một chế độc thái thấp điền trang tuy suy sụp mà hãy còn sống và được nhà Minh duy trì Manh lệ là tất cả những người lao động khổ lúc bấy giờ, họ là số đông đảo nhất trong xã hội Đó là đối tượng, cần được phục
vụ, cần được “tiên ưu” không phải là công cụ để
“sử” Quan điểm về dân của Nguyễn Trãi khác thậm chí đối lập với quan điểm của nho giáo là ở chỗ đó Bở vì tư tưởng thân dân của Khổng -
Mạnh được Nguyễn Trãi tiếp thu và biến đổi trên tinh thần độc lập, nhằm phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
Nguyễn Trãi nói tới người dân trong cộng đồng dân tộc Những tư tưởng thân dân, khoan dân, huệ dân có từ trước được Nguyễn Trãi đưa lên cao hơn Nguyễn Trãi là người thấy rõ vai trò
quan trọng, sức mạnh to lớn và công sức lao khổ của muôn dân trong sự nghiệp chiến đấu giải
phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng một đất nước văn trị, thái bình Với Nguyễn Trãi, dân là gốc của đất nước, của dân tộc Giữ được gốc ấy thì giữ được nước, mất gốc thì nước mất nhà tan
“Tự cổ giai hữu tử, dân vô tín bất lập” (Xưa nay
ai cũng có chết, dân mà không tin thì nước
không thể vững được) Cao hơn nữa, Nguyễn Trãi không chỉ nhận thức về nhân dân bằng lý trí mà
Trang 6nhân dân còn là niềm băn khoăn, thao thức
không nguôi của ông, nhân dân là nỗi xót
thương, là niềm tin yêu, là niềm thôi thúc “Đêm ngày cuồn cuộn” như “nước triều đông” trong Ông Nhân dân định hướng cho toàn bộ tư tưởng
và hành động của Nguyễn Trãi.
Nội dung tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi
- Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi trước hết là
sự thông cảm với nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Nguyện vọng là những điều ước gắn với lợi ích vật chất và tinh thần của con người Xét ở cấp độ cộng đồng dân tộc thì những nguyên vọng nổi trội nhất là đất nước độc lập, tự chủ, cuộc sống được an vui, không bị áp bức Bởi thế cho nên, khi đất nước bị xâm lăng thì nhiệm vụ đánh giặc trở thành nguyện vọng tha thiết của dân để thoát khỏi vòng nước lửa.
Tuy nhiên, Nguyễn Trãi hiểu rằng mục đích thiết thân của “người dân làm lính” là không muốn
“ngọc về chính chiến” mà “bỏ cả nông tang” cho nên Ông đã chủ trường dẹp xong quân “tàn
khấu” sẻ chia nửa số quân về làm ruộng Nguyễn Trãi rất hiểu và muốn đáp ứng nguyện vọng đúng đắn của dân Với Nguyễn Trãi, chiến tranh không bao giờ là mục đích mà chỉ là phương tiện Tiến hành chiến tranh là việc bất đắc dĩ vì “điếu dân phạt tội” để giành lại độc lập dân tộc, thực thi nguyện vọng tha thiết của nhân dân: sự yên
bình Nguyễn Trãi đường hoàng tuyên bố trong Bình Ngô đại cáo: “Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân được nghỉ”.
- Nguyễn Trãi hiểu sâu sắc sức mạnh vô địch của nhân dân.
Quần chúng là người có vai trò quyết định trong mọi biến thiên của lịch sử Quần chúng là người tạo nên lịch sử Bởi vì quần chúng có sức vô địch.
Trang 7Nguyễn Trãi, từ đầu thế kỷ XV, đã nhận thức được những điều đó.
Theo Nguyễn Trãi, con đường giải phóng của
nhân dân chính là con đường nhân dân tự giải phóng mình, dựa vào sức mình Trong kháng
Minh nói chúng là từ khi triều đình Hồ Quý Ly bị Trương Phụ bắt, đặc biệt là từ khi nhà hậu Trần bị thất bại thì nước ta không còn bộ máy nhà nước, không còn quân đội chính quy, dân ta phải từng nơi tự động ứng cờ khởi nghĩa Đúng là nhân dân đánh giặc và trong quá trình khởi nghĩa, quân đội, nhà nước mới dân dần được xây dựng lại, dựa vào sức mạnh quần chúng Mà trong cuộc kháng Minh, nhân dân ta đánh giặc hăng hái và đông đảo tới mức độ chưa từng thấy từ trước đến
đó Số cuộc khởi nghĩa rất nhiều, thời gian chiến đấu dài 20 năm sự tham gia tích cực của lớp
người “Manh lệ” là điều được lịch sử xác nhận Chính Nguyễn Trãi viết: “Nêu hiệu gậy làm cờ, tụ tập bốn phương manh lệ” (Bình Ngô Đại Cáo).
Nguồn sức mạnh to lớn đó là do đâu? không gì khác hơn là do lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc và truyền thống đoàn kết dân tộc vốn được thể hiện sinh động trong những triều đại trước
đó Đoàn kết rộng rãi là một truyền thống tốt ở nước nhỏ phải đương đầu với nước lớn Nguyễn Trãi đã giương cao ngọn cờ đại nghĩa để khởi
nguồn, để tập hợp và động viên được tinh thần đoàn kết đó vào cuộc kháng chiến chống Minh Sức mạnh to lớn của nhân dân còn quyết định đến sự tồn vong của triều đại Là người đã từng chứng kiến những cơn loạn lạc, thời hậu Trần và nhà Hồ, là người đã từng tham gia lãnh đạo nhân dân chống giặc cứu nước, hơn ai hết Nguyễn Trãi hiểu biết lực lượng nhân dân là như thế nào đối với cơ nghiệp một triều vua Cho nên ông nói:
Trang 8“Mến người có nhân là dân; mà cho con sông chở thuyền là lật đổ thuyền, cũng lại là dân Giúp
người có đức là trời; Nhưng khó tin và rất hay giành lại, phải “khử bạo” Rõ ràng, Nguyễn Trãi đến khởi nghĩa Lam Sơn trước hết là vì thương dân, vì cuộc sống yên lành của dân”.
Sau này khi giặc ngoài đã yên, Nguyễn Trãi giúp vua về văn sự, vũ bị thì niềm đinh ninh nhất của ông vẫn là quan tâm xây dựng đời sống thái bình cho dân, mà theo ông, đó là “nền thái bình muôn thuở”, dân được nghỉ ngơi, khắp “chốn thôn
cùng xóm vắng” sống đời sống an vui Nhân
trình bày với vua Lê Thái Tông quan niệm của mình về một nền âm nhạc chân chính, Nguyễn Trãi đã tâu rằng:
“Ngày nay địch ra lễ nhạc chính là phải thời lắm Song không có gốc không thể đứng vững, không
có văn không thể lưu hành Hoà bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc Dám mong bệ hạ
rủ lòng yêu thương và chăm lo muôn dân Khiến cho chốn thôn cùng xóm vắng không có một
tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là giữ được cái gốc của nhạc vậy”.
Quan tâm đến đời sống của dân nên Nguyễn Trãi không ngừng quan tâm đến việc xây dựng một
xã hội được điều hành bởi bộ máy vua quan có trách nhiệm, lo lắng cho hạnh phúc của dân, lắng nghe nguyện vọng của dân “không lấy điều
muốn của một người mà cứ ép muôn ngàn người, không muốn phải nghe theo” Quan lại “trị dân phải theo cách công bằng, làm việc cần mẫn”,
“lấy việc quốc gia làm công việc của mình, lấy điều lo của dân làm điều lo thiết kỷ” Ông mược lời Lê Lợi dăn dạy Thái tử để vạch ra bổn phận của người làm vua đối với dân với nước Ông
viết:
Trang 9“Xưa kia ta gặp thời loạn lạc, dựng nghiệp khó khăn, hơn hai chục năm, mới nên nghiệp lớn Tình dân đau khổ đều được tỏ tường; đường đời gian nan, cũng đã từng trải Thế mà lúc trị dân, tình ngay đối còn có điều chưa rõ, việc nghi nan còn có chỗ chưa phân, đạo làm vua há chẳng khó lắm sao…?”.
Song song với việc ngăn ngừa và sửa trị các tệ nạn mà quan lại thường mắc phải, Nguyễn Trãi còn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ quan lại bằng việc tiến cử người tài ra giúp nước, trị dân Bởi vì, có nhiều hiền tài thì nước mới thịnh, nước có thịnh thì dân mới an Cho nên, xưa kia, Thuấn, Vũ, Thang, Văn là bậc
thánh, mà sửa nước trị dân còn nau náu, nơm nớp, tiết kiệm, siêng năng, run sợ, lo âu, giữ gìn, cung cẩn, những việc kính trời chăm dân không
hề dám khinh suất một chút nào, huống hồ là người còn kém những bậc ấy ư? ”.
Tóm lại, từ sự chiêm nghiệm các biến cố trong lịch sử dân tộc, được sống trong nhân dân và trực tiếp tham gia vào cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm, bằng nhãn quan chính trị nhạy bén, Nguyễn Trãi đã nhận thức một cách sâu sắc vai trò của nhân dân trong đời sống xã hội và trong các biến thiên của lịch sử Đó là tư tởng hết sức tiến bộ so với thời đại ông sống Nó biểu hiện rõ rệt tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi trong triết lý nhân nghĩa của ông.
- Nguyễn Trãi thực sự quan tâm đến đời sống nhân dân.
Ở Nguyễn Trãi, ta thấy hình như lúc nào, chỗ nào cũng thấy có nhân dân Ngay từ khi còn ngồi đọc sách, Nguyễn Trãi đã nhận thấy là phải quan tâm đến đời sống nhân dân:
Đọc sách thì đòi nghĩa sách
Đem dân mạ nỡ mất lòng dân
Trang 10(Bảo kính cảnh giới - Bài 57)
Dưới ách đô hộ bạo tàn của giặc Minh, đời sống với bao nỗi thống khổ của nhân dân được
Nguyễn Trãi ghi lại với bao niềm cảm thống nỗi căm giận mãnh liệt.
Nướng dẫn đên trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Không thể “dung tha”, không cam “chịu được” nên Nguyễn Trãi cùng nhân dân đứng lên chống lại với tinh thần quyết tâm lý tưởng “an tâm”
An dân là hoài bão luôn được Nguyễn Trãi ấp ủ Ông nhận thức sâu sắc rằng dân muốn an thì
nước phải có độc lập Nước bị mất độc lập thì phải đấu tranh.
Quan tâm đến đời sống nhân dân, Nguyễn Trãi không quên xây dựng một nhà nước vững mạnh,
có kỷ cương, pháp luật nhưng đồng thời là một nhà nước “chân chính”.
Nhà nước có kỷ cương, phép nước để, trên thì ngăn ngừa quan lại nhũng nhiễu dân, dưới thì trừng trị điều ác, để khỏi phương hại đến đời
sống nhân dân Nhưng không vì vậy mà biến
thành một nhà nước hà khắc với dân Nguyễn Trãi chủ trương khoan dân, giáo hoá dân hơn là lạm dụng hình phạt Nhà nước phải thực hiện “nhân chính”, xây dựng pháp luật và chế độ trên cơ sở thương yêu nhân dân Mọi chủ trương, đường lối, chính sách, mọi quan hệ đối xử của triều đình đều phải căn cứ lòng dân, bởi vì bất kỳ công việc nào của triều đình cũng có quan hệ đến dân, tác động đến dân; đó có thể là nỗi vui mừng, niềm oán giận, có thể là sự ủng hộ hoặc chống đối
Lòng dân ủng hộ thì thực hiện, không ủng hộ thì huỷ bỏ, vì theo ý mình mà ức lòng người, tất đến trăm năm oán giận và thoả nhân vọng thì quốc gia mới được yên vững lâu dài.
Trang 11Những quan điểm trên của Nguyễn Trãi được
triều đình nhà Lê quan tâm thực hiện Khi đất nước hoà bình, độc lập và bước sang thời kỳ xây dựng, triều đình nhà Lê tiến hành xây dựng đất nước, ổn định đời sống nhân dân mà trước hết là tập trung sản xuất nông nghiệp Có thể nói,
chính sách cầm quyền của triều Lê sơ đều mang dấu ấn của tư tưởng nhân dân mà Nguyễn Trãi hằng theo đuổi Một hệ thống chính trị tiến bộ và
có quan tâm thực sự đến đời sống nhân dân
được thực thi, như: chăm lo tu bổ đê điều, bảo vệ sức kéo, giảm tô thuế cho nhân dân những khi mất mùa đói kém, tổ chức các nghi lễ tôn giáo mang ý nghĩa nông nghiệp mà có khi chính nhà vua là người chủ trì (lễ tịch điền), lập các đồn
điền, ban hành các chiếu khuyến nông nhằm
phục hoá ruộng bỏ hoang, tịch thu ruộng đất của những kẻ làm tay sai cho giặc để chia cho những người đóng góp công sức và cuộc kháng chiến Nhờ đó, nhân dân lao động được có ruộng, họ hăng hái sản xuất, tạo nhiều của cải cho gia đình
và xã hội Sự ấm no trong làng xã trở thành phổ biến Dương Bá Cung người đời sau, đã đánh giá: “Xem như ông (Nguyễn Trãi) lấy nhân nghĩa làm chỗ để đứng, lấy hoà bình làm gốc của nhạc, được vua Thái Tông khen ngợi, nghe theo rồi đều đem ra thực hành, cho nên văn chương và chế độ nhiều điều mới mẻ rõ ràng, đáng ghi chép lại Khoảng niên hiệu Thiệu Bình (1434 - 1439) và Đại Bảo (1440 - 1442) trong nước giàu mạnh, người phương xa sợ uy, mến đức đều đến tỏ lòng thành thực để xem cảnh tượng thái bình Có thể nói Nguyễn Trãi không để phụ cái trách vọng đời bấy giờ”.
Nguyễn Trãi quan tâm đến đời sống của nhân dân không vì sự ban ơn chiếu cố, hoặc để lấy
lòng dân mưu đồ sự nghiệp đế vương mà là thực
Trang 12sự thương dân, quyết tâm phục vụ dân, đem lại lợi ích cho dân.
- Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi còn thể hiện ở lòng quyết tâm phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho dân.
Tấm lòng của Nguyễn Trãi là tấm lòng yêu nước, thương dân, là đứng về phía nhân dân, vì nhân dân mà làm việc Trong hầu hết các tác phẩm của mình, Nguyễn Trãi nói rất nhiều và rất tha thiết, rất chân thành về người dân Trước Nguyễn Trãi
và sau Nguyễn Trãi hàng mấy trăm năm không thể thấy được đâu người dân được chú ý nhiều và
ân cần nhiều đến thế Chưa dám nói rằng trong học thuyết và văn chương Nguyễn Trãi, người dân chiếm vị trí trung tâm, song có thể quả
quyết rằng người dân chiếm vị trí trọng yếu.
Với tấm lòng ấy, Nguyễn Trãi luôn luôn nghĩ đến trách nhiệm của mình là phải phục vụ nhân dân, làm những việc khả dĩ đem lại lợi ích cho nhân dân ông tâm sự.
Quốc phú binh cường chăng có chước
Bằng tôi nào thửa ích chưng dân
(Trần tình - Bài1)
Trước khi tìm đến với Lê Lợi, Nguyễn Trãi hướng
về nhân dân bằng sự quyết tâm lựa chọn đối
tượng để phục vụ Ta thấy Nguyễn Trãi nói nhiều
về chữ Trung của Nho giáo, nhưng thái độ lựa chọn đối tượng để phục vụ của ông không phải là
“quân” mà lại là dân Nguyễn Trãi trung với dân, với nước chứ không trung với triều đại Chính vì thế, ta hiểu tại sao người cháu ngoại của đại tư
đồ Trần Nguyên Đán và là vị quan to triều Hồ lại không tham dự mọi cuộc khởi nghĩa để khôi phục nhà Trần hay nhà Hồ Ngược lại, còn phê phán gay gắt chính sách cai trị thời mạt Trần và triều Hồ.
Trang 13Suốt đời ước mong phục vụ lợi ích của dân, tấm lòng của Nguyễn Trãi dành cho dân thật sâu
nặng Tấm lòng ấy chắc chắn được tiếp nối từ
truyền thống gia đình Trần Nguyên Đán - cụ
ngoại Nguyễn Trãi chứng kiến tình cảnh dân bị mất mùa, đói kém, cụ xót xa, xem như đó là lỗi của mình đối với dân, lời thơ là lời tâm sự nghẹn ngào.
Tam vạn quyền thư vô dụng xứ
Bách đầu không phụ ái dân tâm
(Đọc sách triệu trang mà bất lực,
Bạc đầu xin phụ nỗi thương dân)
Đồng thời, tình yêu nhân dân của Nguyễn Trãi còn bắt nguồn từ tình yêu quê hương, tình gia đình.
Thật vật, qua thơ của Nguyễn Trãi, ta thấy ở ông
có một niềm tin tha thiết với quê hương, với bà con thân thuộc ở quê nhà Thời còn giặc Minh, nhiều năm ông phải lẩn trốn khắp nơi, xa nhà, xa
bà con thân thuộc với bao nỗi buồn rầu Đêm thu
xa nhà, bên ngọn đèn khuya, ông day dứt: “Gió thu, lá thu gợi tình lữ thứ Đêm mưa, bên ngọn đèn leo lét, hồn mộng cứ vẩn vơ nơi đất khách” (Đêm thu đất khách cảm hoài).
Một con người nặng tình với bà con, với gia đình, với quê hương đến thế thì chắc chắn cũng là
người yêu dân, yêu nước tha thiết.
Từ những điều phân tích trên, có thể đi đến kết luận rằng, tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi thực chất là tư tưởng yêu nước thương dân, tất
cả vì cuộc sống của dân Tư tưởng này được hình thành từ truyền thống gia đình và trong quá
trình Nguyễn Trãi cùng dân chống giặc Tư tưởng yêu nước thương dân,vì lợi ích của dân là sự biểu hiện sinh động nhất, sâu sắc nhất của tư tưởng chính trị Việt Nam truyền thống “lấy dân làm
gốc” trong một nền chính trị vì con người, cho
Trang 14con người, mang nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực của xã hội mà dân tộc ta đã đạt với vào thế kỷ XV Nguyễn Trãi như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã
ca ngợi, “là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” Tư tưởng nhân nghĩa, tư tưởng nhân dân: vì dân, thương dân, quý trọng dân, tin dân của ông là tinh hoa của tư tưởng chính trị Đại Việt Với tư tưởng nhân dân, Nguyễn Trãi đã
có sự đóng góp thật xuất sắc vào kho tàng tư tưởng chính trị của dân tộc Nguyễn Trãi xứng đáng được tôn vinh, xứng đáng được chúng ta
“hiểu biết, học hỏi… hơn nữa” (Phạm Văn Đồng) Chương 2
TƯ TƯỞNG NHÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC TA
Đã qua hơn năm thế kỷ, một thời gian dài đủ để khẳng định giá trị của tư tưởng Nguyễn Trãi
Ngày nay, tư tưởng của ông được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả Họ tìm hiểu tư tưởng của ông ở nhiều khía cạnh khác nhau và có những khẳng định rất quan trọng Người ta ngày càng hiểu thêm về Nguyễn Trãi nhưng vẫn còn nhiều điều ở ông cần được tìm hiểu, khám phá và kết luận Tư tưởng nhân dân của ông cũng vậy.
Song tìm hiểu kỹ các đường lối, chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, có thể nhận thấy rằng
tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi đã biến thái
và hoà nhập vào các đường lối, chủ trương của Đảng một cách tự nhiên.
Sự nghiệp đổi mới Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là toàn diện, bao gồm tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Trong phạm vi tiểu luận này, chỉ xin được xem xét ở ba mặt Đó là: Đảng và Nhà nước quan tâm đến nguyện vọng của nhân dân; quan tâm đến việc xây dựng đời sống dân chủ và phát
Trang 15triển kinh tế gắn liền với công bằng xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là “công bộc” của dân.
2.1 Quan tâm đến nguyện vọng của dân.
Nguyện vọng của dân, tuỳ thời đại, tuỳ thời kỳ
mà có những nội dung cụ thể khác nhau Song, tựu trung là được thoả mãn về vật chất và tinh thần ở thời đại Nguyễn Trãi, đó là đất nước “Thái bình muôn thuở”, đời sống “giàu đủ” Trong
cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,
nguyện vọng của dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu cụ thể: ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống tự do, hạnh phúc Vì
“nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân tốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.
Phát triển tư tưởng của người, ngày nay, Đảng ta khẳng định: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta không có mục tiêu nào khác ngoài việc thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh; dân tộc độc lập, nhân dân tự do,
ấm no, hạnh phúc Đó cũng chính là nguyện vọng của nhân dân ta.
Cụ thể là nhân dân được đảm bảo các lợi ích.
Dân sinh được cải thiện, tức là người dân và cả cộng đồng dân cư được nâng cao đời sống vật chất bao gồm: ăn, mặc, ở, điều kiện học hành, đi lại bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, môi trường sống Dân trí được nâng cao, tức là nhân dân ai cũng được học hành, được nâng cao trình độ văn hoá, khoa học - kỹ thuật; được hưởng thụ văn hoá, nghệ thuật, thông tin, được chăm lo lợi ích xã hội, y tế, thể thao, du lịch, được chăm lo lợi ích tâm linh, thực hiện tự do tín ngưỡng.
Được thực hiện quyền dân chủ thông qua nhà nước, các đoàn thể của mình và làm chủ trực tiếp.
Trang 16Trước hết, cần khẳng định mục tiêu của công tác dân nguyện của Đảng chính là mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam Đó là xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó, xác định
“công tác dân nguyện” nên được thể hiện theo các giải pháp sau:
Việc hàng đầu là tổ chức Đảng và chính quyền có quan điểm đúng đắn về “công tác dân nguyện” Đảng phải đề ra được những Nghị quyết về công tác này Có nghị quyết, Nhà nước nhanh chóng thể chế hoá và cụ thể hoá các Nghị quyết đó
thành luật, hoặc thành các văn bản pháp quy, tạo điều kiện thuật lợi về mọi mặt cho nhân dân bày
tỏ nguyện vọng của mình.
Tăng cường giáo dục cán bộ, đảng viên có nhận thức đúng đắn về “công tác dân nguyện” và tự giác, tự nguyện thực hiện; giáo dục họ không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, nghiệp vụ, nâng cao đạo đức phục vụ nhân dân Kiên quyết
xử lý những thái độ, hành vi của cán bộ công chức nhà nước ức hiếp cản trở, trù úm, trục lợi,
vô trách nhiệm… đối với việc dân bày tỏ nguyện vọng.
Phải xác định nhiệm vụ “công tác dân nguyện” là nhiệm vụ quan trọng trong mỗi tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể.
Coi trọng việc lãnh đạo và tổ chức thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân theo quy trình “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” bằng các biện pháp, công khai hoá các chủ trương, chính sách, quyết định của Đảng, Nhà nước, đoàn thể,
tổ chức có chất lượng các cuộc họp dân, các cuộc đại biểu tiếp xúc cử tri, các cuộc họp của Hội
đồng nhân dân các cấp và cuộc họp dân, các
cuộc đại biểu tiếp xúc cử tri, các cuộc họp Hội
Trang 17đồng của các kênh thông tin đại chúng Tạo điều kiện hết sức thuận lợi về vật chất, văn hoá, pháp lý… để dân bày tỏ, đủ và thường xuyên nguyện vọng của mình.
Có kế hoạch về tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ làm “công tác dân nguyện”
và có chế độ đãi ngộ thoả đáng.
Chăm lo xây dựng và kiện toàn Ban dân vận từ trung ương đến địa phương vì đó là tổ chức có nhiều điều kiện để gần gũi dân, vận động dân về nhiều mặt.
Tóm lại, “Công tác dân nguyện” có vai trò đặc biệt quan trọng Nó quy sự an nguy của chế độ
ta Nó biến các nguyện vọng và ý chí của nhân dân thành sức mạnh vật chất nhằm thực hiện
chiến thắng lợi công cuộc đổi mới của đất nước
Vì vậy, “Công tác dân nguyện” phải được đặc biệt quan tâm, phải được quán triệt trong tất cả chủ trương, đường lối của Đảng, trong hoạt động quản lý nhà nước, trong hoạt động của đoàn thể
và trong sinh hoạt chính trị của người.
2.2 Quan tâm đến xây dựng đời sống dân chủ và phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội.
- Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Dân chủ, theo cách hiểu của chúng ta là: dân là chủ (vị thế), dân làm chủ (hành động) Trong
quan hệ dân chủ thì người dân là chủ và làm chủ đất nước, làm chủ chế độ xã hội, làm chủ vận
mệnh của mình.
Trong cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ” và
“Toàn bộ tổ chức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới và nhằm xây
dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội
Trang 18chủ nghĩa, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân
dân”.
Nền dân chủ mà nước ta xây dựng là nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa được thể chế hoá thành chế độ làm chủ của người lao động Trong chế độ đó, mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân lao động Nhân dân làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, làm chủ thiên nhiên và làm chủ bản thân Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình dưới hai hình thức: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, làm chủ bằng nhà nước của dân, do dân và vì
dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân,
“quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử” (C.Mác) Khi dân không làm chủ và không được làm chủ thì không thể có và không thể hiện được bất cứ cuộc cách mạng xã hội nào.
Dân chủ, ngày nay trở thành quyền và nhu cầu của nhân dân Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm xây dựng và thực thi dân chủ Tuy nhiên, hiện nay vấn đề thực thi dân chủ ở nước ta đang tồn tại những khuyết điểm, yếu kém, cần được khắc phục Đó là:
Trình độ làm chủ cả trong Đảng và trong dân còn nhiều hạn chế, nhiều khó khăn và là một trong những yếu kém cần được tập trung khắc phục Trước hết, cán bộ Đảng và cán bộ chính quyền phải thực sự là đại diện cho nguyện vọng và ý chí của nhân dân, thực sự là công bộc của dân, lo trước dân, hướng sau dân, nếu không thì:
“Chính phủ không làm tròn sứ mệnh của mình là phục vụ nhân dân thì dân có quyền phế bỏ Chính phủ đi” (Hồ Chí Minh).
Bảo đảm trên thực tế mọi quyền lực của nhân dân là thống nhất Những công việc hệ trong có liên quan đến đời sống của dân phải do nhân dân
Trang 19quyết định bằng các hình thức thích hợp và bình đẳng Tạo cơ hội cho mọi người dân đều có điều kiện làm chủ bản thân, làm chủ nhà nước và làm chủ xã hội.
Đảng và Nhà nước, một mặt phải bằng mọi cách tạo năng lực làm chủ cho nhân dân (ý thức dân chủ và khả năng làm chủ, hiểu biết sâu sắc luật pháp để làm chủ một cách có hiệu quả…) Mặt khác, Đảng và Nhà nước phải thực sự tạo điều kiện cho nhân dân làm chủ thông qua Hiến pháp, pháp luật, qua hoạt động của chính quyền, của Đảng, các tổ chức đại diện và bằng cách trực tiếp
đề xuất ý kiến đến các tổ chức năng.
Nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng là điều kiện quyết định nhằm đảm bảo và phát huy quyền làm chủ trong xã hội Tuy nhiên cần tránh hai thái cực, hoặc tập trung để trở thành tập trung quyền lực cho một người, hoặc dân chủ quá lớn.
Cần coi trọng hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị trong xã hội Thực hiện đúng đắn vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị là yếu tố quyết định hàng đầu trong việc thực thi quyền làm chủ của nhân dân.
Phát huy năng lực quản lý Nhà nước một cách khoa học trên mọi mặt của đời sống xã hội chính
là hạn chế được những kẽ hỡ sai lầm dẫn đến tiêu cực.
Nâng cao vai trò của hệ thống của tổ chức chính trị - xã hội Đổi mới hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội Vai trò, quyền hạn của các tổ chức này phải được Hiến pháp, pháp luật quy định và có quy chế thực hiện trong thực tế.
Hoàn thiện và thực thi nghiêm pháp luật, pháp chế để đảm bảo tự do dân chủ trong toàn xã hội Pháp luật, pháp chế là công cụ để nhân dân thực thi dân chủ Pháp luật quy định cụ thể công dân
Trang 20được làm gì và không được làm gì, pháp chế tạo điều kiện cho công dân thực hiện tối đa quyền công dân Pháp luật và pháp chế phải đảm bảo sinh mệnh chính trị cho nhân dân làm chủ.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của các cơ quan, đơn vị Tổ chức thanh tra phải năng động, phải là cơ quan độc lập có đủ quyền và đủ mạnh, giải quyết
nhanh chóng các hiện tượng có vấn đề.
Thực hiện dân chủ là nguyên tắc chung và bao trùm của chế độ ta Dân chủ phải được thực hiện
từ trung ương đến địa phương, ở tất cả các
ngành và trong toàn xã hội Trong đó, thực hiện dân chủ ở cấp sơ là giải pháp hữu hiệu nhất đối với việc phát huy dân chủ trong tình hình thực thi dân chủ hiện nay ở nước ta Do đó, mỗi cơ sở cần tìm ra những nội dung, hình thức, biện pháp thực hiện dân chủ hợp pháp với tình hình, đặc biệt của địa phương và trong mối quan chung với
cả nước Nội dung của việc thực hiện dân chủ ở
cơ sở cũng không ngoài việc làm sao cho người dân thực sự là người chủ ở đơn vị cơ sở.
Tóm lại, dân chủ ở chế độ ta là trình độ phát triển cao, là hiện thực hoá ước mơ từ trình độ “dân chủ hồn nhiên” đến trình độ dân chủ có ý thức của nhân dân Nó là bản chất của chế độ ta, vừa
là mục tiêu vừa là hành động của cách mạng
Dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam, chúng ta quyết tâm xây dựng nền dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn liền với công bằng xã hội, chống áp lực bất công, được thể chế hoá
bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm.
- Phát triển gắn với công bằng xã hội.
Nói công bằng xã hội không có nghĩa là một xã hội cào bằng và không chỉ công bằng về lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế trong phân phối, mà còn đòi hỏi công bằng về chính trị, về pháp luật, về
Trang 21tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, về tự do dân chủ và sự bình đẳng về cơ hội sản xuất, kinh doanh được tự do hành nghề, mà nghề đó không
bị pháp luật cấm Cụ thể hơn, trong xã hội ta hiện nay, có một số người phải gánh chịu những rủi
rõ, những điều không may mắn của tạo hoá như tật nguyền, cô đơn, cơ nhỡ… xã hội có chính
sách nhân đạo đối với họ Mặt khác, đất nước ta
do vừa mới trải qua cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm, nên còn các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người có công với cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng… Với đạo lý
“uống nước nhớ nguồn”, xã hội ta phải đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng này Những điều đó cho thấy sự tăng trưởng gắn với công bằng xã hội càng có ý nghĩa hơn đối với
xã hội chúng ta.
Đảng ta quan niệm rằng giữa tăng trưởng kinh tế
và công bằng xã hội vừa có mối quan hệ thống nhất vừa có mâu thuẫn với nhau Sự mâu thuẫn
đó thể hiện ở chỗ; tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc thu hút, phân bổ có hiệu quả các nguồn lực kinh tế Nhu cầu thu hút các nguồn lực sẽ tác động nghịch chiều với việc chăm lo cho các vấn
đề thuộc xã hội, dân sinh Thậm chí, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là trong nền kinh tế thị
trường, tăng trưởng kinh tế lại khoét sâu thêm những bất công xã hội Song, nếu chỉ thiên về công bằng xã hội, không chú ý đến những nhân
tố của tăng trưởng kinh tế, thì xảy ra tình trạng công bằng, bình quân Như vậy sẽ triệt tiêu động lực kinh tế, lại còn bị phân tán các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sao cho vừa đạt tăng trưởng kinh tế vừa có sự công bằng
xã hội Đó là hai mục tiêu phải đạt tới.
2.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự
là công bộc của dân.
Trang 22Trong điều kiện hiện nay, đất nước ta xây dựng
và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cán bộ đảng viên sống
và làm việc trong môi trường mới, thường xuyên chịu sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường thì lối sống, đạo đức, phẩm chất của cán bộ, đảng viên càng phải được đặc biệt quan tâm Những biểu hiện yếu kém về đạo đức của cán bộ, đảng viên hiện nay là đáng báo động, như Đại hội Đảng lần thứ IX đánh giá:
“Tình trạng tham nhũng và duy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và giảm lòng tin trong nhân dân”.
Trước hiện trạng đó, vấn đề giáo dục, bồi dưỡng nhằm nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên đang là vấn đề quan trọng và cấp bách Đảng ta đã đề ra các giải pháp và nhấn mạnh phải thực hiện đồng bộ các giải pháp về tổ chức và các giải pháp cá nhân.
Về giải pháp tổ chức, trước hết phải quán triệt những nội dung đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên Đó là trung với nước, với
đảng, với lý tưởng cách mạng, hiếu với dân; có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng; lao động gương mẫu, sáng tạo, đạt chất lượng và hiệu quả cao; thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc; thường xuyên nỗ lực học tập cầu tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn
sự đoàn kết; trau dồi chủ nghĩa tập thể, chống chủ nghĩa cá nhân; trung thành với chủ nghĩa đế quốc của giai cấp công nhân.
Bằng biện pháp tổ chức, Đảng và chính quyền các cấp phải thực hiện đồng bộ các hình thức; nêu gương sáng các cán bộ; đảng viên tốt, kết hợp
Trang 23chặt chẽ giữa xây dựng và chống, lấy xây làm
chính, cụ thể hoá nguyên tắc tập trung dân chủ
để đảm bảo phát huy tối đa tính dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng; phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cán bộ, đảng viên; xây dựng các chức danh cán bộ, xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý; xử nghiêm minh và kịp thời cán bộ thoái hoá, biến chất, nhũng nhiễu dân; thực hiện dân chủ và
công khai trong hoạt động của Đảng, Nhà nước
và các tổ chức quần chúng, có kế hoạch cụ thể buộc mỗi chi bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng và nêu gương đạo đức cách mạng.
Bên cạnh những biện pháp về tổ chức, mỗi cán
bộ đảng viên phải có kế hoạch tự rèn luyện phẩm chất đạo đức của mình Mỗi cán bộ, đảng viên phải có kế hoạch tự rèn luyện phẩm chất đạo của mình Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình
nghiêm túc chấp hành điều lệ, quy định sinh hoạt Đảng, pháp luật của Nhà nước, dù ở bất kỳ cương
vị nào; phải tích cực học tập để nâng cao trình độ nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm mới; phải trung thực, thẳng thắn, thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình.
Hiện nay, qua các hành vi tiêu cực mà một bộ phận cán bộ, đảng viên gây ra, hình ảnh người cán bộ cách mạng không phải là không bị méo
mó trong mắt nhân dân Đảng và Nhà nước và mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực phấn đấu hơn nữa để lấy lại hình ảnh người cán bộ, đảng viên tận tuỵ, hy sinh vì lợi ích của nhân dân, được dân mến, dân tin, dân yêu Có như vậy đường lối chủ trương, chính sách của Đảng mới được thực hiện hoá trong cuộc sống mà không bị “cản trở”, sức chiến đấu và uy tín của Đảng mới được nâng cao, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mới mau chóng thành công.
Trang 24Tóm lại, việc quan tâm đến nguyện vọng của
nhân dân, quan tâm đến việc xây dựng đời sống dân chủ và phát triển kinh tế gắn với công bằng
xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực
sự là “công bộc” của dân là những vấn đề quan trọng, vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là nhiệm vụ lâu dài của Đảng ta và nhân dân ta Chúng ta
đảm bảo cho sự hưng thịnh của đất nước, sự
vững trãi của chế độ Những vấn đề này không phải là mới, dưới quan điểm và màu sắc phong kiến, chúng đã được Nguyễn Trãi định hình trong
hệ thống tư tưởng - chính trị của mình và được cụ thể hoá trong thực tiễn đấu tranh giữ nước và dựng nước của nhân dân ta Lịch sử của một dân tộc thì không bao giờ lặp lại trạng thái đã qua nhưng lịch sử của một dân tộc thì không bao giơ đứt đoạn chính là vì vậy.
đã góp phần xuất sắc vào nền văn hiến đó Tư tưởng nhân nghĩa, mà nội dung bao trùm là tư tưởng nhân dân, đã tiếp biến những giá trị tích cực của triết lý Nho giáo, nhân ái bao dung của dân tộc; đồng thời, được tích luỹ từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của bản thân Nguyễn Trãi.
Tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi trở thành tư tưởng chỉ đạo cho đường lối cứu nước của chủ nghĩa Lam Sơn, của nhân dân ta, nó quyết định tính đúng đắn của đường lối và là nhân tố quyết định sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập, tự chủ cho dân tộc.
Trang 25Vì vậy, Nguyễn Trãi xứng đáng được tôn vinh là nhà tư tưởng, nhà chính trị “tầm cỡ kiệt xuất” (Lê Trí Viễn) là “khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc” (Phạm Văn Đồng).
Cốt lõi của tư tưởng nhân dân Nguyễn Trãi là
nguyện vọng của dân hoà làm một với lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi Nguyện vọng của con người tuy có thay đổi theo thời gian và không gian nhưng tựu trung là vì hạnh phúc của con người Xét theo nghĩa này, giá trị tư tưởng nhân dân của Nguyễn Trãi luôn luôn toả sáng trong nền tư tưởng chính trị Việt Nam trong thời
kỳ của Đảng Nó hoà nhập, được biến đổi và phát triển thành tư tưởng “thân dân”, “đức trí” của
Hồ Chí Minh ở dạng mới, nó được cụ thể hoá
thành đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng ta hiện nay Đó là vấn đề phải luôn luôn đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân; vấn
đề quan tâm thực thi dân chủ trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động, xem đó là nguyên tắc đồng thời là động lực phát triển kinh tế, thực hiện công bằng
xã hội; vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên vừa “hồng” vừa “chuyên”, thực sự là “công bộc” của dân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 GS TS Trần Văn Bính (chủ biên), Giáo trình lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
2 PGS.TS Trần Văn Chử (chủ biên), Giáo trình kinh tế học phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
3 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2001.
Trang 264 Phạm Văn Đồng, Bài viết nhân kỷ niệm 520
năm ngày Nguyễn Trãi mất, Báo nhân dân số ra ngày 19 - 9 - 1962.
5 Võ Nguyên Giáp, Bài viết văn lễ kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi (1380 - 1980).
6 Mai Quốc Liên (chủ biên), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 1, Nxb Văn học, 1999.
7 Mai Quốc Liên (chủ biên), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 2, Nxb Văn học, 1999.
8 Mai Quốc Liên (chủ biên), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 3, Nxb Văn học, 1999.
9 PGS.TS Lê Hữu Nghĩa, Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
10 PGS.TS Nguyễn Phú Trọng (chủ biên), Giáo trình lịch sử Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
11 Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Đại cương lịch
sử Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, 2002.
12 Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn), Nguyễn Trãi
16 TS Nguyễn Văn Hoài, Tìm hiều tư tưởng
chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
17 Tập thể tác giả, Giáo trình lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
18 Tập thể tác giả, Từ điển triết học (bản tiếng việt), Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1986.