TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN Đề tài: Quan điểm toàn diện và sự vận dụng vào quá trình xây dựng và phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA THỐNG KÊ
TIỂU LUẬN
MÁC-LÊNIN
Đề tài: Quan điểm toàn diện và sự vận dụng vào quá trình xây dựng và phát triển trường
Đại học Kinh tế Quốc dân
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Phương Ngân
Mã sinh viên : 11193694 Lớp : Triết học Mác-Lênin(219)_21 Giáo viên hướng dẫn : Ths.Nguyễn Văn Thuân
Hà Nội - 2020
Trang 2MỤC LỤC
I Sơ lược tính yêu cầu của tiểu luận
II Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận
III Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
IV Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn
CHƯƠNG I Lý luận chung về quan diểm toàn diện 5
I. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến………
5
II. Quan điểm toàn diện trong lịch sử triết
học……… 6
III. Quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Mác – Lênin…8
CHƯƠNG II Giới thiệu về trường Đại học Kinh tế
I. Giới thiệu
chung 9
II. Lịch sử hình
thành……… 9
III. Sứ mệnh 10
CHƯƠNG III Quá trình xây dựng và phát triển 10
Trang 3I. Nội
dung 10
II. Thành
tựu……… 11
CHƯƠNG IV Phương hướng, quá trình phát triển trong tương lai và việc vận dụng quan điểm toàn
I. Mục
tiêu……… 12
II. Những hạn chế, bất cập……… 13
III.Vận dụng quan điểm toàn diện vào phương hướng giải quyết……….13
CHƯƠNG V Kết luận 15
LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của sự phát triển Trước Các Mác, vấn đề bản chất của phát triển chưa được giải đáp một cách khoa học Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người Khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn cơ sở vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con
Trang 4người tự hoàn thiện chính bản thân họ Dưới sự phát triển toàn diện, thế giới đã diễn ra nhiều công cuộc đổi mới và toàn cầu hóa Đô thị hóa nhanh, công nghệ và giáo dục phát triển là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá
sự phát triển của một quốc gia Đặc biệt trong úa trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu tìm hiểu tri thức của nhân loại càng được mở rộng Theo
Leonardo da Vinci: “Học hỏi là điều duy nhất mà trí tuệ không bao giờ mệt mỏi, không bao giờ sợ hãi, và không bao giờ nuối tiếc.”, nhờ có tri thức con người dần hoàn thiện sự hiểu biết và nhân phẩm của bạn thân, từ đó góp phần xây dựng và phát triển cộng đồng, đất nước
Trong xu thế phát triển đó, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, top những ngôi trường đào tạo trong khối ngành kinh tế ở Việt Nam, trong suốt một quá trình xây dựng và phát triển không ngừng đã cống hiến nhiều đóng góp
to lớn cho nước nhà Chúng ta biết răng, theo quan điểm toàn diện, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật trên nhiều mặt, nhiều mối quan hệ của nó Thực hiện điều này sẽ giúp cho chúng ta tránh được hoặc hạn chế được sự phiến diện, siêu hình, máy móc, một chiều trong nhận thức cũng như trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn, nhờ đó tạo ra khả năng nhận thức đúng được sự vật như nó vốn có trong thực tế và xử lý chính xác, có hiệu quả đối với các vấn đề thực tiễn Nhận thức được tầm quan trọng của quan điểm nhận thức đối với quá trình phát triển của đại học Kinh tế Quốc dân nói riêng và nền kinh tế nước nhà nói chung, em quyết định lựa chọn đề tài: “Quan điểm toàn diện và sự vận dụng vào quá trình xây dựng và phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân”
Nghiên cứu tiểu luận dựa trên quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp logic về lịch sử, phương pháp diễn dịch và quy nạp và phương pháp đối chiếu so sánh Đồng thời, em cũng trao đổi ý kiến và tham khảo tư liệu để làm sáng tỏ đề tài cần nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã cố gắng đưa ra những dữ liệu, những phân tích, những tài liệu tham khảo trong sách, nguồn internet, bài giảng của thầy… và nhiều nguồn khác Tuy nhiên tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp và hạn chế về thời gian cũng như kiến thức nên chắc chắn bài làm sẽ có nhiều sai sót Rất mong thầy góp ý thêm để em có thể hoàn thiện
đề tài tốt hơn Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo Nguyễn
Trang 5Văn Thuân đã tậ tình giúp đỡ và hướng dẫn em hoàn thành bài tiểu luận này!
NỘI DUNG
Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
I Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách rời, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có sự phụ thuộc, không có
Trang 6sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ có chăng chỉ là hời hợt, bề ngoài mang tính ngẫu nhiên Một số người theo quan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau
Ngược lại quan điểm biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một chỉnh thể thông nhất Các sự vật hiện tượng và quá trình cấu thành thế giới đó vừa tách biệt nhau vừa có sựu liên kết qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định cơ sở của sự liên hệ quan lại giữa các sự vật hiện tượng và là tính thống nhất vật chất của thế giới
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, các quá trính, mà
nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong
và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một số khâu trung gian,
có mối liên hệ bản chất, có mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sựu vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng
Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của
sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sựu vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định Hơn nữa, nó
Trang 7thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với
sự vận động và phát triển của sự vật Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò của mối liên hệ bên ngoài đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự chuyển hóa như vậy có thể diễ ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khác quan của chính sự vật và hiện tượng
Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy con người, phép biện chứng duy vật, tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung, mang tính chất phổ biến Những hình thức và những kiểu liên hệ riêng biệt trong các bộ phận khác nhau của thế giới là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác
II. Quan điểm toàn diện trong lịch sử triết học
Quan điểm toàn diện trong lịch sử triết học Trong lịch sử Triết học, trả lời cho câu hỏi: “Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ với nhau hay không?” đã có rất nhiều quan điểm khác nhau Tựu trung lại, có thể chia thành hai nhóm quan điểm về mối liên hệ: Đó là quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng và quá trình trong thế giới hiện thực tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia mà không có bất kỳ một sự tác động qua lại nào Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ
là những biểu hiện bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên Đại diện nổi bật của những người theo quan điểm siêu hình về mối liên hệ có thể kể đến các nhà triết học Thomas Hobbes (1588-1679), Rene Descartes (1596-1650) và Baruch Spinoza (1632-1677) Cũng thuộc quan điểm siêu hình, một số nhà
Trang 8triết học có thừa nhận các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, tuy nhiên giữa chúng không diễn ra được quá trình chuyển hóa lẫn nhau, không liên hệ lẫn nhau, không thể thâm nhập vào nhau và chúng luôn tồn tại độc lập Quan điểm siêu hình đã phủ nhận mọi sự biến đổi của giới tự nhiên, sự vật hiện tượng không thể có
sự phát triển, nếu có chăng cũng chỉ là tương đối Do vậy, họ “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”[24, tr 39] C.Mác và Ph Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đối lập với quan điểm siêu hình, các nhà triết học có cái nhìn biện chứng về mối liên hệ và tìm cách lý giải cho nguồn gốc của các mối liên hệ Cho rằng, các sự vật hiện tượng có mối liên
hệ với nhau các nhà triết gia Hy lạp cổ đại đi tìm mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng từ yếu tố bản nguyên hay cơ sở đầu tiên, đó là “nước” (Thales), “khí” (Anaximen), “Apeiron” (Anaximandre), “lửa” (Hêraclít) Đến hệ thống triết học cổ điển Đức, phép biện chứng duy tâm khách quan xuất hiện ở triết học Kant và hoàn thiện trong triết học Hêghen với phương pháp biện chứng là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về mối liên hệ, song hạn chế trong hệ thống triết học duy tâm của ông chính là sự phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong, vốn có của sự liên hệ của tự nhiên và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là "ý niệm tuyệt đối" hay "tinh thần thế giới" Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong lịch sử triết học Mặc
dù những quan điểm trên chưa phản ánh đúng đắn, chưa có cái nhìn toàn diện về mối liên hệ, thậm chí có những quan điểm sai lầm khi không thừa nhận mối liên hệ, nhưng đó cũng là tiền đề cho Chủ nghĩa Mác kế thừa để xây dựng nên phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong đó,
Trang 9nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện
là một trong những nguyên lý phản ánh thế giới một cách đầy đủ và đúng đắn nhất
III Quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Mác – Lênin Quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể là những quan điểm cơ bản thuộc về phương pháp luận của phép biện chứng duy vật Chúng được xây dựng trên cơ sở lý giải theo quan điểm duy vật biện chứng về tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ
và sự phát triển của tất thảy các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và
tư duy Khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, để đánh giá đúng về sự vật, hiện tượng, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng Quan điểm toàn diện cũng yêu cầu, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần tránh chủ nghĩa chiết trung
và thuật ngụy biện Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng Nắm chắc quan điểm toàn diện khi xem xét sự vật, hiện tượng sẽ giúp con người có nhận thức sâu sắc, toàn diện về sự vật
và hiện tượng đó
Chương II
GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KINH TẾ QUỐC DÂN
I Giới thiệu chung
Trang 10Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (National Economics University)
vinh dự là một trong những trường đại học về đào tạo khối ngành kinh
tế và quản lý tại Việt Nam Đồng thời, trường còn là trung tâm nghiên cứu kinh tế chuyên sâu, tư vấn các chính sách vĩ mô cho Nhà nước Việt Nam, chuyển giao và tư vấn công nghệ quản lý và quản trị
II Lịch sử hình thành
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-TTg ngày 25 tháng 1 năm 1956 với tên gọi ban đầu là Trường Kinh tế Tài chính Lúc đó, Trường được đặt trong hệ thống Đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ
Trang 11Ngày 22 tháng 5 năm 1958, Thủ tướng Chính Phủ ra Nghị định số 252-TTg đổi tên trường thành Trường Đại học Kinh tế Tài chính trực thuộc Bộ Giáo dục
Tháng 1 năm 1965 Trường lại một lần nữa được đổi tên thành trường Đại học Kinh tế Kế hoạch Ngày 22 tháng 10 năm 1985, Bộ trưởng Bộ đại học
và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) ra Quyết định số 1443/QĐ-KH đó đổi tên Trường thành trường Đại học Kinh tế Quốc dân
III Sứ mệnh
Sứ mệnh: Là trường trọng điểm quốc gia, trường Đại học hàng đầu về
kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có sứ mệnh cung cấp cho
xã hội các sản phẩm đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn, ứng dụng và chuyển giao công nghệ có chất lượng cao, có thương hiệu và danh tiếng, đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế về lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới
Chương III
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
I Nội dung Trường Đại học KTQD thành lập năm 1956 với tên gọi Trường Kinh tế
Tài chính Sau hơn 60 năm xây dựng và phát triển, trường đã trở thành một trong những trường đại học top đầu của Việt Nam
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được Chính phủ giao thực hiện 3 nhiệm vụ chính là:
Trang 121.Tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô
2.Đào tạo về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở bậc đại học và sau đại học
3.Đào tạo cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
II Thành tựu
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân luôn luôn giữ vững vị trí là:
Một trong những trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh lớn nhất ở Việt Nam Bên cạnh các chương trình đào tạo cấp bằng cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, Trường cũng thường xuyên tổ chức các khoá bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho các nhà quản lý các doanh nghiệp và các cán bộ kinh tế trên phạm vi toàn quốc
Cho đến nay, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ cán bộ quản lý chính quy, năng động, dễ thích nghi với nền kinh
tế thị trường và có khả năng tiếp thu các công nghệ mới Trong số
những sinh viên tốt nghiệp của Trường, nhiều người hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các doanh nghiệp
Trung tâm nghiên cứu khoa học kinh tế phục vụ đào tạo, hoạch định chính sách kinh tế – xã hội của Đảng, Nhà nước, các ngành, các địa phương và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Trường đã triển khai nhiều công trình nghiên cứu lớn về kinh tế và kinh doanh ở Việt Nam, được Chính phủ trực tiếp giao nhiều đề tài nghiên cứu lớn và quan trọng Ngoài ra, Trường cũng hợp tác về nghiên cứu với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế
– Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh Trường đã có nhiều đúng góp to lớn trong việc tư vấn cho các
tổ chức ở Trung ương, địa phương và các doanh nghiệp Ảnh hưởng sâu rộng của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đến toàn bộ công cuộc đổi mới được tăng cường bởi các mối liên kết chặt chẽ của Trường với các cơ quan thực tiễn