Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hoá, thể dục, thao thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu c
Trang 1NGUYỄN THANH ĐỒNG
QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO
SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, THỂ DỤC, THỂ THAO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hoá, thể dục, thao thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Ngô Quang Minh – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Các nội dung, số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính trung thực của luận văn
Bình Định, ngày tháng 03 năm 2022
HỌC VIÊN
Nguyễn Thanh Đồng
Trang 3Lời đầu tiên cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Khoa Lý luận chính trị - Luật và Quản lý Nhà nước và quý thầy cô giáo Trường Đại học Quy Nhơn đã tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Ngô Quang Minh – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi tận tình, chu đáo trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thành uỷ, UBND thành phố Quy Nhơn, Phòng Tài chính - Kế hoạch; Phòng Văn hoá thông tin, Trung tâm Văn hoá thông tin, thể thao và Đảng ủy, UBND các phường, xã trên địa bàn thành phố Quy Nhơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi hỗ trợ, cung cấp thông tin và số liệu trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và chia sẻ với tôi trong suốt quá trình nghiên cứu học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã cố gắng lắng nghe, tiếp thu và nắm bắt song chắc chắn rằng luận văn còn hạn chế và thiếu sót Vì thế, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các quý thầy cô và độc giả để luận văn được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Bình Định, ngày tháng 03 năm 2022
HỌC VIÊN
Nguyễn Thanh Đồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 8
7 Kết cấu của luận văn 8
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, THỂ DỤC, THỂ THAO 10
1.1 Một số khái niệm 10
1.1.1.Ngân sách nhà nước 10
1.1.2.Quản lý chi ngân sách nhà nước 11
1.2 Quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp Văn hóa, thể dục, thể thao 13
1.2.1.Phân loại: 13
1.2.2.Nội dung quản lý chi sự nghiệp từ ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa, thể dục, thể thao 14
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa, thể dục, thể thao 19
1.3.1.Chế độ chính sách quản lý tài chính công 19
Trang 51.3.3.Tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý 20
1.3.4.Mạng lưới tổ chức hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục, thể thao 21
1.3.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho văn hóa, thể dục, thể thao 22
1.3.6.Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của đơn vị 22
1.3.7.Trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, THỂ DỤC, THỂ THAO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 24
2.1.Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội của thành phố Quy Nhơn 24
2.1.1.Điều kiện tự nhiên 24
2.1.2.Đặc điểm về điều kiện kinh tế 25
2.1.3.Đặc điểm về văn hoá – xã hội 28
2.2 Thực trạng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa, thể dục, thể thao và các chính sách liên quan đến quản lý chi ngân sách cho văn hóa, thể dục, thể thao của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 32
2.2.1 Thực trạng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa, thể dục, thể thao của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 32
2.2.2 Các chính sách liên quan đến quản lý chi ngân sách cho văn hóa, thể dục, thể thao của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 34
2.3 Thực trạng quản lý chi ngân sách cho văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 35
2.3.1.Mô hình quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 36 2.3.2 Thực trạng lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho văn hóa, thể
Trang 6hóa, thể dục thể thao 392.3.4.Thực trạng quyết toán, kiểm toán chi 402.3.5.Thực trạng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm… 432.4 Đánh giá chung về quản lý chi sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 442.4.1.Những kết quả đạt được 442.4.2.Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 47CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, THỂ DỤC, THỂ THAO TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH 523.1.Phương hướng phát triển và tăng cường quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đến năm 2025 523.1.1 Mục tiêu, định hướng phát triển văn hóa, thể dục, thể thao của thành phố Quy Nhơn đến năm 2025 523.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn 533.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định 553.2.1 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục thể thao 553.2.2Hoàn thiện việc chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa thể dục thể thao 58
Trang 73.2.4 Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tài chính và sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tƣ phát triển văn hóa, thể
dục, thể thao 62
3.2.5 Hoàn thiện bộ máy quản lý và nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý 63
3.2.6 Các giải pháp khác 64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 QUYẾT ĐỊNH GIAO TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 82 CNTT: Công nghệ thông tin
15 UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và
Văn hóa Liên Hợp Quốc
Trang 9Bảng 1.1.Bảng số liệu về cơ sở vật chất của văn hóa – thể dục thể thao
TP Quy Nhơn 29
Bảng 1.2 Bảng tổng hợp số đề án, dự án đã và đang triển khai tại thành phố Quy Nhơn 32
Bảng 1.3.Tổng hợp chi thường xuyên 33
Biểu 2.1 Tổng chi thường xuyên qua các năm 33
Biểu 2.2 Chi cho sự nghiệp văn hóa thể thao 34
Biểu 2.3 Tỷ lệ pần trăm chi cho văn hóa thể dục thể thao 34
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa Theo UNESCO: „Văn hóa
là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Như vậy, văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần, là tri thức, kiến thức khoa học, là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh
Trong quá trình tác động vào thế giới tự nhiên con người đã nhận thức được về mối quan hệ nhân quả là phải chuẩn bị trước cho lao động thì sẽ mang lại kết quả cao hơn Do đó, để đạt được kết quả cao hơn, chúng ta không chỉ chuẩn bị về khoa học, kỹ thuật, về tư liệu sản xuất mà còn phải chuẩn bị tốt về lực lượng sản xuất Một trong những yếu tố cần được chuẩn bị tốt cho lực lượng sản xuất ngoài trí lực, đó là yếu tố thể lực Và tất cả các quá trình vận động của cơ thể con người bằng các công cụ, phương pháp, nhằm duy trì sự cân đối, vừa vặn của cơ thể cũng như nâng cao sức khỏe thể chất của con người được gọi là thể dục thể thao
Với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, một nền kinh tế tri thức thì tri thức được coi là một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất Qua mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển văn hóa - giáo dục, TDTT không ngừng tăng cường đầu
tư cho sự nghiệp Văn hóa, TDTT nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế mới, thị trường lao động mới ở trong và ngoài nước Vì vậy, phát triển văn hóa, TDTT vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội Trong thời gian qua, Nhà nước ta đã quan tâm rất lớn đến hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể
Trang 11thao cụ thể là đã bố trí nguồn ngân sách cho hoạt động này
Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, trong thời gian qua, công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục thể thao đã đạt được những kết quả rất tốt Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế
trong công tác quản lý, thể hiện từ công tác lập phân bổ dự toán đến công tác
quyết toán Mô hình tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách cho văn hóa thể dục thể thao chưa đáp ứng được nhiệm vụ quản lý ngân sách toàn ngành để
hoàn thiện công tác quản lý và sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn,
tỉnh Bình Định, tác giả chọn đề tài: “Quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”, làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về ngân sách nhà nước
cho văn hóa, quản lý chi, thu ngân sách nhà nước cho thể dục thể thao ở nhiều góc độ khác nhau như:
- Bài viết Tiến sĩ Lê Thu Hiền về: Nguồn nhân lực ngành văn hóa, thể thao và du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Mạng thông tin Bộ văn hóa, thể thao và du lịch Theo đó, nguồn nhân lực sẽ giải quyết được hai vấn đề rất bức xúc hiện nay: Một là các nguồn lực ngày càng khan hiếm, môi trường ngày càng suy giảm và thứ hai là sự bùng nổ dân số cùng với sự gia tăng các nhu cầu [19]
- Giáo trình của Tiến sĩ Vũ Đăng Minh và Thạc sĩ Nguyễn Thế Vịnh: Giáo trình kỹ năng nghiệp vụ công tác văn hóa – xã hội ở xã, phường, thị trấn,
Hà nội: NXB CTQG – ST, 2016 Giáo trình cung cấp một số vấn đề cụ thể về quản lý nhà nước và kỹ năng làm việc đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn làm công tác văn hóa - xã hội, giúp cho đội ngũ cán bộ này có thêm tài liệu tự học tập, rèn luyện, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện
Trang 12tốt nhiệm vụ được giao [20]
- Bài viết Nguyễn Vinh Hưng, chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, 2013 Để quản lý nền văn hóa, giáo dục của Việt Nam phù hợp và thích ứng với các biến động của xu thế hội nhập, đòi hỏi chức năng quản lý văn hóa, giáo dục phải đổi mới về hình thức và cả phương pháp thực hiện Trên cơ
sở này, tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chức năng quản lý văn hóa, giáo dục của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế [13]
- Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết “Đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững” Bài viết đã tổng quan về thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa trong thời gian qua Qua đó, đã đề ra một số giải pháp đổi mới, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững [9]
- Lê Thị Bích Thuận với bài viết “Một số vấn đề quản lý nhà nước về văn hóa” Bài viết làm rõ thêm nội hàm quản lý nhà nước về văn hóa, các thành tố cấu thành hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa Quản lý nhà nước
về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là một trong những lĩnh vực có rất nhiều vấn đề đặt ra Việc xác định vấn đề nào là trọng tâm hiện nay có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả quản lý (Lê Thị Bích Thuận, 2013) [6]
- Đề tài: “Quản lý chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung” luận văn cao học của Nguyễn Văn Trang, 2010 Tác giả đã đề cập khá sâu sắc đến phương thức, nội dung và công cụ quản lý chi ngân sách Luận văn tập trung phân tích thực trạng công tác quản lý chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung, chỉ ra những kết quả cũng như hạn chế của công tác này Tuy nhiên, phần giải pháp và vận dụng chủ yếu tập trung vào hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách ở các tỉnh duyên hải miền Trung [12]
- Đề tài: “Giải pháp tăng cường quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở
Trang 13huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Quốc Huy, Luận văn cao học 2012 Luận văn trung phân tích đánh giá khá toàn diện cả về quản lý thu, chi ngân sách nhà nước ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Các giải pháp
mà tác giả đưa ra nhằm giúp huyện tăng cường hơn lĩnh vực quản lý này ở huyện [10]
- Luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện chi ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Trần Văn Lâm, Học viện tài chính Hà Nội (năm 2009), đã hệ thống hoá và làm rõ thêm được các vấn đề lý luận về ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước trong nền kinh tế thị trường với những nội dung cụ thể: mục tiêu, nguyên tắc và phương thức của chi ngân sách nhà nước ; quản lý chi ngân sách nhà nước với việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, luận án chưa làm rõ được đặc thù riêng của Tỉnh khi áp dụng pháp luật theo phương thức mới, các phương thức, quy trình chi ngân sách nhà nước nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các Tỉnh khác nhau thì có gì khác nhau [21]
- Luận án tiến sỹ kinh tế: “Đổi mới quản lý chi ngân sách nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Minh, Học viện tài chính Hà Nội (năm 2008) Luận án cũng đã trình bày một cách khái quát thực trạng chi ngân sách của nước ta về phương thức chi theo yếu tố đầu vào; theo chương trình mục tiêu, dự án; theo kết quả đầu ra và chu trình ngân sách trong khuôn khổ pháp luật quy định về chi ngân sách nhà nước Tuy nhiên, phần lý luận có một số lý luận về vai trò của chi ngân sách nhà nước chỉ đúng với điều kiện Việt Nam mà không đúng với các nước nói chung; phần kinh nghiệm nước ngoài, nếu có kinh nghiệm của các nước tương đồng với Việt Nam thì sẽ tốt hơn Nếu Luận án đề cập một cách rõ ràng, cụ thể hơn những khó khăn, trở ngại mà Việt Nam phải đối mặt khi triển khai thực hiện phương thức áp dụng pháp luật về chi ngân sách nhà nước mới như Luận án
đề xuất thì tính thuyết phục của các giải pháp sẽ cao hơn [11]
Trang 14- Luận văn Tiến sĩ “Nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh
An Giang giai đoạn 2011-2015 và tầm nhìn đến 2020” tác giả Tô Thiện Hiền, Đại học ngân hàng TP Hồ Chí Minh (2016), luận văn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách nhà nước tỉnh An Giang phục vụ cho việc quản lý, điều hành ngân sách nhà nước được chặt chẽ và hiệu quả hơn, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội một cách vững chắc [18]
- Luận văn thạc sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước ở huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Phạm Công Hưng- Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (2012); đề xuất các giải pháp quản lý chi trên địa bàn nhằm giải quyết kịp thời những hạn chế về công tác quản lý chi huyện Thuận Thành và việc thực hiện tốt chi ngân sách giúp thực hiện tốt chức năng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ người nghèo, rút ngắn khoảng cách giàu và nghèo [14]
- Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định” tác giả Phạm Văn Thịnh - Đại học Đà Nẵng (2011); Luận văn đề xuất những giải pháp về hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Phù Cát như cần thực hiện công khai tài chính nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời tạo điều kiện cho việc kiểm tra giám sát của nhân dân, trong việc sử dụng ngân sách; và đầu tư cơ sở vật chất về công nghệ, thông tin để đáp ứng dụng khoa học công nghệ vào quản
rõ chức năng, nhiệm vụ; đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của từng cấp chính quyền [17]
Trang 15Những công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận nhiều cách khác nhau về chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hoá, thể dục, thể thao, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về hoạt động này tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao cấp huyện, thành phố
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, chỉ ra những vấn đề đạt được, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn huyện, thành phố
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao của Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, theo quy trình chi ngân sách nhà nước
Trang 16bao gồm: Lập dự toán; chấp hành dự toán; quyết toán; kiểm tra
Về không gian: Đề tài nghiên cứu hoạt động quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao được phân cấp cho chính quyền Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định quản lý
Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trong giai đoạn 2016
- 2020 Các giải pháp được đề xuất đến năm 2025, tầm nhìn 2030
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử, quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những quy định cụ thể của Luật Ngân sách nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin và tổng hợp thông tin: Số liệu thu thập trong luận văn là số liệu thứ cấp được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như báo cáo số liệu phòng Tài chính kế hoạch thành phố Quy Nhơn, Phòng Văn hóa thông tin thành phố Quy Nhơn, Trung tâm Văn hóa thông tin – thể thao thành phố Quy Nhơn… Số liệu kiểm kê, dân số, kinh tế - xã hội… Sau khi thu thập được các thông tin sơ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là số liệu thì phải lập trên bảng biểu
- Phương pháp phân tích thông tin: Trên số liệu, tài liệu để phân tích những vấn đề đã được giải quyết, những vấn đề cần phải tìm giải pháp giải quyết nhằm đạt được mục tiêu đề ra Trong phân tích có sử dụng các biểu đồ
để làm rõ thông tin thu thập được Mối quan hệ giữa các thông tin, từ đó chỉ
ra các vấn đề cần phải xử lý
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: trên cơ sở tổng hợp số liệu sơ cấp, tiến hành phân tích theo từng nội dung của công tác quản lý ngân sách
Trang 17nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa – thể dục thể thao tại thành phố Quy Nhơn, từ đó nêu ra những kết quả đạt được và tồn tại trong công tác quản
lý Hoặc số liệu thứ cấp được xử lý dưới dạng bảng biểu thống kê, trên cơ sở
đó phân tích hiện trạng thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa – thể dục thể thao
Đề tài được thực hiện tổng hợp các phương pháp thống kê kinh tế, phân tích hoạt động kinh tế, đồng thời áp dụng các phương pháp nghiên cứu cả định tính và định lượng để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài luận văn góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý thuyết về chi ngân sách cho sự nghiệp phát triển văn hóa thể dục thể thao, đặt trong bối cảnh hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài luận văn phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý tài chính ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và những người làm nghiên cứu lĩnh vực có liên quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao
Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 18Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động phát triển văn hóa, thể dục, thể thao trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Trang 19CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, THỂ DỤC,
THỂ THAO 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước được
dự toán và thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước [7] Có các trường hợp các khoản thu chi này kéo dài hơn 1 năm, ví dụ ngân sách nhà nước trung hạn là các khoản thu chi của nhà nước trong 3 năm
1.1.1.1 Bản chất của ngân sách nhà nước
Bản chất ngân sách Nhà nước có thể được hiểu trên 3 khía cạnh: Pháp
lý, kinh tế và xã hội
- Về mặt pháp lý: Ngân sách nhà nước là khoản mục dự trù các khoản thu, chi của nhà nước trong 1 năm Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước Nhà nước bằng quyền lực chính trị và xuất phát từ nhu cầu về tài chính để đảm bảo thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình đã đặt ra những khoản thu, chi của Ngân sách Nhà nước Điều này cho thấy chính sự tồn tại của Nhà nước, vai trò của Nhà nước đối với đời sống kinh tế
xã hội là những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và tính chất hoạt động của Ngân sách Nhà nước
- Về mặt kinh tế: Ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối các nguồn tài chính quốc gia Hoạt động của Ngân sách Nhà nước biểu hiện đa dạng dưới hình thức các khoản thu và các khoản chi tài chính của Nhà nước ở các lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội Các khoản thu chi này được tổng hợp trong một bảng dự toán thu chi tài chính được thực hiện trong một khoảng
Trang 20thời gian nhất định Các khoản thu mang tính chất bắt buộc của Ngân sách Nhà nước là một bộ phận các nguồn tài chính chủ yếu được tạo ra thông qua việc phân phối thu nhập quốc dân được sáng tạo ra trong khu vực sản xuất kinh doanh và các khoản chi chủ yếu của Ngân sách mang tính chất cấp phát phục vụ cho đầu tư phát triển và tiêu dùng của xã hội
- Về tính chất xã hội: Ngân sách nhà nước là công cụ kinh tế của Nhà nước Trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội đã làm nảy sinh các quan hệ tài chính giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể trong xã hội Những quan hệ tài chính này bao gồm: Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp, Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước và các đơn vị hành chính sự nghiệp, Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với các tầng lớp dân cư, Quan hệ kinh tế giữa ngân sách nhà nước với thị trường tài chính
1.1.1.2 Các bước cơ bản của việc sử dụng ngân sách
Có 4 bước trong chu trình ngân sách:
- Lập ngân sách là quá trình xây dựng bản dự toán thu, chi là gì, ngân sách với cơ cấu chi tiết theo luật định Dự toán ngân sách bao gồm cả việc phân bố ngân sách cho các cơ quan, đơn vị trực thuộc
- Phê chuẩn ngân sách là quá trình các cơ quan có thẩm quyền để xem xét, thẩm tra, thảo luận và đi đến quyết định phê duyệt dự toán ngân sách
- Chấp hành ngân sách là quá trình thực hiện các nội dung đã nêu trong dự toán ngân sách
- Quyết toán, kiểm toán và đánh giá ngân sách là khâu cuối cùng trong chu trình ngân sách, nhằm tổng kết, đánh giá việc thực hiện ngân sách cũng như các chính sách ngân sách của năm ngân sách đã qua
1.1.2 Quản lý chi ngân sách nhà nước [8]
Quản lý chi ngân sách nhà nước là một bộ phận trong công tác quản lý ngân sách nhà nước và cũng là một bộ phận trong công tác quản lý nói chung
Trang 21Quản lý chi ngân sách nhà nước giữ một vị trí đặc biệt quan trọng bởi ngân sách nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính, bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước, điều tiết vĩ
mô nền kinh tế để thực hiện các mục tiêu chiến lược của quốc gia
Quản lý chi ngân sách nhà nước là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của nhà nước Thực chất quản lý chi ngân sách nhà nước là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của nhà nước
từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT – XH
Quản lý chi ngân sách nhà nước góp phần quan trọng để ngân sách nhà nước phát huy được vai trò chủ đạo đó và ngân sách nhà nước thực sự trở thành công cụ hữu hiệu hướng tới mục tiêu đã định
Vị trí quan trọng của công tác quản lý chi ngân sách nhà nước được thể hiện rõ nét thông qua quá trình định hướng, hoạch định chính sách, ban hành
cơ chế, tiêu chuẩn, định mức để thực hiện chức năng vốn có của ngân sách
* Nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước:
Trong bất kì nền kinh tế nào, chi ngân sách phải tuân thủ những nguyên
lý nhất định, những đòi hỏi đó càng trở thành yêu cầu bắt buộc bởi tính đa dạng phong phú cũng như mục tiêu hiệu quả là những đặc trưng cơ bản đối với nền kinh tế thị trường
- Chi ngân sách phải đảm bảo kỷ luật tài chính tổng thể
- Ngân sách nói chung và chi ngân sách nói riêng phải gắn với chính sách kinh tế gắn với mục tiêu phát triển kinh tế trung và dài hạn
Chi ngân sách phải đảm bảo tính minh bạch, công khai trong cả quy trình từ khâu lập, tổ chức thực hiện, quyết toán, báo cáo và kiểm toán
- Chi ngân sách phải cân đối hài hoà giữa ngành, địa phương, giữa
Trang 22trung ương địa phương, kết hợp giải quyết ưu tiên chiến lược trong năm với trung và dài hạn
- Chi ngân sách phải gắn kết giữa chi đầu tư và chi thường xuyên
- Quản lý chi ngân sách nhà nước phải là tác động đòn bẩy để thúc đẩy các thành phần khác tham gia cung cấp dịch vụ công, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ đa dạng, phong phú của mọi đối tượng
1.2 Quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp Văn hóa, thể dục, thể thao
Ngân sách nhà nước đầu tư cho sự nghiệp thể dục thể thao cũng đang chiếm một tỷ trọng lớn trong các mục chi của ngân sách nhà nước Theo thống
kê các khoản chi thường tập chung vào các danh mục: Chi cho đầu tư cơ sở hạn tầng, chi cho thể thao thành tích cao, chi cho đào tạo vận động viên, cho cho phát triển thể thao quần chúng, chi cho hoạt động khoa học thể dục thể thao
- Phân loại theo yếu tố và phương thức quản lý các khoản chi: Chi thường xuyên; Chi xây dựng cơ bản
Đối với các khoản chi thường xuyên căn cứ vào đối tượng của việc sử
Trang 23dụng kinh phí ngân sách nhà nước có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau:
+ Các khoản chi cho con người: Chi lương, các khoản phụ cấp theo lương, chi bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, chi phúc lợi tập thể cho cán bộ, công nhân viên,
+ Chi về quản lý hành chính, chi về công tác phí, công vụ phí, điện nước, xăng xe, văn phòng phẩm, chi hội nghị về công tác quản lý,
+ Chi cho hoạt động chuyên môn: Chi mua tài liệu, đồ dùng tập luyện, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn
+ Chi mua sắm sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt động chuyên môn như: Mua sắm trang thiết bị, sửa chữa nhỏ trong các cơ sở, trung tâm
Ngoài ra ngân sách nhà nước còn chi tiêu cho các đơn vị thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa - thể dục, thể thao Hầu hết các chi khoản mục trên là những khoản chi phí phát sinh thường xuyên, tương đối ổn định và có thể định mức được Do vậy, trong công tác quản lý các khoản chi này phải lấy định mức làm cơ sở, riêng các khoản mua sắm sửa chữa nhỏ không phát sinh thường xuyên nên phải căn cứ vào thực trạng nhà cửa trang thiết bị, chế độ chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ và đặc biệt là khả năng nguồn vốn của ngân sách nhà nước để cấp phát và chi tiêu
Đối với chi đầu tư xây dựng cơ bản tập trung, tùy theo yêu cầu quản lý nội dung chi đầu tư xây dựng cơ bản được phân loại theo những tiêu thức khác nhau Xét theo hình thức tái sản xuất chi đầu tư xây dựng mới các tài sản cố định phục
vụ cho văn hóa - thể dục, thể thao như các cấp, các trung tâm thể thao Chi cải tạo, nâng cấp mở rộng các tài sản cố định hiện có nhằm tăng thêm công suất và hiện đại hóa tài sản cố định như nâng cấp trung tâm, cơ sở văn hóa
1.2.2 Nội dung quản lý chi sự nghiệp từ ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa, thể dục, thể thao
1.2.2.1 Lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho văn hóa, thể dục, thể thao
Kế hoạch là một trong những công cụ quan trọng được sử dụng trong
Trang 24quản lý (kể cả quản lý vĩ mô và quản lý vi mô) “Quản lý theo dự toán” là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi ngân sách Nhà nước Khi lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho văn hóa - thể dục thể thao phải dựa trên những căn cứ sau:
Thứ nhất: Chủ trương của Đảng và Nhà nước về duy trì phát triển sự nghiệp văn hóa – thể dục, thể thao trong từng thời kỳ Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi ngân sách cho văn hóa - thể dục thể thao
có sự cân đối với dự toán chi ngân sách chi lĩnh vực khác
Thứ hai: Phải dựa vào chỉ tiêu kế hoạch phát triển văn hóa – thể dục, thể thao đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí của ngân sách trong kỳ như chỉ tiêu về số lượng cơ sở văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng, khu vui chơi tập chung
Thứ ba: Căn cứ nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách cũng như khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước trong kỳ
kế hoạch để lập dự toán chi
Thứ tư: Các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hiện hành và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra kỳ kế hoạch
Thứ năm: Căn cứ vào kết quả phân tích đánh giá tình hình quản lý và
sử dụng kinh phí của năm trước
Quy trình lập kế hoạch chi cho văn hóa - thể thao được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu chi ngân sách nhà nước kỳ kế hoạch để xác định mức chi dự kiến phân bổ cho ngành văn hóa – thể dục, thể thao Trên cơ sở đó, hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí
Bước 2: Các đơn vị cơ sở văn hóa - thể thao căn cứ vào chỉ tiêu được giao (số kiểm tra) và văn bản hướng dẫn của cấp trên để lập dự toán kinh phí của đơn vị mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài chính Cơ
Trang 25quan tài chính xét duyệt tổng hợp dự toán chi ngân sách cho văn hóa – thể dục, thể thao vào dự toán chi ngân sách nhà nước nói chung để trình cơ quan chính quyền và cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt
Bước 3: Căn cứ vào dự toán chi đã được cơ quan quyền lực Nhà nước thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ chính thức phân bổ mức chi theo dự toán cho các đơn vị thuộc ngành văn hóa – thể dục, thể thao
1.2.2.2 Chấp hành chi ngân sách nhà nước cho văn hóa, thể dục, thể thao
Thực hiện kế hoạch chi ngân sách nhà nước cho văn hóa - thể thao cần chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:
+ Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, trên cơ sở dự toán chi đã xác định
+ Tiến hành cấp phát vốn, kinh phí một cách đầy đủ, kịp thời, tránh mọi sơ hở gây lãng phí, thất thoát vốn của ngân sách nhà nước
+ Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải hết sức tiết kiệm, đúng chính sách chế độ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗi khoản chi
Quá trình tổ chức điều hành cấp phát và sử dụng khoản chi ngân sách nhà nước cho văn hóa – thể dục thể thao cần dựa trên những căn cứ sau:
+ Dựa vào định mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Đây là căn cứ tác động có tính chất bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các khoản chi bởi vì mức chi của từng chỉ tiêu là cụ thể hoá mức chi tổng hợp đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê duyệt
+ Dựa vào khả năng nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước có thể đáp ứng chi cho văn hóa – thể dục, thể thao Trong quản lý và điều hành ngân sách Nhà nước phải quán triệt quan điểm “lường thu mà chi” Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế, của năm
kế hoạch mới chuyển hoá được chỉ tiêu dự kiến thành hiện thực
Trang 26+ Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hiện hành Đây là những căn cứ có tính pháp lý bắt buộc quá trình cấp phát và sử dụng các khoản chi phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc cấp phát và sử dụng các khoản chi Các biện pháp cơ bản
để tổ chức tốt công tác cấp phát và sử dụng các khoản chi ngân sách Nhà nước cho văn hóa – thể dục, thể thao bao gồm:
Cụ thể hoá dự toán chi tổng hợp cả năm thành dự toán chi hàng quý, tháng để làm căn cứ quản lý, cấp phát
Quy định rõ ràng trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi cơ quan (Tài chính, Kho bạc, Văn hóa.) trong quá trình cấp phát, sử dụng các khoản chi ngân sách Nhà nước Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho văn hóa - thể dục thể thao, bàn bạc với cơ quan văn hóa – thể dục, thể thao điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép
Hướng dẫn các đơn vị cơ sở trong ngành văn hóa – thể dục, thể thao thực hiệp tốt chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính
sự nghiệp, hạch toán đầy đủ rõ ràng các khoản chi cho từng loại hoạt động
Thường xuyên kiểm tra tình hình nhận và sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước ở các đơn vị văn hóa – thể dục, thể thao, đảm bảo đúng dự toán, phù hợp với định mức chế độ chi Ngân sách Nhà nước hiện hành
1.2.2.3 Quyết toán, kiểm toán chi
Mục đích chủ yếu của công việc này là tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi, từ đó rút ra những ưu, nhược điểm trong quản lý để có biện pháp khắc phục Công việc cụ thể được tiến hành là kiểm tra, quyết toán các khoản chi Trong quá trình kiểm tra, quyết toán các khoản chi phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:
+ Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo quy định
Trang 27+ Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải tuân thủ theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục ngân sách nhà nước quy định
+ Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của ho bạc Nhà nước đồng cấp và phải được cơ quan kiểm toán nhà nước kiểm toán
+ Báo cáo quyết toán của các đơn vị không được để xẩy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu Khi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết toán các khoản chi ngân sách nhà nước cho văn hóa - thể dục thể thao sẽ được tiến hành thuận lợi Đồng thời, nó sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan
1.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm…
Đây là khâu quan trọng để kiểm soát tình hình chi đúng, chi đủ của các đơn vị tránh thất thoát ngân sách nhà nước Trong điều kiện hiện nay, “ngành Văn hóa – thể dục thể thao đã và đang phải giải một bài toán rất khó là phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng số lượng, đảm bảo chất lượng nâng cao hiệu quả văn hóa – thể dục thể thao trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp”
Để tạo ra sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về văn hóa – thể dục thể thao, “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, bên cạnh các chính sách tăng đầu tư cho văn hóa giáo dục từ ngân sách nhà nước và đẩy mạnh xã hội văn hóa – thể dục thể thao thì việc sử dụng ngân sách nhà nước chủ động và có hiệu quả, tăng cường kiểm soát các khoản chi, kiên quyết chống lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu quả đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước cho văn hóa – thể dục thể thao là một trong những nhu cầu thiết yếu trong giai đoạn hiện nay và sắp tới
Vì vậy, có thể nói việc hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà
Trang 28nước cho văn hóa – thể dục thể thao là một đòi hỏi có tính tất yếu khách quan đối với bất cứ một địa phương, đơn vị nào
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa, thể dục, thể thao
1.3.1 Chế độ chính sách quản lý tài chính công
Đó là sự ảnh hưởng của những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản
lý chi thường xuyên NSNN cho văn hóa - thể dục thể thao Quy định phạm vi, đối tượng chi của các cấp chính quyền; quy định, chế định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chi ngân sách, sử dụng quỹ ngân sách Thể chế tài chính quy định, chế định những nguyên tắc, chế độ, định mức chi tiêu [4]
Do vậy, nói đến nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách trước hết phải nói đến chế độ chính sách quản lý tài chính công Vì nó chính là những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối mọi quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chi ngân sách Thực tế cho thấy nhân tố về chế độ chính sách quản lý tài chính công có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý chi ngân sách trên một lãnh thổ địa bàn nhất định, do vậy đòi hỏi phải ban hành những thể chế tài chính đúng đắn phù hợp mới tạo điều kiện cho công tác nói trên đạt được hiệu quả
1.3.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa, thể dục, thể thao
Văn hóa – thể dục thể thao có tầm quan trọng lớn lao, sự phát triển của văn hóa – thể dục thể thao có ảnh hưởng đến các lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt là việc phát triển văn hóa, xã hội Nhằm phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa nước ta trở thành quốc gia phát triển, Đảng và
Trang 29Nhà nước ta luôn coi trọng văn hóa – thể dục thể thao là nhiệm vụ quan trọng Xuất phát từ chủ trương, chính sách ấy mà Nhà nước ta dần có sự thay đổi về phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính đối với lĩnh vực văn hóa – thể dục thể thao Đầu tiên phải kể đến đó là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ chính trị (khóa XI) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao đến năm 2020” Tiếp theo là Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 đơn vị sự nghiệp có thu được trao quyền tự chủ về tài chính giúp tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị trong điều hành ngân sách, tự chủ trong chi tiêu điều đó hạn chế những tiêu cực lãng phí, làm tăng thu, tiết kiệm chi phí nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức làm trong ngành văn hóa – thể dục thể thao Sau đó là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 thay thế cho Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/02/2015 thay thế cho Nghị định
số 43/2006/NĐ- CP ngày 25/4/2006, theo đó đơn vị sự nghiệp công lập không những được trao quyền tự chủ về tài chính mà còn được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – thể dục thể thao là một bước cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của các đơn
vị sự nghiệp [2] [3]
1.3.3 Tổ chức bộ máy và trình độ cán bộ quản lý
Mỗi đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước có tổ chức bộ máy và cán bộ riêng để thực hiện các chức năng của mình Hiệu quả hoạt động và chất lượng cán bộ có tác động rất lớn tới quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước Khi nói đến cơ cấu tổ chức một bộ máy quản lý chi ngân sách người ta thường đề cập đến quy mô nhân sự của nó và trong sự thiết lập ấy chính là cơ cấu tổ chức bộ máy và cán bộ quản lý chi thường xuyên ngân sách và các mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các bộ phận trong quá trình thực hiện
Trang 30chức năng này, quy định chức năng nhiệm vụ của bộ máy và cán bộ quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước theo chức năng trách nhiệm quyền hạn giữa bộ phận này với bộ phận khác, giữa cấp trên với cấp dưới trong quá trình phân công phân cấp quản lý đó
Nếu việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp trên, cấp dưới, giữa các ngành không rõ ràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý chi ngân sách, nhất là đối với ngành văn hóa, một ngành thực hiện rất nhiều nhiệm vụ chi thường xuyên bởi hệ thống lớn, nếu bộ máy và cán bộ năng lực trình độ thấp, không đảm bảo thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân tố rất quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý chi thường xuyên ngân sách cho văn hóa - thể thao
1.3.4 Mạng lưới tổ chức hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục, thể thao
Mạng lưới tổ chức hoạt động Văn hóa - thể thao là hệ thống các nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm vui chơi, luyện tập và thi đấu thể thao, cơ cấu tổ chức cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới khoản chi lương, phụ cấp lương, phúc lợi tập thể cũng như chi phí quản lý hành chính Tính hợp lý hay không hợp lý trong việc tổ chức mạng lưới văn hóa – thể dục thể thao sẽ tác động mạnh tới số chi ngân sách nhà nước, một mạng lưới văn hóa – thể dục thể thao vừa gọn nhẹ vừa đủ, bố trí trường lớp hợp lý đảm bảo được chất lượng công tác quản lý thì phần nào
sẽ giảm chi cho ngân sách nhà nước và ngược lại thì chi ngân sách nhà nước
sẽ tăng lên, hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước sẽ giảm xuống
Với ảnh hưởng của nhân tố này theo quan điểm về lâu về dài là từng bước hợp lý hóa mạng lưới tổ chức, tinh giảm gọn nhẹ biên chế, nâng cao chất lượng phục vụ, từng bước cải cách hành chính trong hệ thống Văn hóa - thể thao Ngành tài chính cần có biện pháp xác định quản lý số chi ngân sách
Trang 31nhà nước cho Văn hóa - thể dục thể thao để khoản chi đó có tác dụng tích cực tới tổ chức mạng lưới Văn hóa – thể dục thể thao
1.3.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho văn hóa, thể dục, thể thao
Nhân tố này có ảnh hưởng đến các khoản chi có tính chất không thường xuyên của ngân sách nhà nước cho Văn hóa – thể dục thể thao như khoản chi sửa chữa, mua sắm máy móc, thiết bị , khoản chi này không có định mức quản lý và được xác định tùy thuộc vào thực trạng của từng cơ sở văn hóa
Hệ thống máy móc thiết bị tại các cơ sở văn hóa – thể dục thể thao đã lỗi thời, khiến cho công việc nhập và xử lý số liệu mất rất nhiều thời gian Các cán bộ phụ trách tài chính đã nhiều lần kiến nghị lên xin chi nâng cấp, nhưng vì nguồn vốn của các địa phương vô cùng hạn hẹp và cần phải chi cho rất nhiều các hoạt động khác trong địa phương nên cho đến nay vẫn chưa được đáp ứng
Mặt khác, hệ thống cơ sở vật chất như bàn, ghế, tủ đựng tài liệu, của các cơ sở văn hóa, trung tâm thể thao cơ bản đã cũ nát và không được nâng cấp nhiều năm nay Điều này ảnh hưởng rất lớn tới công tác lưu trữ, bảo quản các tài liệu quan trọng về quản lý tài chính
1.3.6 Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của đơn vị [5]
Với bất kỳ cơ chế quản lý nào đều phải được giám sát thực hiện bởi một hệ thống kiểm tra, kiểm soát Đây có thể là công tác kiểm tra nội bộ trong đơn vị hay là sự giám sát của các cơ quan khác ngoài đơn vị như cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán Việc kiểm tra giám sát luôn luôn cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế tài chính Bởi trong quá trình điều hành ngân sách, thực thi các nhiệm vụ của mình, đơn vị có thể vấp phải sai sót Việc kiểm tra, kiểm soát sẽ tìm ra những thiếu sót trong cơ chế quản lý tài chính từ
đó kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục Đặc biệt là khi có người lợi dụng
kẽ hở của quản lý tài chính để tham ô, tham nhũng Khi đó, việc kiểm tra,
Trang 32kiểm soát sẽ vấp phải những khó khăn song nó sẽ giúp cơ chế quản lý ngày càng hoàn thiện hơn
1.3.7 Trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập
Việc quản lý chi ngân sách luôn chịu ảnh hưởng của nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của người dân trên địa bàn Khi trình độ kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng lên, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn ngân sách và sử dụng có hiệu quả, mà nó còn đòi hỏi các chính sách, chế độ, định mức kinh tế - tài chính, mức chi tiêu ngân sách phải thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế
và mức thu nhập, mức sống của người dân Do đó, ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, người ta luôn quan tâm chú trọng đến nhân tố này, trong quá trình quản lý hoạch định của chính sách thu chi ngân sách nhà nước Thực
tế cho thấy, khi trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân trên địa bàn còn thấp cũng như ý thức về sử dụng các khoản chi chưa được đúng mức còn có tư tưởng ỷ lại Nhà nước thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới số chi ngân sách nhà nước cho văn hóa – thể dục thể thao giúp chúng ta có cơ sở phân tích tính hợp lý về những ảnh hưởng của các nhân tố trên đối với việc quản lý chi ngân sách nhà nước cho văn hóa – thể dục thể thao ở các năm, giải thích được sự khác nhau của nó ở các giai đoạn lịch sử, đồng thời từ những biến đổi của các hiện tượng kinh tế xã hội mà thấy được sự cần thiết phải thay nội dung, mức độ chi cho phù hợp
Khi ấy các nhân tố ảnh hưởng đã thực sự trở thành các cơ sở khoa học
để xác định số chi ngân sách nhà nước cho văn hóa – thể dục thể thao Ngoài
ra trong công tác quản lý tài chính cũng thấy được sự ảnh hưởng của các nhân
tố đó mà áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp trong từng thời kỳ
Trang 33CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá - xã hội của thành phố Quy Nhơn
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam tỉnh Bình Định, phía đông giáp Biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước, phía bắc giáp các huyện Tuy Phước và Phù Cát, Phía nam giáp thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên Cách Hà Nội 1.065 km về phía bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 650 km về phía nam, cách thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai) 165 km và cách thành phố Đà Nẵng 323
km Tổng diện của thành phố là 284 km² Thành phố Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lí như núi rừng, gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm, hồ, sông ngòi, biển, bán đảo và đảo Bờ biển Quy Nhơn dài 42 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao Các ngành kinh
tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch
vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch Vừa mở thêm khu kinh
tế Nhơn Hội Khí hậu có 2 mùa rõ rệt là mùa khô từ tháng 3 - 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,5 độ
C Quy Nhơn được biết đến như một thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên:
về tài nguyên đất có bán đảo Phương Mai với diện tích 100km, đầm Thị Nại 50km (trong đó: Quy Nhơn 30km, huyện Tuy Phước 20km), có trên 20.000ha rừng Khoáng sản quặng titan (xã Nhơn Lý), đá granít (Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân), có ngư trường rộng, đa loài và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao; đặc sản có yến sào (sản lượng đứng sau tỉnh Khánh Hòa) Nguồn nước
Trang 34ngầm với trữ lượng khá lớn (dọc lưu vực sông Hà Thanh và bán đảo Phương Mai) bảo đảm cung cấp nước sạch cho thành phố
2.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế
Thành phố Quy Nhơn là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hóa xã hội, khoa học, kỹ thuật của tỉnh Bình Định, thành phố có 21 đơn vị hành chính gồm 16 phường, 05 xã, dân số trên 290.000 người, diện tích 285.49 km2 Hiện nay cơ cấu các ngành kinh tế của Quy Nhơn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp trong GDP Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ trong GDP năm 2014 đạt: 5,5% - 47,6% - 46,9% Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 918,4 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 608 triệu USD Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 là 6.052 USD/người [1]
Theo quyết định 1672/QĐ-TTg 2018 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, mục tiêu phát triển của thành phố là phấn đấu đến năm 2025 trở thành một trong những thành phố trung tâm vùng duyên hải miền trung Đến năm 2035 là trung tâm kinh tế biển quốc gia theo định hướng dịch vụ - cảng biển - công nghiệp - du lịch, trọng tâm là dịch vụ - cảng biển tạo sức lan toả đến hệ thống đô thị toàn tỉnh Bình Định và vùng Nam Trung Bộ, Tây Nguyên Phát triển khu kinh tế Nhơn Hội làm động lực quan trọng phát triển kinh tế xã hội Đến năm 2050 là một trong những thành phố quan trọng trong
hệ thống đô thị quốc gia và Đông Nam Á
Về phát triển kinh tế: Tổng sản phẩm địa phương (GRDP) bình quân hàng năm tăng 11%; trong đó: lĩnh vực công nghiệp - xây dựng tăng 10,3%, dịch vụ tăng 12,4% và nông - lâm - thủy sản tăng 3,8% GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2014 đạt 66 triệu đồng (3.052 USD) tăng gấp 2 lần so với năm 2010 Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: công nghiệp - xây dựng 47,6%, dịch vụ 46,9% và nông - lâm - thủy sản 5,5%
Về phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch: Tổng mức bán lẻ hàng
Trang 35hóa và doanh thu dịch vụ bình quân tăng 14,3%/năm Giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2014 đạt 530,4 triệu USD, gấp 1,4 lần so với năm 2010 Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu trong 5 năm đạt 2,52 tỷ USD, giá trị kim ngạch nhập khẩu đạt 764 triệu USD
Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển năm 2014 đạt 7,85 triệu tấn, tăng 1,6 lần so với năm 2010.Công tác quy hoạch, quảng bá du lịch được tăng cường; đến nay, thành phố có 92 khách sạn và 150 cơ sở lưu trú với hơn 2.500 phòng (tăng 460 phòng so với năm 2010) Năm 2014, có 1,94 triệu lượt khách du lịch đến Quy Nhơn (trong đó: khách quốc tế: 155.000 lượt người); thời gian lưu trú bình quân 2 ngày/khách, doanh thu du lịch đạt 651 tỷ đồng, tăng 2,6 lần so với năm 2010
Về sản xuất nông - lâm - thuỷ sản: Triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tại 4 xã Nhơn Lý, Phước Mỹ, Nhơn Hải, Nhơn Châu đạt kết quả tích cực, đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới tại 2 xã Nhơn Lý, Phước Mỹ vào năm 2015 và
2 xã Nhơn Hải, Nhơn Châu sẽ hoàn thành trong năm 2020.Giá trị sản xuất ngành nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 3,6%/năm;
Về tài chính - ngân sách: Thu ngân sách thành phố hàng năm đều đạt và vượt dự toán tỉnh giao, đến năm 2014 đạt 1.166,8 tỷ đồng, gấp 1,7 lần so với năm 2010;
Công tác quy hoạch, xây dựng, chỉnh trang đô thị và quản lý đất đai: Hoàn thành Điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 495/QĐ-TTg ngày 14/4/2015 Trong 5 năm qua, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thành phố đã thực hiện hơn 28.240 tỷ đồng, chiếm gần 40% GDP, gấp 2,02 lần so với giai đoạn 2005 - 2010; trong đó, vốn đầu tư trực tiếp từ ngân sách Nhà nước là 875 tỷ đồng
Trang 36Phát triển văn hoá - xã hội: Đến nay đã có trên 97% hộ gia đình, 78,2% khu phố, thôn (118/151) và 61,7% cơ quan, đơn vị, trường học (108/175) đạt danh hiệu văn hóa, 02 phường được công nhận văn minh đô thị Cuộc vận động "Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại" ngày càng đi vào chiều sâu Đã lắp đặt tên 189 tuyến đường ở các khu quy hoạch dân cư mới Tỉnh xếp hạng mới thêm 02 di tích đình Cẩm Thượng và Lũy cổ trên bán đảo Phương Mai
Về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ: Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%, học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,5%, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 99%, học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng năm sau cao hơn năm trước; có 37 trường đạt chuẩn quốc gia (trong đó: 04 trường mầm non, 17 trường tiểu học, 14 trường trung học cơ
sở, 02 trường trung học phổ thông); 100% phường, xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; đang thực hiện công tác phổ cập giáo dục trung học phổ thông Hoàn thành công tác chuyển đổi 24 trường Mầm non bán công, dân lập sang trường mầm non công lập và công lập tự chủ về tài chính Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ được chú trọng; đã thực hiện 15 đề tài
và 01 dự án khoa học đạt hiệu quả
Về công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân: Đến nay, đã có 21/21 Trạm Y tế phường, xã đạt chuẩn quốc gia về y tế theo Bộ tiêu chí mới;
tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 8,51%; tỷ suất sinh còn 9,98‰
Về thực hiện các chính sách xã hội: Trong 5 năm qua đã chi trả, hỗ trợ cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội, hộ nghèo với tổng kinh phí trên 66,4 tỷ đồng; hỗ trợ kinh phí cải thiện nhà ở cho 50 đối tượng chính sách, với kinh phí 1,2 tỷ đồng; hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 110 nhà ở cho hộ nghèo, với kinh phí gần 4 tỷ đồng Đã cấp 57.361 lượt thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng nghèo, người cao tuổi, nhân dân trên xã đảo Nhơn Châu, trẻ em dưới 6
Trang 37tuổi và các đối tượng theo quy định Hỗ trợ, miễn giảm học phí cho 20.333 lượt học sinh, sinh viên, với tổng kinh phí 10,3 tỷ đồng; cho vay vốn tín dụng
ưu đãi cho 3.667 lượt học sinh, sinh viên với tổng dư nợ cho vay 53,9 tỷ đồng Giải quyết việc làm mới cho gần 22.000 lao động; đào tạo, bồi dưỡng nghề cho hơn 75% lao động Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1,45%, đã hoàn thành việc xóa hộ nghèo ở phường Lý Thường Kiệt
2.1.3 Đặc điểm về văn hoá – xã hội
Thành phố có nhiều công trình văn hóa, văn hóa vật thể, phi vật thể được bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, trên địa bàn thành phố đã có 12 di tích đường xếp hạng (04 di tích cấp Quốc gia, 08 di tích cấp tỉnh), nhiều công trình văn hóa – lịch sử được trùng tu, tôn tạo, nâng cấp, sửa chữa các công trình: Chùa Ông Nhiêu (Đền Quan Thánh), Đền thờ danh nhân Trần Hưng Đạo, Tượng đài và đường dẫn lên tượng đài anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, đình Cẩm Thượng; một số di tích sau khi trùng tu, tôn tạo đã đưa vào khai thác phát triển kinh tế, du lịch như: Đền thờ và Tượng đài anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, Chùa Ông Nhiêu, danh lam thắng cảnh Ghềnh Ráng - Tiên Sa Đặc biệt là loại hình di sản văn hóa đã được UNESCO công nhận là Bài chòi đã được gìn giữ, lưu truyền
Đến nay, đã có 100% khu phố - thôn xây dựng quy ước văn hóa; 95,22% hộ gia đình đạt danh hiệu văn hóa, tăng 4,6% so với năm 2010; số cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của thành phố Quy Nhơn đạt danh hiệu văn hóa là 124; 07 phường đạt chuẩn văn minh đô thị và 03 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới (04 xã đạt chuẩn nông thôn mới) Hiện nay trên địa bàn thành phố
đã có 07/21 phường, xã có Trung tâm văn hóa thể thao (01 điểm văn hóa thể dục thể thao cấp thành phố và 07 điểm văn hóa thể dục thể thao cấp phường xã) được đầu tư trang thiết bị Phong trào thể dục thể thao luôn được đẩy mạnh, hàng năm thành phố luôn tổ chức một số giải đấu cầu lông, bóng đá, bóng chuyền, cấp thành phố và cấp phường xã, thu hút đông đảo vận động
Trang 38viên tham gia, và nhân dân hưởng ứng Toàn thành phố có 180 CLB thể thao, với số người tham gia tập luyện TDTT thường xuyên của thành phố là 37% (tăng 6 % so với năm 2011) Những năm qua Phòng Văn hóa thông tin, Trung tâm Văn hóa thông tin thể thao thành phố xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động thể dục thể thao và triển khai đến các phòng, ban, cơ quan, đơn vị thành phố, Ủy ban nhân dân các phường xã làm căn cứ để triển khai phong trào cơ
sở Thành phố cũng đã ưu tiên quỹ đất dành cho các hoạt động vui chơi, giải trí công cộng, đầu tư hàng trăm dụng cụ tập luyện thể dục thể thao miễn phí tại các nơi công cộng, công viên, quảng trường, dải cây xanh… phục vụ cho nhân dân; ưu tiên các hoạt động thể dục, thể thao cộng đồng, hỗ trợ phát triển thể dục, thể thao, các dụng cụ tập luyện thể thao, các dụng cụ rèn luyện sức khỏe, trò chơi trẻ em cho 04 xã xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố Đầu tư xây dựng các thiết chế văn hóa – thể thao như: Trung tâm Văn hóa thông tin thể thao thành phố, Trung tâm Văn hóa thể thao phường xã; Nhà văn hóa xã, khu thể thao thôn, xây dựng các thiết chế văn hóa thể thao gắn với xây dựng nông thôn mới ở các xã đăng ký xây dựng nông thôn mới; bồi dưỡng lực lượng nhân lực quản lý nhà nước về thể thao trên cơ sở đó tham mưu cho Hội đồng nhân dân thành phố ban hành Nghị quyết về thu chi ngân sách, ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định phân bổ ngân sách thành phố hàng tỷ đồng mỗi năm cho hoạt động thể dục thể thao thành phố và cơ sở [16]
Bảng 1.1 Cơ sở vật chất của văn hóa – thể dục, thể thao thành phố Quy Nhơn
Trang 39Đơn vị
Tổng số sân vận động không có khán đài (có
đường chạy)
khách sạn)
ngành, đoàn thể quản lý
Công trình
Tồng số công trình thuộc ngành giáo dục –
đào tạo (cơ sở giáo dục – đào tạo)
Công trình
Tổng số công trình thuộc Liên đoàn lao
động,Đoàn thanh niên,…
Công trình
Trang 40Đơn vị
Nguồn: Phòng Văn hóa, thể thao TP Quy Nhơn
Bảng 1.2 Tổng hợp số Đề án, dự án đã và đang triển khai tại thành phố Quy Nhơn
STT Tên đề án/dự án
Địa điểm thực hiện
Thời gian thực hiện
Đơn vị thực hiện Ghi chú
Trung tâm Văn hóa
thông tin thể thao
thành phố Quy Nhơn
47 Nguyễn Huệ
1976 đến nay
Trung tâm Văn hóa thông tin thể thao thành phố Quy Nhơn
Bóng bàn, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, võ thuật, thể thao ngoài trời khác
1980 đến nay
UBND phường Đống Đa
Cầu lông,gym,thể dục dưỡng sinh, lân sư rồng
Trung tâm Văn hóa
thể thao phường Lý
Thường Kiệt
256 đường Tăng Bạc
2011