Trong tất cả các lĩnh vực đãtrở thành nội dung của công cuộc cải cách cuối thế kỷ XV mà Lê Thánh Tông đã tiến hành, cải cách nền hành chính quốc gia được xem là nội dung nòngcốt bởi nó c
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam là quá trình đấu tranh thay thế đi lên
từ thấp đến cao các nấc thang tư tưởng, đó là sự phản ánh trực tiếp cuộc đấutranh chính trị trên lĩnh vực tư tưởng lý luận của dân tộc Việt Nam Tư tưởngchính trị của Lê Thánh Tông là một trong những nội dung không thể thiếutrong quá trình học tập cũng như nghiên cứu về lịch sử tư tưởng chính trị ViệtNam Lê Thánh Tông nổi tiếng là vị vua thông thái trong lịch sử dân tộc Thờiông trị vì là giai đoạn phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến Trung Ươngtập quyền Điều này không phải ngẫu nhiên mà có, trong suốt 38 năm trị vì,
Lê Thánh Tông đã có hệ thống những tư tưởng về cách tân đất nước Vàkhông chỉ dừng lại ở lý luận , Lê Thánh Tông đã hiện thực hoá đựơc những tưtưởng ấy, đem lại sự cường thịnh cho đất nước Trong tất cả các lĩnh vực đãtrở thành nội dung của công cuộc cải cách cuối thế kỷ XV mà Lê Thánh Tông
đã tiến hành, cải cách nền hành chính quốc gia được xem là nội dung nòngcốt bởi nó có sự chi phối đến tất cả các nội dung còn lại Bộ máy hành chínhdưới triều Lê Thánh Tông đã được khôi phục và trở thành bộ máy điều hành
có cơ cấu tổ chức hoàn chỉnh hơn tất cả các bộ máy quản lý của các thời đạitrước Nó gọn nhẹ nhưng có hiệu lực cao Cùng với việc cải tiến tổ chức bộmáy Lê Thánh Tông đã đặt trọng tâm vào cải cách con người là nhân tố quyếtđịnh thành công của cải cách hành chính nói riêng, của mọi hoạt động của conngười nói chung Công cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông trởthành “ Một cuộc cải cách sâu sắc nhất, thành công nhất trong lịch sử ViệtNam” (1)
Cuộc cải cách hành chính hiện nay do Đảng và Nhà nước ta thực hiệnđang trở thành một vấn đề thời sự, thu hút sự quan tâm của các thành viêntrong xã hội và nó không thể không kế thừa những di sản tích cực của các
cuộc cải cách hành chính trước kia Vì vậy, tác giả chọn đề tài "Tư tưởng
( Văn Tạo: “Mười cuộc cải cách đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam”- NXB Đại học sư phạm Hà Nội,5/2006.
(2)
Trang 2chính trị của Lê Thánh Tông về cải cách hành chính, những giá trị và hạn chế" nhằm làm nổi bật những tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông trong
lĩnh vực cải cách hành chính, qua đó rút ra những giá trị và hạn chế của tưtưởng đã nêu Từ những nghiên cứu cụ thể đó mà chúng ta có thể chọn lọc kếthừa và phát huy những tư tưởng tiến bộ để vận dụng vào công cuộc cải cáchhành chính hiện nay của đất nước
II Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tài liệu viết về Lê Thánh Tông cũng như công cuộc cải cách hànhchính của ông không nhiều, có thể dẫn ra một số tài liệu sau: “ Đại Việt sử kýtoàn thư”, Tập 2 ( NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2004); Tài liệu “ ViệtNam sử lược” (NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh , 2005); Tác phẩm “LêThánh Tông vị vua anh minh, nhà cách tân xuất sắc” ( NXB Quân đội nhândân- Hà Nội, 1997) Các tác phẩm này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu vềhoàn cảnh lịch sử, thân thế của Lê Thánh Tông cũng như cuộc cải cách đấtnứơc một cách toàn diện dưới triều Lê Thánh Tông chứ chưa đi sâu vàonghiên cứu những tư tưởng chính trị của ông trong công cuộc cải cách hànhchính
III Mục tiêu (nhiệm vụ) của đề tài
Những tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông đã có một số công trìnhnghiên cứu Trong đề tài này, tác giả đi sâu vào tìm hiểu về tư tưởng của LêThánh Tông trong công cuộc cải cách hành chính trước hết là để học tập vàhiểu rõ hơn về tư tưởng của một vị vua anh minh của dân tộc vào cuối thế kỷ
XV Bên cạnh đó, khi xây dựng đề tài này tác giả rất mong nội dung của đềtài có thể trở thành tài liệu tham khảo trong quá trình học tập, nghiên cứu về
Lê Thánh Tông nói riêng và về bộ môn lịch sử tư tưởng chính trị nói chungcủa các đề tài sau
Trang 3IV Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông được thể hiện trên rất nhiều lĩnhvực như về tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta, trong việc thihành chính sách quân điền Nhưng ở đây, trong phạm vi một tiểu luận, tácgiảchỉ đi sâu vào nghiên cứu tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông trong lĩnhvực cải cách hành chính, một tư tưởng nổi bật của Lê Thánh Tông vào cuốithế kỷ XV (1460 -1497)
V Phương pháp nghiên cứu
Đề tài “Tư tưởng chính trị của Lê Thánh Tông về cải cách hành chính,những giá trị và hạn chế”, được xây dựng trên cơ sở thế giới quan phươngpháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.Ngoài ra, các phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích, phươngpháp hệ thống, cấu trúc đều là những phương pháp quan trọng giúp tác giảhoàn thành tiểu luận này
VI Kết cấu của đề tài
Phần I: Mở đầu
Phần II: Nội dung
Chương I: Tình hình Đại Việt thế kỷ XV và sự xuất hiện tư tưởng chính
Trang 4PHẦN II: NỘI DUNG
Trang 5CHƯƠNG I: TÌNH HÌNH ĐẠI VIỆT THẾ KỈ XV VÀ SỰ XUẤT HIỆN
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ LÊ THÁNH TÔNG.
I.Bối cảnh lịch sử
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ( 1418 -1427) kết thúc thắng lợi, Lê Lợi lênngôi lập nên một triều đại mới, triều đại Lê sơ Nhà Lê tồn tại 366 năm (1428-1788) và từ khi thành lập cho đến khi Lê Thánh Tông lên ngôi thì tình trạngtranh giành quyền lực trong nội bộ triều đình diễn ra quyết liệt Lê Lợi mất,
Lê Thái Tông lên nối ngôi (1433 -1442) Lê Thái Tông đã làm cho tình hìnhđất nước trở nên rối ren Thoạt đầu Lê Thái Tông phong tước kế vị cho con cả
là Nghi Dân, nhưng do say đắm và nghe lời xiểm nịnh của thứ phi NguyễnThị Anh cùng lũ hoạn quan, Lê Thái Tông bèn phế truất ngôi kế vị của con cả
và đặt Bang Cơ con thứ , con của thứ phi Nguyễn Thị Anh lên địa vị kế ngôivua Nghi Dân và mẹ bị giáng xuống làm thứ dân và đều bị buộc rời khỏicung cấm
Lê Thái Tông chết, Bang Cơ lên ngôi vua khi miệng còn hơi sữa,Nguyễn Thị Anh buông rèm ngồi trị nước thay con Nguyễn Thị Anh đã cùnganh trai là Nguyễn Phù Lộ và bọn nịnh quan : Tạ Thanh, Lương Dật, TrịnhKhả, Đinh Liệt lập thành phe phái khống chế chi phối, lũng đoạn mọi côngviệc triều chính Họ đàn áp, loại bỏ những người không ăn cánh Họ không
từ bất cứ thủ đoạn nham hiểm nào để hãm hại những người không cùng mưu.Nạn tham quan ô lại như đàn mối lúc nhúc, chúng đục ruỗng kèo cột nướcnhà, trộm cướp nổi lên, cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ, nội bộ suyyếu, bọn giặc ngoài được dịp tràn đến, nguy cơ mất nước vì nạn ngoại xâmngày càng lớn dần
Năm 1459, Nghi Dân đã cùng với những người thân tín đột nhập hoàngthành giết em ruột là Bang Cơ (tức Vua Lê Nhân Tông) và Hoàng Thái Hậu -
mẹ Bang Cơ là Nguyễn Thị Anh rồi tự xưng làm vua Nghi Dân ở ngôi vuađược 8 tháng Do tính tình tàn bạo, hay chém giết vô cớ, nên đình thần triềuđình oán giận Tháng 6 năm 1459, đảo chính xảy ra tại cung đình, Nghi Dâncùng bọn tay chân bị bắt giết
Trang 6Cung Vương Khắc Xương là con thứ 3 của Vua Lê Thái Tông được tôn lênngôi vua Vốn là người yếu đuối cả thể xác lẫn tinh thần, trí óc, Khắc Xương
cả sợ, cả lo cho chính tính mạng của mình nên một mực từ chối ngồi vào ngaivàng
Sau đó, các quan đã đem xa giá đến rước người con út Lê Thái Tông là TưThành lúc ấy đang ẩn náu tại An Bang, nơi ông cùng mẹ thứ phi Ngô ThịNgọc Giao, người đã đem ông trốn khỏi kinh thành để tránh sự hãm hại từngày mới cất tiếng chào đời, về kinh đô rồi tôn lên làm vua Đó là vua LêThánh Tông - Nhà vua đã có công lao đưa đất nước thoát ra mọi hiểm hoạbằng những cách tân táo bạo Suốt 38 năm ông trị vì đất nước (1460 -1497)
đã đánh dấu một giai đoạn phát triển rực rỡ trong lịch sử của các triều đạiphong kiến Việt Nam
II Tình hình kinh tế xã hội và sự kiện tư tưởng chính trị Lê Thánh Tông
1 Tình hình kinh tế xã hội.
Ngay khi Lê Lợi lên ngôi vua, triều đình đã xuất hiện những mầm mốngcủa khủng hoảng, Lê Lợi chết, Lê Thái Tông rồi Lê Nhân Tông lên nối ngôicàng làm cho tình hình đất nước, xã hội lún sâu thêm vào những cuộc rối ren
mà nguyên nhân sâu xa dó là do sự yếu kém của bộ máy hành chính
Sự yếu kém đó biểu hiện rõ rệt như sau
( 1 Sdd, tr 108
( 2 Sdd, tr 108
( 3 Sdd, tr 108
Trang 7Các cấp trung gian: phủ, huyện, trấn, lộ quá nhiều đã gây phức tạp choviệc quản lý Còn sách, tràng, xã là cấp thấp nhất thì : sách, tràng ngang với
xã hay là cấp dưới xã vẫn chưa xác định rõ ràng và thống nhất trong cả nước.Đất đai phong cho các công thần cũng nhiều nhưng những vùng phânphong như vậy có quan hệ thế nào với các đơn vị quản lý hành chính cũngkhông rõ Do việc quản lý đất đai của các cấp không được chặt chẽ khiến
ngay ở Lam Kinh mà: “ Bọn thế gia còn hay làm trái phép, coi thường pháp
luật, chiếm đoạt đất đai làm của riêng”4
1.2.Về quản lý sức lao động xã hội
Chủ yếu là trong nông nghiệp thì chế độ nô tì đáng ra phải giải thể từ cuốiđời Trần nhưng vẫn được duy trì, nên đến nay đang tan rã Nô tì bỏ trốnkhông chỉ vì bị ngựơc đãi như xưa, mà chủ yếu là do có người dụ dỗ nhằmchuyển dịch sức lao động sang các lĩnh vực hoạt động khác Thậm chí những
quân nhân cũng giả đi làm việc quan (được cấp giấy đi lại) để dụ dỗ nô tì của
tì bỏ trốn trở thành nông dân tự do và điều tất yếu xảy ra
1.2.2 Trong thủ công, thương nghiệp
Kinh tế hàng hoá, tiền tệ đi đôi với thủ công nghiệp, thương nghiệp đãkhởi sắc từ cuối thời Trần, qua nhà Hồ Đến nay, đất nước thanh bình lại pháttriển hơn lên, đòi hỏi sức lao động tự do
4 Sdd, tr 108
Trang 8Lê Thái Tổ đã cho đúc tiền “ Thuận Thiên Thông bảo” quy định mỗi
tiền là 70 đồng và đã ban quy chế đồng tiền Thậm chí đã đưa ra bàn việc lưuhành tiền giấy (nhưng cuối cùng đã quyết định là không phát hành tiền giấy vìchưa thấy có nhu cầu)
Đến Lê Thái Tông, ngoài quy định về tiền tệ còn quy định rõ các đơn vị
đo lường hàng thủ công, như :“Hễ tiền đồng thì cứ 60 đồng là một tiền, lụa
lĩnh thì mỗi tấm dài 30 thước, rộng 1 thước 5 trở lên Vải gai nhỏ, mỗi tấm
24 thước, rộng 1 thước 3 tấc trở lên, vải tơ chuối thì mỗi tấm dài 24 thước Vải bông thô, mỗi tấm dài 22 thước Giấy thì tính 100 tờ.
Nội thương phát triển khiến Nhà nước phải tăng cường quản lý: Quân
hay dân đi buôn bán phải xin giấy thông hành của quan lộ, huyện.
Buôn bán với nước ngoài cũng khởi sắc:”Thuyền buôn Trảo - Oa
(Java) vào dâng lễ vật Thuyền buôn Xiêm La sang cống” Việc tiêu thụ hàng
ngoại cũng tăng, khiến nhà nước phải ngăn cấm các quan, quân buôn lậu hàngngoại Thậm chí còn hạn chế các đoàn sứ thần đi Trung Quốc về không được
mang nhiều hàng hoá: “Triều đình có lệnh cấm quan lại và dân chúng không
được mua bán vụng trộm hàng nước ngoài” Nhưng sau đó, việc buôn bán
này cũng trở thành lệ thường do triều đình chưa có hình thức điều chỉnh xácđáng
Nhìn chung, nền kinh tế, xã hội phát triển, đang cần có sự quản lý chặtchẽ
1.3.Bộ máy hành chính.
Theo định hướng phong kiến quan liêu - Khổng giáo, tức tập trungquan liêu cao độ thì bộ máy hành chính lại tỏ ra phân tán, kém hiệu lực Cụthể:
Lớp quý tộc công thần được tặng phong từ sau thắng lợi kháng chiếnchống Minh ngày càng phân hoá Số tích cực như: Nguyễn Trãi, Lưu NhânChú, Trần Nguyên Hãn bị sát hại Số ít còn lại, bị cô lập
Trang 9Trái lại, bọn quyền thần như Lê Sát, Lê Ngân ngày càng lộng hành.Quyền lực Nhà nước bị phân tán Cơ chế phong kiến quan liêu tập quyền bịlung lay Nhất là từ Lê Nhân Tông đến khủng hoảng cung đình với chínhquyền 8tháng của Lê Nghi Dân.
Nét tiêu cực, phân tán, biểu hiện rõ như sau:
1.3.1 Các quyền thần ghen tị, vu cáo, sát hại lẫn nhau:
Trong đó, tiêu biểu là việc sát hại đại công thần Nguyễn Trãi, một vụ ánnổi tiếng trong lịch sử Sự hãm hại các quyền thần thì chủ mưu là Lê Sát,nhưng đến khi Lê Thái Tông nhận ra thì đã quá muộn Khi bãi chức Tư đồcủa Lê Sát, Thái Tông đã phải xuống chiếu hặc tội, nhưng vì là viên cố mệnhđại thần, lại có công với xã tắc nên đặc cách khoan tha, nhưng phải bãi chức
Cuối cùng phải “cho Lê Sát được tự tử ở nhà”.1
Đó chỉ là những sự kiện tiêu biểu Ngoài ra còn nhiều sự lộng quyềnkhác nữa
1.3.2 Nạn hà hiếp và ăn hối lộ diễn ra phổ biến trong hàng ngũ công thần.
Hà hiếp dân trong tranh chấp đất đai, tiêu biểu như vụ Lê Ngân hãm hạiPhạm Mẫn Phạm Mẫn là người cùng làng với Lê Ngân, chỉ trong một vụtranh chấp đất đai với gia nô của Lê Ngân đã bị Lê Ngân dùng quyền thế vạchtội là trước kia bọn Phạm Mẫn đã trốn vào trong sách, đầu hàng giặc LêNgân đã kiên trì đòi trị tội khiến Mẫn chỉ được giảm tội chết, còn vẫn bị đày
đi châu xa Mặc dù sau kháng chiến chống Minh, Lê Lợi, Nguyễn Trãi đãkhoan hồng đối với những người theo giặc
Hà hiếp dân là thế, hối lộ thì tràn lan: Lê Sát, Lê Ngân, Lê Văn Linh,
Lê Thụ, Lê Soạn đều bị tố cáo là những kẻ trùm ăn hối lộ Điển hình như vụ
Lê Quát, con Lê Thụ được cưới công chúa 10 tuổi, bị câm Đây trở thành cơhội tốt cho những kẻ muốn cầu cạnh để ngoi lên Chúng tranh nhau cúng củacải để mưu phú quý, đến nỗi gấm thêu, lĩnh là, vóc lụa bán ngoài phố đều vìvậy mà hết nhẵn cả Lê Thụ còn bắt các quan lại các trấn, lộ, huyện phải sắm
1 sdd, tr 111
Trang 10đủ trâu, dê, các thứ, rồi bọn quan lại các trấn, huyện, lại bắt quân lính và dânchúng phải đóng góp để mong lấy lòng Lê Thụ.
Nạn tham quan, ô lại, hà hiếp dân, ăn hối lộ diễn ra tệ hại đến nỗi chính
Lê Thái Tông đã phải ra lệnh chỉ, chỉ rõ tình trạng tha hoá suy yếu trong bộmáy hành chính lúc bấy giờ, đồng thời cũng đưa ra xét hỏi một cách sơ bộ xéthỏi về bọn tham quan ô lại để bắt ở các lộ, huyện đã có tới 53 người.1
Chính sự rối ren như thế, song nhà vua - đại diện cho chính quyềnTrung Ương - tuy nhận rõ tệ hại trên nhưng mọi cố gắng để giải quyết đềuchưa có hiệu quả
1.3.3 Sự thống nhất giữa các dân tộc trong một quốc gia đang bị đe doạ.
Thời Thuận Thiên (Lê Thái Tổ 1432) đã xảy ra cuộc nổi dậy của tùtrưởng châu Mường Lễ là Đèo Cát Hãn cùng con là Đèo Mạnh Vương đãkhiến nhà vua phải thân đi đánh mới hàng phục được, đến nay nguy cơ phânquyền của dân tộc thiếu số lại ngày càng tăng, mặc dầu Lê Thái Tông khi lênngôi đã muốn củng cố tinh thần thống nhất bằng việc cùng quan văn, võ trong
ngoài, tố cáo trở đất, thần kỳ danh sơn, đại xuyên, cùng nhau: “Giết ngựa
trắng lấy máu cùng thề”2, nhưng mưu đồ phân chia quyền lực vẫn cứ xảy ranhư những cuộc làm phản của Cầm Quý, tù trưởng châu Ngọc Ma, của tùtrưởng Hà Tông Lai ở huyện Thu Vật, Tuyên Quang
Đó là thời Lê Thái Tông Đến Lê Nhân Tông và thời Lê Nghi Dân, tìnhhình càng nghiêm trọng hơn Tất cả đòi hỏi phải có một cơ chế Trung Ươngtập quyền phong kiến Khổng giáo mạnh mẽ mới có thể thống nhất dân tộc,đưa đất nước tiến lên
1.4 Tình hình bên ngoài.
Các nước láng giếng nhìn vào tình hình Đại Việt có vững mạnh haykhông mà có đối sách của mình Khi nội bộ trong triều đang tồn tại nhữngmâu thuẫn, nhân cơ hội đó giặc giã nổi lên khắp nơi Ở phía Nam, quân
1 sdd, trang 114
2 sdd,trang 114
Trang 11Chiêm Thành, ở phía Tây, bọn Đạo Quỳnh, từ Ai Lao đến xâm lấn đất đaivùng mường Mộc (Mộc Châu, Sơn La) Ở phía Bắc thì nhà Minh, tuy còncảnh giác từ sự thất bại thảm hại của cuộc xâm lược vừa qua nhưng cũngkhông bao giờ từ bỏ mộng bá chủ ở phía Nam.
Mối tình ngoại thế như vậy, thì phương thức an dân, giữ nước không gìquý hơn là phải xây dựng một nhà nước phong kiến quan liêu tập quyền vữngmạnh mà trước hết là phải cải cách bộ máy hành chính
2 Quá trình hình thành tư tưởng chính trị Lê Thánh Tông.
Lê Thánh Tông (1442-1497) tên thật là Lê Tư Thành, là con trai thứ 4của vua Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Giao Lê Tư Thành sinh ngày 20tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) ở chùa Huy Văn Sống giữa chốn dân gian từnhỏ đến năm 4 tuổi, khi Tuyên Từ thái hậu (mẹ của Lê Nhân Tông) buôngrèm nghe chính sự mới cho đón Lê Tư Thành về phong làm Bình NguyênVương, cho ở trong cung để hàng ngày cùng vua Nhân Tông và các Vươnghầu khác học tập tại toà Kíh Diên Tư Thành chăm chỉ học tập, dáng dấp đoanchính, thông tuệ hơn người, được vua Nhân Tông rất yêu quý Loạn Nghi Dângây chấn động Triều Lê, Nghi Dân lên ngôi, đổi phong Tư Thành làm GiaVương và làm nhà ở bên hữu nội diện cho ở Không bao lâu đại thần làNguyễn Xí, Đinh Liệt cùng nhau đem cấm binh đánh bọn Đồn, Ban rồi phếNghi Dân, đón vua lên ngôi Bấy giờ vua 18 tuổi, vào nối đại thống, tự xưng
là Thiên Nam động chủ Miếu hiệu Lê Thánh Tông
Lê Thánh Tông là người có học vấn uyên bác và có khả năng về nhiềumặt, ông hiểu rõ đường lối và phương pháp trị nước đồng thời còn am hiểuthiên văn, địa lý, lịch sử, văn học Ngoài khả năng trị nước bằng thực tiễn củamình, ông còn có khả năng sáng tác thơ văn, tự mình dịch ra các loại triềuchế, cáo và các văn kiện về pháp luật, giáo dục, quân sự
Trang 12Lê Thánh Tông lên ngôi trong hoàn cảnh đất nước đang có sự khủnghoảng về mọi mặt, yêu cầu lịch sử được đặt ra: cần phải có một cuộc cải cáchtoàn diện trên tất cả các lĩnh vực, mà trước hết là trong bộ máy hành chínhnhà nước Đó là sự nghiệp lớn lao trong lịch sử xã hội phong kiến Đại Việt
mà Lê Thánh tông phải đảm nhiệm
Cuộc cải cách hành chính của LêThánh Tông, tuy là cuộc cải cáchmang tính bộ phận (chỉ tiến hành trong lĩnh vực hành chính), nhưng lại có tácđộng sâu xa đến toàn bộ các hoạt động kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội củađất nước
Mới tiếp cận, sẽ tưởng rằng cuộc cải cách này chỉ bắt nguồn từ nguyênnhân đơn giản trước mắt là sự yếu kém của bộ máy hành chính đã được cải tổ
từ Lê Thái Tổ đến Lê Nhân Tông Nhưng thực tế nó bắt nguồn từ nguyênnhân sâu xa, mà từ Lê Thái Tổ đến Lê Nhân Tông tuy các nhà vua này cũngmuốn làm nhưng chưa thực hiện được
Nguyên nhân sâu xa đó là khủng hoảng thiết chế chính trị diễn ra từcuối thời Trần với yêu cầu thay thế thiết chế chính trị phong kiến quý tộc Phậtgiáo bằng thiết chế chính trị phong kiến quan liêu Khổng giáo - điều mà HồQuý Ly muốn làm nhưng chưa làm được Nay Lê Thánh Tông đã có thể thựchiện một cách thành công
Thứ mới đến nguyên nhân trước mắt là khủng hoảng cung đình Biểuhiện cụ thể là sự giết vua Lê Nhân Tông và Hoàng thái Hậu để cướp ngôi của
Lê Nghi Dân, đi đôi với sự thiếu hiệu lực của bộ máy hành chính Tuy LêThái Tổ, Lê Thái Tông đã cố công khắc phục nhưng chưa đạt hiệu quả
Sự cố gắng giải quyết khủng hoảng thể chế chính trị nói trên của LêThái tổ được biểu hiện trong thực tế mà trong lời suy tôn công tích của Lê
Thái Tổ, sử cũ đã ghi: "khi lên ngôi vua đã ấn định luật lệnh, chế tác lễ nhạc,
mở khoa thi, đặt cấm vệ, xây dựng quan chức, thành lập phủ huyện, thu thập sách vở, mở mang trường học, có thể nói là mưu kế xa rộng, mở mang cơ nghiệp" 1 Trong đó tư tưởng chính trị vẫn lấy Nho giáo làm quốc giáo, điều
1 1, 2,3,4 Văn Tân: “Thử căn cứ vào Bộ Luật Hồng Đức để tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lê Sơ” NCLS số 46 – 1.1963.
Trang 13mà sau này Lê Thánh Tông đã khẳng định: "Thái tổ ta trước, ban đầu dựng
nước, mở mang nhà học hiệu, dùng cỗ Thái lao để tế Khổng Tử, rất mực sùng Nho, trọng đạo” (2)
Đến Thái Tông thì cũng: “Bên trong ức chế quyền thần, bên ngoài đánh
dẹp di địch, trọng đạo, sùng Nho, mở khoa thi, chọn hiền sĩ cũng là bậc của tài giỏi" (3)
Tới Lê Nhân Tông, lên ngôi khi mới hai mươi tuổi, được quyền thần
phò tá, cũng: “sùng đạo Nho, nghe can gián" 4).
Nhưng khi cùng với Hoàng Thái Hậu buông rèm nhiếp chính,đã để chobọn mưu thần ngày càng lộng hành Trước đó, họ đã bị Thái Tông ức chế thìnay lại mặc sức lũng đoạn, khiến mâu thuẫn (giữa một bên là kinh tế, vănhoá, xã hội đang có điều kiện và yêu cầu phát triển, với bên kia là cơ chếhành chính yếu kém, lại bị quyền thần lũng đoạn), ngày càng tăng lên
Cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông nhằm xây dựng một nhànước pháp quyền vững mạnh Tư duy chỉ đạo không được Lê Thánh Tông đề
xuất thành văn, nhưng đã biểu hiện rõ trong hành động là “pháp trị đi đôi với
nhân trị” Nền tảng của nó là tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, tư tưởng yêu
nước - bảo tồn từng tấc đất của ông cha, là “tư tưởng an dân” lo sao cho dânđược an cư lạc nghiệp
Biểu hiện cụ thể như Lê Thánh Tông đã phê phán Ngô Sĩ Liên vàNghiêm Nhâm Thọ - Những người giữ trọng trách ở Ngự Sử đài, là đã không
nghiêm ngặt bảo tồn quốc thể Lê Thánh tông nói: “Các ngươi bảo nước ta
đời xưa là hàng phiên bang, thế là các ngươi theo đạo chết" (5)
Lê Thánh Tông lại dụ Thái bảo Lê Cảnh Huy rằng, với đất đai của tổ
tông thì: "một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào nên vứt bỏ? Nếu ngươi
dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội phải tru di".
Trang 14Còn với dân, nhà vua: "Muốn cho mọi người đều giàu đủ, yên vui để
tiến tới thịnh trị".
Để làm được như trên, trong tình hình khó khăn như đã thấy, Lê ThánhTông phải tìm ra một cơ chế hành chính để quản lý nước một cách hữu hiệu
Ở Đông Nam Á lúc đó, cơ chế pháp trị kết hợp với nhân trị đang là phương
án tối ưu Chỉ có nét đặc thù là ở Đại Việt, tư duy nền tảng phải là tinh thầndân tộc
Chính vì vậy, mà từ việc xây dựng bộ máy hành chính đó có hiệu quảđều phải sao cho sát với yêu cầu giàu mạnh cho nhân dân
Qua nội dung của công cuộc cải cách hành chính và hiệu quả của bộmáy hành chính sau cải cách sẽ minh chứng cho tư tưởng chính trị của LêThánh Tông về cải cách hành chính theo con đường “pháp trị đi đôi với nhântrị” dựa trên nền tảng là tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc là hoàn toàn đúngđắn và hợp thời đại
Trang 15CHƯƠNG II
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH - TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CHỦ YẾU
CỦA LÊ THÁNH TÔNG
Ngày 26 tháng 9 năm Hồng Đức thứ 2 (1472), vua Lê Thánh Tông ban
bố dụ “Hiệu định quan chế” - sắc lệnh về sửa đổi chế độ quan lại nhằm chínhthức hoá và hệ thống hoá những cải cách hành chính của ông
I Cách tân về tổ chức bộ máy chính quyền
Bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương được cải tạo theonhững mục tiêu:
Gọn, nhẹ mà có hiệu lực
.Chọn được những người thực sự có tài, có đức để giao trách nhiệm Loại bỏ kịp thời tham quan, ô lại, những người không xứng chức
1 Trong tổ chức bộ máy chính ở cấp trung ương
Trước Lê Thánh Tông, các nhà vua thường giao quyền trực tiếp điềukhiển các quan lại cho một vị tể tướng hay tướng quốc
Theo dụ “Hiệu định quan chế”, Lê Thánh Tông bỏ chức tể tướng, trựctiếp nắm trọn quyền lực trong tay Bằng cách như vậy, nhà vua đã buộc mìnhphải ngày đêm suy nghĩ lo toan việc nước Ở đỉnh cao của quyền lực, ôngkhông để cho mình đắm say vào việc hưởng lạc rồi sao nhãng việc triều chínhnhư các vị vua tiền nhiệm thường mắc phải Cũng với biện pháp đó, ông đãloại bỏ được nguy cơ lộng quyền lấn áp vua của quan đầu triều
1.1 Cơ quan giúp việc
Trang 16Để lo toan công việc sự vụ hàng ngày cho Nhà vua, Lê Thánh Tông đã
tổ chức ra những cơ quan giúp việc gồm:
Hàn Lâm Viện: là cơ quan để chuyên làm nhiệm vụ soạn thảo các dụ,
chiếu, chỉ, là cơ quan văn bản mệnh lệch khác của Nhà vua
Đông Các: là cơ quan làm nhiệm vụ chuyên rà soát, sửa lại các văn bản
do Hàn Lâm Viện soạn thảo trước khi trình lên vua duyệt Bằng cách như vậy,Nhà vua đã làm cho mọi văn bản phải được cân nhắc, xem xét kỹ lưỡng, hếtmọi khía cạnh rồi mới đem công bố thi hành; tính nghiêm minh trong mệnhlệch và văn bản pháp luật của Nhà vua do vậy đã được đảm bảo một cáchvững chắc trước hết bởi tính đúng đắn, chính xác về nội dung của nó Qua
việc tổ chức ra cơ quan Đông Các, chứng tỏ Nhà vua đã lường trước được
mọi hậu quả to lớn, kéo dài trong phạm vi rộng nếu có sơ hở, sai lầm trongban hành văn bản, đặc biệt nếu đó là văn bản của người có hiệu lực cao nhất,của cơ quan cao nhất của đất nước
Trung thư giám: Là cơ quan để chuyên ghi chép, lưu giữ các sắc lệnh,
chỉ dụ, tước hiệu do Nhà Vua sắc phong cho những người trong hoàng tộc,các quan và đưa vào nơi thờ cúng sau khi họ chết;
Bí thư giám: là cơ quan lưu giữ và trông coi thư viện của Nhà vua; Hoàng môn tĩnh: là nơi giữ ấn tín của nhà vua
Qua cách tổ chức văn phòng của Lê Thánh Tông cũng đủ thấy rằng Nhàvua đã biết tổ chức cách làm việc của mình Nhờ vậy, nhà vua không bị bấnbúi vào những công việc sự vụ hàng ngày Tâm trí nhà vua do đó được rảnhrỗi để chăm lo những công việc đại sự của đất nước Lê Thánh Tông quả làmột con người có phong cách làm việc khác xa của cách làm việc hoặc là ômđồm, bao biện hoặc là khoán trắng của vua quan phong kiến trước ông và sauông
1.2 Cơ quan chức năng của bộ máy hành chính trung ương
Năm Quang Thuận thứ 6 ( 1465) vua Lê Thánh Tông đã đổi 6 bộ thành
6 viện, và năm sau, 1466 thì đổi 6 viện thành 6 bộ với những nhiệm vụ đượcquy định hết sức rõ ràng
Trang 17Đời Trần chỉ có 4 bộ: Hình, Lại, Binh, Hộ Đời vua Lê Thái Tổ chỉ có 3Bộ: Lại, Lễ, Dân ( tức bộ Hộ) Sáu bộ dưới đời Lê Thánh Tông là:
Lại Bộ: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước.
Lễ Bộ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành,
thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo
Hộ bộ: trông coi việc việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tổ chức, kho
tàng, thóc tiền và lương bổng của quan, binh
Binh bộ: trông coi việc binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ
chức việc giữ gìn các nơi hiểm yếu và ứng phó việc khẩn cấp
Hình bộ: trông coi việc thi hành luật, lệnh, hình pháp, xét lại các việc
tù, đày, kiện cáo,
Công bộ: trông coi việc xây dựng sửa chữa cầu đường, cung diện,
thành trì và quản đốc thợ thuyền
Cũng vào năm Quang Thuận thứ 7 (1466) vua lập ra 6 tự gồm:
Đại lý tự là cơ quan có nhiệm vụ xét lại những án nhưng đã xử như án
bị phạt tử hình hay đi đày Xét xong thì chuyển kết quả sang bộ hình để tâulên vua xin quyết định
Thái thường tự là cơ quan phụ trách việc thi hành những thể thức nghi
lễ, điều khiển ban âm nhạc, trông coi đền thờ trời, đất, thần bốn mùa
Quang lộc tự là cơ quan phụ trách việc cung cấp và kiểm tra rượu lễ,
đồ lễ, đồ ăn trong các buổi, tế lễ yến tiệc
Thái bộc tự là cơ quan có nhiệm vụ giữ gìn xe của vua và Hoàng tử,
coi sóc chuồng ngựa nhà vua
Hồng lô tự là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức xướng danh những
người đỗ trong các kỳ thi Đình
Hồng lô tự còn có hai thự là Điển khách thự để lo đón tiếp các ônghoàng ngoại quốc và Ty nghi thự để lo việc an táng các vị quan to trongtriều
Thường bảo tự là cơ quan giữ việc đóng ấn vào quyển thi của các thí
sinh thi hội
Trang 181.3 Cơ quan chuyên môn
Vua Lê Thánh Tông còn tổ chức ra một số cơ quan chuyên môn không
lệ thuộc vào sáu bộ, bao gồm:
Thông chính ty là cơ quan trông coi việc chuyển đạt công văn, chỉ dụ
của triều đình tới các nơi và chuyển đệ công văn từ dưới lên, đơn từ của nhândân lên Nhà Vua
Quốc Tử Giám là cơ quan giáo dục cao nhất trong nước Quốc Tử Giám
giữ nhiệm vụ trông coi Văn Miếu, nơi thờ Khổng tử và lưu giữ bia các vị đỗtrong các kỳ thi đình Quốc Tử Giám là nơi dạy dỗ, đào tạo nhân tài cho đấtnước
Những người nhập học Quốc Tử gipám gồm hai loại:
Giám sinh là các con các quan chức đã đỗ 4 trường kỳ thi hương.
Học sinh là quân hoặc dân đã đỗ 4 trường kỳy thi Hương.
Quốc Tử Giám là trường đai học đầu tiên được lập ra ở nước ta
Quốc sử viện là nơi cơ quan giữ việc ghi chép, biên soạn nhà vua làm
gì, nói gì, ưa chuộng những gì, chính sự hay lỗi lầm, nhân tài, tiểu nhân,phong tục, tốt xấu trong nước đều do Quốc sử viện ghi chép trung thực để lưulại làm gương cho đời sau Nhà vua đương thời không được đọc những điềughi chép về nhà vua và hoàng tộc
Để khuyến khích mở mang nông nghiệp - nền tảng hạ tầng của chế độ,
Lê Thánh Tông cho lập ra 4 Sở chuyên môn:
Sở đồn điền: để trông coi ruộng đất tốt, xấu thế nào, lập và thực hiện kế
hoạch tưới nước, cho ruộng đồng ;
Sở tầm tang: để trông coi việc trồng dâu nuôi tằm, dệt lụa;
Sở thực thái: để trông coi việc trồng rau;
Sở điền mục: để trông coi việc chăn nuôi súc vật.
Nhà vua còn cho đặt các chức quan mới - quan hà đê để trông coi việcxây đắp và giữ gìn đê điều, thực thi các việc khuyến nông
Trang 191.4 Cơ quan kiểm tra giám sát
Để kiểm tra, giám sát công việc của sáu Bộ, Lê Thánh Tông cho lập ra
6 khoa và Ngự sử đài Sáu khoa gắn liền với công việc của sáu bộ là: Lạikhoa, Lễ khoa, Hộ khoa, Binh khoa và Công khoa
Công việc của 6 khoa được Nhà vua định rõ trong dụ: “Hiệu định quan
chế”, rằng: “Lại bộ bổ cất không đúng tài, lại khoa được phép bắt bẻ, Lễ bộ
nghi chế sai bậc, lễ khoa được phép đàn tấu, Hình khoa luận công việc phải trái của Hình bộ; Công khoa kiểm thời hạn của Công bộ mau hay chậm, sưng hay trễ” Ngự sử đài xét lỗi, đàn hoặc mọi quan lại, văn, võ, bàn bạc về chính
sự đương thời, duyệt xét các án từ Hệ thống các cơ quan Ngự sử đài gồm cóNgự sử đài ở Trung ương và 13 Ngự sử đài ở 13 thừa tuyên - tương ứng với
13 tỉnh ngày nay
Với cách thức tổ chức và phân định nhiệm vụ của các bộ, các tư cáckhoa, sở và các ngự sử đài như trên, Lê Thánh Tông đã giám sát kiểm soátchặt chẽ bộ máy thừa hành Không một bộ nào, không một viên quan lại nào
có thể lộng hành, thao túng pháp luật, kỷ cương hoặc đứng ra ngoài sự giámsát của nhà vua
Không những định rõ chức năng, nhiệm vụ tổng quát của các Bộ,các Tự, các Khoa, Nhà Vua còn quy định rõ cơ cấu tổ chức từng bộ, từngkhoa với những chức danh cụ thể bao gồm cả phẩm hàm, bổng lộc từng quanlại Các quan lại trong bộ máy hành chính dưới triều Lê Thánh Tông đượcchia ra làm chín phẩm Mỗi phẩm lại có chánh phẩm và tòng phẩm Hạngnhất là nhất phẩm, hạnh nhì là tông phẩm Hạng 17 là chánh cửu phẩm, hạng
18 là tòng cửu phẩm
Số lượng biên chế trong từng Bộ, từng Tự, từng Khoa, từng Sở vàtổng số quan lại của cả nước đều được nhà vua ấn định dứt khoát, không được
tự tiện thêm bớt
Trang 20Ví dụ: Bắt đầu lại Bộ có Lại Bộ thượng thư với hàm tòng nhị phẩm lại
Bộ thượng thư có hai phó quan là Tả, Hữu thị lang với hàm tông tam phẩm.Lại bộ được tổ chức thành hai ty gồm:
Thuyên Khảo Thanh lại ty: phụ trách việc thuyên chuyển - chọn bổ,
khảo sát quan lại, do Lang trung với hàm Chánh lục phẩm đứng đầu
Tư vụ sảnh là cơ quan thường trực của Lại Bộ do Tư vụ đứng đầu với
hàm tòng bát phẩm
Tổng số quan, lại của Lại Bộ là 80 người
Theo dụ “Hiệu định quan chế”, nhiệm vụ cụ thể của từng Bộ, từngKhoa, cũng được nhà vua quy định hết sức rõ ràng
Ví dụ: Nhiệm vụ tổng quát của Bộ Hộ được Nhà vua xác định là coisóc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế, kho tàng, thóc tiền và lương củaquan quân
Những công việc cụ thể để thi hành nhiệm vụ chiếu theo lệ mà cấpruộng chế lộc - ruộng cấp cho các quan văn; ruộng ngụ lộc - ruộng cấp chocác quan võ; ruộng sứ lộc - ruộng cấp cho các quan đi sứ; ruộng dưỡng lộc -ruộng cấp các quan khi về dưỡng lão; ruộng huệ lộc - ruộng cấp cho các quankhi về hưu; ruộng thưởng lộc - ruộng vua ban thưởng cho các quan ruộng thếnghiệp - ruộng được cấp cho các quan khi chết đã giao cho con cháu làm việcthờ phụng, cung tế Bộ Hộ còn có nhiệm vụ khám xét và định thuế suất cácđất ruộng đã được khai khẩn
Về tài chính: Hộ khẩu và tô thuế: Bộ Hộ có nhiệm vụ xem xét và định
lượng việc chi tiêu và thu của nền tài chính quốc gia Những việc liên quanđến nền tài chính, điều gì nên thêm, điều gì nên bớt cùng là những chính sách
có lợi cho công khố và nhân dân thì Bộ Hộ được phép điều trần rõ từng khoảntâu lên xin chiếu chỉ của Nhà vua mà thi hành Bộ Hộ có trách nhiệm xácđịnh, phân bố và thu hút trong cả nước
Việc kho tàng, thóc tiền và lương của các quan quân: Bộ Hộ có nhiệm
vụ coi giữ kho thóc đặt ở vườn bên phải nhà Thái miếu (miếu thờ tổ tiên củanhà vua)
Trang 21Bộ Hộ trông coi việc phát lương (bằng tiền, thóc hoặc cấp ruộng) cho
quan quân
Bộ Hộ có nhiệm vụ lập sổ trước tịch ghi số nam, nữ dân đinh cả nước
từ sơ sinh cho tới già
Bộ Hộ có nhiệm vụ thu đồ cống phẩm của các nước lân bang tới cống.
Thuộc lại Bộ Hộ có cả thảy là 100 người
Một ví dụ khác: Theo dụ “Hiệu định quan chế”, nhiệm vụ của Công Bộđược quy định rõ như sau:
Hàng năm Công Bộ phải sai quan đi xem xét, đường đê, cửa cống, đê
đá, kè đá các xứ Nếu nơi nào cần sửa chữa hay đắp thêm thì công bộ tínhxem mất bao nhiêu tiền đệ tấu tất cả những công việc sửa chữa, xây cất cùng
số tiền cần dùng trình lên vua xem Khi chiếu chỉ ban xuống, Công Bộ đưasang Hộ Bộ mà lĩnh tiền Người của Công Bộ truyền cho các Nha môn tuântheo mà làm
Công Bộ có nhiệm vụ quản đối xưởng đóng thuyền, trường đúc súng,đúc tiền
Công bộ quản đốc các thợ thuyền Các quan địa phương tuyển thợkhéo đưa về kinh Những thợ giỏi được cấp phần ruộng, được miễn làm saidịch và làm việc suốt đời cho nhà vua Thợ giỏi có tài đặc biệt khéo léo đượcvua ban cho hàm cửu phẩm hay bát phẩm
Thuộc lại công Bộ cả thảy có 40 người
2 Tổ chức bộ máy chính quyền ở cấp địa phương
Tháng 6 năm 1466, Quang Thuận năm thứ 7, Lê Thánh Tông ra sắc chỉtoàn bộ lãnh thổ Đại Việt được chia thành 13 thừa tuyên còn gọi là xứ, gồm:
Trang 226 Quốc Oai 13 Quảng Nam.
7 Bắc Giang
Đứng đầu mỗi thừa tuyên (xứ) có 3 ty: Thừa Ty, Đô Ty và Hiến Ty.Thừa Ty trông coi công việc hành chính, hộ tịch, thuế khoá
Đô ty quản lĩnh quân đội, giữ gìn an ninh
Hiến ty phụ trách công việc xử án, thi hành pháp luật
Các thừa thuyện (xứ) chia thành huyện, châu
Tháng 4 năm 1469, Quang Thuận năm thứ 10, nhà vua rasắc chỉ quy định bản đồ cửu phủ, châu, huyện thuộc 12 thừatuyên
Sơn Nam ( trước là Thiên Trường) 11 42
Phủ Phụng Thiên (trước là Phủ Trung Đô) 2
Các huyện, châu chia thành xã Nhà vua đã thay đổi các chức danh:huyện Quan thành Huyện trưởng, xã Quan thành xã trưởng
Năm 1465, Lê Thánh Tông ra lệnh cho các xứ vẽ bản đồ Đến năm
1471 bản đồ 13 xứ được hoàn thành Tập bản đồ này được gọi là bản đồ HồngĐức – một tập bản đồ xưa nhất ghi nhận bước tiến về công cuộc quản lý đấtnước và khoa học địa lý lúc bấy giờ
Kể từ khi ban bố dụ “Hiệu định quan chế”, tổng số các quan lại văn võtrong cả nước có 5370 người, trong đó có 2755 người ở triều đình Trung ương
và 2615 người ở các xứ Tất cả các tổ chức các cấp, chính quyền trong cảnước đều có chức năng, nhiệm vụ rõ rệt, đều có biên chế nhất định Tất cả các
Trang 23quan, lại trong toàn thể bộ máy cai trị đất nước đều có chức danh, có phẩmhàm và bổng lộc rõ ràng
Để ngăn ngừa việc tự tiện tuyển dụng người vào biên chế, Nhà vua đã
quy định thành lụât Điều 97, Bộ Luật Hồng Đức quy định như sau: "Quan,
lại đặt ra có cơ sở nhất định Bổ dụng hay đặt ra quá hạn định hay không nên đặt ra mà lại tự tiện đặt ra, nếu thừa một viên phạt 60 trượng, biếm 2 tư
và bãi chức, thừa 2 viên trở lên thì xử tội đồ Người xin vào chức thừa ấy phạt 50 roi".
II.Những đổi mới trong chế độ tuyển chọn và sử dụng quan lại
Lê Thánh Tông là người hiểu rõ và kiên trì thực hiện quan điểm "trăm
quan là nguồn gốc của trị, loạn Người có đức, có tài nhận chức thì trị Người vô tài, thất đức nắm giữ quyền hành thì loạn” Tháng 12 năm 1463,
sau 3 năm ở ngôi vua, Lê Thánh Tông trong một buổi chầu, đã nói với Lại BộThượng thư Nguyễn Như Đỗ, Hình Bộ Thượng thư Trần Phong, Binh BộThượng thư Nguyễn Vĩnh Tích, Hộ Bộ Thượng thư Nguyễn Cư Pháp, Công
Bộ Thượng thư Nguyễn Đình Mỹ rằng: ta phải nghe Mã Quang nói: Người
quân tử là cội gốc để tiến lên trị, bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc để đi đến hoạ, loạn Ta và các người đã thề với trời đất dựng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm chăm không lơi, các người chớ có quên đấy 1
Trong suốt 38 năm ở ngôi vua, Lê Thánh Tông luôn tâm niệm lấy việctuyển dụng người có đức có tài để giao công việc trị nước, an dân làm điều hệtrọng nhất trong mọi điều hệ trọng
Cha truyền con nối là quan điểm thủa của ý thức hệ phong kiến trongduy trì quyền lực Nhà vua Lê Thánh Tông vẫn coi trọng xuất xứ của dòngmàu Để tưởng nhớ công lao đại thần có công với đất nước để bảo vệ hoàngtộc, Ông vẫn phong tước, phong quan cho con cháu họ Nhưng đó là tản quan,
hư hàm, nghĩa là quan có hàm nhưng không có chức, quyền Để chọn đượcnhững người thực sự có tài, có đức ra gánh vác việc nước Nhà vua không quácâu nệ vào nguồn gốc xuất thân
1 Xem “Đại Việt sử ký toàn thư” – quyển XII – tr 399
Trang 24Nhà vua đã đặt ra 3 lệ mới để tuyển lựa: thi, tuyển, bảo cử và tập ấm
1 Thi tuyển
Theo Lê Thánh Tông, những quan lại được giao việc cai trị dân, trướchết là những người có trình độ học vấn Theo Dụ “Hiệu định quan chế”, tấtthảy mọi người được tuyển bổ làm quan, lại đều là những người thi đỗ trongcác kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình Những người không đỗ bằng gì, gọi là
“chân trắng”1 mà có quân công cũng có thể được bổ làm quan võ – sĩ quan.Theo định kỳ họ cũng được xét thăng thưởng Nếu được nhận xét là “xứngchức” thì được thăng nhưng chỉ được thăng đến “tam phẩm” trở xuống thôi.Tất cả mọi người trong nước, không kể nguồn gốc xuất thân, đều được phép
dự thi Nhà vua quy định chỉ những người bất hiếu bất mục, loạn luận, xuinguyên dục bị, con đàn, con hát, những người can tội bè đảng với bọn phảnnghịch thì bản thân người ấy và con cháu họ đều không được dự thi (xem cácđiều 628 – 629 Bộ Luật Hồng Đức)
Về thi cử có ba giai đoạn, hoặc ba bậc: Thi Hương, thi Hội thi Đình
1.1 Thi Hương
Mùa hạ tháng 4 năm 1462 (Quang Thuận năm thứ 3) nhà vua định lệcam kết trong thi Hương Vua ra lệnh cho các thí sinh trong nước, không cứdân hay lính, hạn tới thượng tuần năm nay đến nhà giám hay đạo Sở tại khaitên và căn cước đợi thi Hương Ai đỗ thì gửi danh sách lên Lễ Nghị Viện đểđến trung tuần tháng 1 năm sau thi Hội Cho quan Sở tại và xã trưởng xãmình làm giấy bảo đảm rằng người ấy thực là có đức hạnh mới được vào danhsách dự thi Kẻ nào vào loại bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, loạn luân, điêu toathì dẫu gì học giỏi, văn thơ hay, cũng không cho vào thi”
Thi Hương là thi tại các xứ Trước khi dự thi chính thức, các thí sinhphải qua khảo thi hai môn: Thi viết chính tả và làm toán Theo ghi chép chưathật đầy đủ trong biên niên lịch sử Trung cổ đại Việt Nam thì Nhà nước đã mởcác khoa thi toán vào các năm 1077, 1179, 1506, 1711, 1732, 1746, 1747,
1762, 1777 Khoa thi toán năm 1506, thi ở điện Giảng Võ có tới 30.000 thí
1 Chân trắng, là dịch nghĩa từ chữ nho là “ bạch thân”