TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Giảng viên hướng dẫn : NGUYỄN VĂN THUÂN
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Quốc Đạt
Lớp học phần : 25
Bộ môn : Triết học Mác-Lênin
MSSV : 11190995
Hà Nội 2020
Trang 2Mục lục
I MỞ ĐẦU: 3
II LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN: 3
1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 3
2 Quan điểm toàn diện trong triết học Mac-Lenin 6
III.VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC KTQD. 7
1 Thực trạng quá trình xây dựng và phát triển đại học KTQD 7
a Giới thiệu sơ lược về trường đại học KTQD: 7
b Những thành tựu đã đạt được của đại học KTQD 8
c Những vấn đề còn tồn tại 9
2 Quan điểm toàn diện trong quá trình xây dựng và phát triển của đại học KTQD 10
a Sự phát triển của đại học KTQD phải được nhìn nhận trong sự phát triển toàn diện 10
b Một số nét đặc thù của trường đại học KTQD 11
c Phát triển ở đại học KTQD mang tính kế thừa 11
IV.Giải pháp phát triển của đại học KTQD. 11
1 Cơ sở hình thành giải pháp 11
a Mục tiêu phát triển 11
b Mô hình phát triển 12
2 Các giải pháp 12
a Đào tạo: 12
b Nghiên cứu khoa học: 13
c Nguồn nhân lực 13
d Nâng cao vị thế 14
e Tài chính 14
f Cơ sở vật chất 15
g Hệ thống quản trị 15
V Kết luận 15
VI.Tài liệu tham khảo……… 16
Trang 3Nội dung tiểu luận
I MỞ ĐẦU:
Những nguyên lý và quy luật của phép biện chứng duy vật luôn là công cụ quý báu đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, bởi chúng được khái quát, đúc kết, rút ra từ chính sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Nguyên
lý về mối liên hệ phổ biến chính là cơ sở hình thành quan điểm toàn diện Quan điểm này đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại của sự vật đó với sự vật khác, coi chúng là cơ sở, căn cứ đầy đủ để nhận thức bản chất của sự vật Quan điểm toàn diện giúp chúng
ta tránh được sự nhận thức phiến diện, siêu hình về sự vật
Với mục đích đi tìm lời giải cho vấn đề xây dựng, phát triển của trường đại học KTQD- một trong những trường đại học đào tạo về kinh tế hàng đầu tại Việt Nam
Để đạt được các mục tiêu phát triển đã đề ra, việc vận dụng quan điểm toàn diện chính là một điều kiện đảm bảo tốt nhất những miêu tiêu này sẽ được thực hiện Xuất phát từ cơ sở lý luận là quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác- Lenin, quan điểm phát triển của đại học KTQD cùng các chủ trương, chính sách của nhà trường cũng như của Đảng, Nhà nước với cơ sở thực trạng phát triển tại đại học KTQD,
tôi quyết định chọn đề tài: “Quan điểm toàn diện và sự vận dụng vào quá trình xây dựng và phát triển của đại học Kinh Tế Quốc Dân” làm nội dung bài luận
bộ môn Triết học Mác- Lênin với mong muốn góp phần vào sự phát triển của trường đại học Kinh Tế Quốc Dân trong thời gian tới
II LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN:
1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến.
Khái niệm liên hệ Trong khi cùng tồn tại, các đối tượng luôn tương tác với nhau, qua đó thể hiện thuộc tính và bộc lộ bản chất bên trong, khẳng định mình là những đối tượng thực tồn Sự thay đổi các tương tác tất yếu làm đối tượng, các thuộc tính của nó thay đổi, và trong điều kiện có thể còn làm nó biến mất, chuyển hóa thành đối tượng khác Sự tồn tại của đối tượng, sự hiện hữu các thuộc tính của nó phụ thuộc vào các tương tác giữa nó với các đối tượng khác, chứng tỏ rằng, đối tượng
có liên hệ với các đối tượng khác Nhưng thế nào là mối liên hệ?
“Mối liên hệ” là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi Ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng khi sự thay đổi của đối tượng này không ảnh hưởng gì đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi
Liên hệ và cô lập hoàn toàn không có nghĩa là, một số đối tượng luôn liên hệ, còn những đối tượng khác lại chỉ cô lập Trong các trường hợp liên hệ xét ở trên vẫn có
sự cô lập, cũng như ở các ở các trường hợp cô lập vẫn có môi liên hệ qua lại
Trang 4Trong thế giới mọi đối tượng vừa trong trạng thái vừa cô lập vừa liên hệ với nhau Chúng liên hệ với nhau ở một số khía cạnh, và khộng liên hệ nhau ở những khía cạnh khác, trong chúng có cả những biến đổi khiến các đối tượng khác thay đổi, lẫn những biến đổi không làm các đối tượng khác thay đổi Như vậy, liên hệ và cô lập thống nhất với nhau mà ví dụ điển hình là quan hệ giữa cơ thể sống và môi trường Cơ thể sống gắn bó với môi trường nhưng đồng thời cũng tách biệt với nó,
có tính độc lập tương đối
Trước đây, các nhà duy tâm rút các mối liên hệ giữa các sự vật từ ý thức, tinh thần (Heeghen cho rằng, ý niệm tuyệt đối là nền tảng của các mối liên hệ, còn Besccoly trên lập trường duy tâm chủ quan lại cho rằng, cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các đối tượng) Từ chỗ cho rằng, mọi tồn tại trong thế giới đều là những mắt khâu của một thực thể vật chất duy nhất, là những trạng thái và hình thức khác nhau của nó, phép biện chứng duy vật thừa nhận, có mối liên hệ phổ biến thì cũng phải phân biệt khái niệm mới này với đơn giản mối liên hệ Khi nói mối liên hệ trong chúng ta chủ yếu mới chỉ chú ý đến sự ràng buộc, tác động lẫn nhau giữa các đối tượng vật chất- hữu hình, trong khi còn thế giới tinh thần ở đó các đối tượng không là những sự vật hữu hình mà lại vô hình như các hình thức tư duy ( khái niệm, phán đoán, suy lý) hay các phạm trù khoa học- hình thức của nhận thức cũng liên hệ chặt chẽ với nhau và liên hệ với các vật thật- nguyên mẫu hiện thực khách quan, mà các hình thức này chỉ là sự phản ánh, tại tạo lại chúng Khi quan niệm về sự liên hệ được mở rộng sáng cho cả giữa các đối tượng khách quan
thì sẽ có quan niệm về mối liên hệ phổ biến Có rất nhiều loại liên hệ, trong đó có
loại liên hệ chung, là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng, loại liên hệ này được gọi là liên hệ phổ biến Thế giới không phải là thể hỗn loạn của các đối tượng, mà là hệ thống các liên hệ đối tượng Như vậy, chính tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở cho mọi liên hệ Nhờ sự thống nhất đó các đối tượng không thể tồn tại cô lập, mà luôn tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau
Còn quan điểm siêu hình về sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng trong thế giới thường phủ định mối liên hệ tất yếu giữa các đối tượng, được phổ biến rộng rãi trong khoa học tự nhiên rồi mới lan truyền sang triết học Ở Tây Âu thế kỷ XVII-XVIII, trình độ của khoa học tự nhiên còn nhiều hạn chế, chủ yếu mới chỉ dừng lại
ở việc sưu tầm tài liệu, nghiên cứu thế giới trong sự tách rời từng bộ phận riêng lẻ Quan điểm như vậy dẫn thế giới quan triết học đến sai lầm là dựng lên ranh giới giả tạo giữa các sự vật, hiện tượng, đặt đối lập các nghiên cứu khoa học chuyên ngành với nhau.Vì vậy, quan điểm siêu hình không có khả năng phát hiện ra những quy luật, bản chất và tính phổ biến của sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới
Trái lại, quan điểm biện chứng duy vật cho rằng, các sự vật, hiện tượng của thế giới tồn tại trong mối liên hệ qua lại với nhau, quy định lẫn nhau, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau, chứ không hề tách biệt nhau Đó là nội dung cảu nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến Cơ sở cảu sự tồn tại đa dạng các mối liên hệ đó là tính
Trang 5thống nhất vật chất của thế giới; theo đó, các sự vật, hiện tượng phong phú trong thế giới chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất Tính chất của mối liên hệ phổ biến Phép biện chứng duy vật khẳng định tính khách quan của các mối liên hệ, tác động trong thế giới Có mối liên hệ, tác động giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với nhau Có mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với các hiện tượng tinh thần Có các mối liên hện giữa những hiện tượng tinh thần với nhau (mối liên hệ và tác động giữa các hình thức của nhận thức) Các mối liên hệ, tác động đó- suy đến cùng, đều là sự quy định, tác động qua lại, chuyển hóa và phụ thuộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng Tính phổ biến của các mối liên hệ, thể hiện ở chỗ, bất kỳ nơi đâu, trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật hiện tượng Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng
Mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng, phong phú Có mối liên hệ về mặt không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay những lĩnh vực rộng lớn của thế giới Có mối liên hệ riêng chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật và hiện tượng cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng nhưng cũng có mối liên
hệ gián tiếp Có mối liên hệ tất nhiên, cũng có mối liên hệ ngẫu nhiên Có mối liên
hệ bản chất và cũng có mối liên hệ thứ yếu Chúng giữ những vai trò khác nhau quy định về sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Để phân loại các mối liên hệ như trên, phải tùy thuộc vào tính chất và vai trò của từng mối liên hệ Tuy vậy, việc phân loại này cũng chỉ mang tính tương đối, bởi vì các mối liên hệ của các đối tượng là rất phức tạp, không thể tách chúng khỏi tất cả các mối liên hệ khác Mọi liên hệ còn cần được nghiên cứu cụ thể trong sự biến đổi
và phát triển cụ thể của chúng
Như vậy, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến khái quát toàn cảnh thế giới trong những mối liên hệ chằng chịt giữa các sự vật, hiện tượng của nó Tính vô hạn của thế giới, cũng như tính vô lượng của các sự vật, hiện tượng đó chỉ có thể giải thích được mối liên hệ phổ biến, được quy định bằng các mối liên hệ có hình thức và vai trò khác nhau
Mỗi sự vật hiện tượng tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau
Do vậy, khi nghiên cứu đối tượng cụ thể cần tuân thủ nguyên tắc toàn diện Từ nội dung của nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thành
nguyên tắc toàn diện với những yêu cầu đối với chủ thể hoạt động thực tiễn và
nhận thức như sau Thứ nhất, khi nghiên cứu xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó Cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó, tức trong chỉnh
Trang 6thể thống nhất của “mối tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với các sự vật khác Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tượng Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ trung gian và với môi trường xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp; trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán cả tương lai của nó Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, một chiều, chỉ thấy mặt này không thấy mặt khác; hoặc chú
ý đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng nên dễ rơi vào thuật ngụy biện ( đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại) và chủ nghĩa chiết trung ( lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên
hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)
2 Quan điểm toàn diện trong triết học Mac-Lenin.
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức
Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các
bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể
cả trực tiếp và gián tiếp) đề cập đến hai nội dung này, V.I Lênin viết “muốn thực
sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn Có ý thức được điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã
có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, “cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc.”
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn
có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về
Trang 7nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó
Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của
sự vật
Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật nguỵ biện Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn Thuật nguỵ biện cũng chỉ chú ý đến những mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng
III VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẠI HỌC KTQD.
1 Thực trạng quá trình xây dựng và phát triển đại học KTQD
a Giới thiệu sơ lược về trường đại học KTQD:
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-TTg ngày 25 tháng 1 năm 1956 với tên gọi ban đầu là Trường Kinh tế Tài chính Lúc
đó, Trường được đặt trong hệ thống Đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ Ngày 22 tháng 5 năm 1958, Thủ tướng Chính Phủ ra Nghị định
số 252-TTg đổi tên trường thành Trường Đại học Kinh tế Tài chính trực thuộc Bộ Giáo dục Tháng 1 năm 1965 Trường lại một lần nữa được đổi tên thành trường Đại học Kinh tế Kế hoạch Ngày 22 tháng 10 năm 1985, Bộ trưởng Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) ra Quyết định số 1443/ QĐ-KH đó đổi tên Trường thành trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm 1989, trường Đại học Kinh tế Quốc dân được Chính phủ giao thực hiện 3 nhiệm vụ chính là: 1/ Tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô; 2/ Đào tạo về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở bậc đại học và sau đại học; và 3/ Đào tạo cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, trường Đại học Kinh tế Quốc dân luôn luôn giữ vững vị trí là:
Trang 8Một trong những trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh lớn nhất ở Việt Nam Bên cạnh các chương trình đào tạo cấp bằng
cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, Trường cũng thường xuyên tổ chức các khoá bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho các nhà quản
lý các doanh nghiệp và các cán bộ kinh tế trên phạm vi toàn quốc
Cho đến nay, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ cán
bộ quản lý chính quy, năng động, dễ thích nghi với nền kinh tế thị trường và có khả năng tiếp thu các công nghệ mới Trong số những sinh viên tốt nghiệp của Trường, nhiều người hiện đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các doanh nghiệp
Trung tâm nghiên cứu khoa học kinh tế phục vụ đào tạo, hoạch định chính sách kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước, các ngành, các địa phương và chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Trường đã triển khai nhiều công trình nghiên cứu lớn
về kinh tế và kinh doanh ở Việt Nam, được Chính phủ trực tiếp giao nhiều đề tài nghiên cứu lớn và quan trọng Ngoài ra, Trường cũng hợp tác về nghiên cứu với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế
Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh Trường đã có nhiều đúng góp to lớn trong việc tư vấn cho các tổ chức ở Trung ương, địa phương và các doanh nghiệp Ảnh hưởng sâu rộng của trường Đại học Kinh tế Quốc dân đến toàn bộ công cuộc đổi mới được tăng cường bởi các mối liên kết chặt chẽ của Trường với các cơ quan thực tiễn
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có quan hệ trao đổi, hợp tác nghiên cứu - đào tạo với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu nổi tiếng và nhiều tổ chức quốc tế của các nước như Liên Bang Nga, Trung Quốc, Bungari, Ba Lan, Sec và Slovakia, Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Nhật, Thuỵ Điển, Hà Lan, Đức, Canada, Hàn Quốc, Thái Lan Đặc biệt, trường cũng nhận được tài trợ của các nước và các tổ chức quốc tế như tổ chức SIDA (Thuỵ Điển), UNFPA, CIDA (Canada), JICA (Nhật Bản), Chính phủ Hà Lan, ODA (Vương quốc Anh), UNDP, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Hanns Seidel (Đức) để tổ chức nghiên cứu, xây dựng chương trình đào tạo và mở các khoá đào tạo thạc sĩ tại Trường về kinh tế, quản lý, quản trị kinh doanh và các lớp bồi dưỡng về kinh tế thị trường Đồng thời, Trường cũng
có quan hệ với nhiều công ty nước ngoài trong việc đào tạo, nghiên cứu và cấp học bổng cho sinh viên
b Những thành tựu đã đạt được của đại học KTQD.
Đại học KTQD là một trong các trường đại học được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Đề án thí điểm đổi mới cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm từ đầu năm
2015 Trong quá trình thực hiện đề án này, trường đã đạt được một số kết quả quan trọng đặt nền tảng cho giai đoạn phát triển mới theo hướng hội nhập quốc tế
Về hoạt động đào tạo, nhà trường đã chủ động hơn trong việc mở các ngành, chuyên ngành mới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động; xây dựng giáo trình theo hướng hội nhập quốc tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin
Trang 9(CNTT) và học liệu điện tử trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Nhà trường đã công bố bộ đề cương các môn học bằng tiếng Anh; đã triển khai áp dụng phần mềm kiểm tra sự liêm chính học thuật Turnitin đối với đào tạo sau đại học, chương trình tiên tiến chất lượng cao và đang bắt đầu áp dụng đối với hệ đại học chính quy
Về kiểm định chất lượng, trường đã hoàn thành công việc đánh giá ngoài do Trung tâm kiểm định chất lượng của Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện, đang xúc tiến triển khai kiểm định một số chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế ACBSP của Mỹ
Có thể nói trong thời gian này, hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn đang có những bước tiến dài về quy mô và số lượng các đề tài Tạp chí Kinh tế và Phát triển số tiếng Anh của trường được xếp trong danh mục trích dẫn châu Á (ACI) Nhà trường đã chủ động tham gia Dự án hỗ trợ tự chủ giáo dục đại học của Ngân hàng Thế giới Theo đó một Thư viện điện tử dùng chung cho các trường đại học, tập trung chủ yếu cho các trường có đào tạo kinh tế và kinh doanh sẽ sớm được hình thành
Về cơ sở vật chất và tài chính, nhà trường đã có nguồn lực tài chính dồi dào hơn
để sớm hoàn thành Nhà Trung tâm đào tạo (dự kiến đưa vào sử dụng trong năm
2017 – sớm hơn 1 năm so với dự kiến), tăng cường cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng các hoạt động chuyên môn của trường
Về hợp tác quốc tế, kể từ khi áp dụng cơ chế tự chủ, nhà trường đã tăng cường các mối quan hệ hợp tác trong đào tạo và nghiên cứu khoa học với hơn 30 đối tác quốc tế bao gồm các trường đại học, các tổ chức, doanh nghiệp trên khắp thế giới Với tất cả sự cố gắng và nỗ lực, Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân đã giữ vững, phát huy và khẳng định vị thế trường trọng điểm quốc gia, trường đầu ngành trong hệ thống giáo dục đại học của cả nước, phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành trường đại học đa ngành về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế nhằm phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa
- Hiện đại hóa đất nước, phục vụ có hiệu quả nhu cầu phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế – xã hội Việt Nam
Đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo toàn diện, chuẩn hóa đội ngũ giảng dạy và phục vụ; tạo ra sự đột phá về chất lượng đào tạo ở một số ngành, chuyên ngành mũi nhọn, đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế đảm bảo sự lan toả và làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng toàn diện các hệ đào tạo Mở rộng, phát triển và khẳng định vị thế là một trung tâm nghiên cứu khoa học và tư vấn kinh tế, quản trị kinh doanh lớn và có uy tín hàng đầu của Việt Nam Phát triển quan hệ hợp tác, liên kết chặt chẽ và nâng cao vai trò đào tạo, nghiên cứu và tư vấn trong mạng lưới các trường đại học có đào tạo về kinh tế và quản trị kinh doanh, trong hệ thống giáo dục đại học, viện nghiên cứu, các doanh nghiệp ở Việt Nam; mở rộng quan hệ hợp tác trao đổi có hiệu quả với các trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới Mở rộng ảnh hưởng và không ngừng nâng
Trang 10cao hình ảnh uy tín của trường trong và ngoài nước Phấn đấu trở thành trường đại học hiện đại với đầy đủ cơ sở vật chất và các trang thiết bị tiên tiến, môi trường phục vụ đào tạo và nghiên cứu cơ bản đạt tiêu chuẩn khu vực với hệ thống giảng đường đủ tiêu chuẩn, hệ thống thư viện hiện đại cùng một hệ thống các dịch vụ cung cấp có chất lượng cao
Những giải thưởng cao quý mà Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân đã được Đảng và Nhà Nước trao tặng: Huân chương Hồ Chí Minh lần 2 (năm 2011); Giai thưởng Phụ nữ Việt Nam (năm 2010); Huân chương Hồ Chí Minh lần 1 (năm 2001), Anh hùng Lao động thời kì Đổi mới (năm 2000); Huân chương Độc Lập Hạng Nhất (1996,2016), Hạng Nhì (1991), Hạng Ba (1986); Huân chương Lao Động Hạng Nhất(1983,2016), Hạng Nhì (1978), Hạng Ba (1961-1972); Huy chương Hữu nghị của nước Cộng hòa DCND Lào (1987,2008); Hàng chục Bằng khen, Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT và các bộ, ngành khác…
c Những vấn đề còn tồn tại.
Trong những năm qua, trường đại học KTQD đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước thông qua việc mở rộng về quy
mô, đa dạng hóa các loại hình và ngành nghề đào tạo, nâng cao chất lượng và bước đầu hội nhập quốc tế Mặc dù đạt được một số thành tựu, kết quả đáng ghi nhận, nhưng trong quá trinh đổi mới vẫn còn tồn tại một số hạn chế
Với cơ chế tự chủ, nhà trường đã chủ động trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực cho các hoạt động đào tạo và phát triển nhà trường cũng như khuyến khích các sinh viên học tập thông qua các chương trình cấp học bổng khuyến khích học tập, học bổng hỗ trợ cho sinh viên nghèo vượt khó Tuy nhiên, hiện nay theo Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân thì khó khăn nhất với các trường thực hiện
đề án tự chủ trong giai đoạn vừa qua là văn bản không nhất quán, nhiều nội dung
về tự chủ nhưng lại phải tuân theo quy định hiện hành Đã gọi là thí điểm tự chủ ở mức độ thì phải khác quy định hiện hành nhưng hiện vẫn còn khá nhiều nội dung yêu cầu tuân theo quy định hiện hành như quy định về luật đầu tư công, chi tiêu công Những điều này rất ràng buộc các trường trong qua trình thực hiện tự chủ Thách thức lớn nhất đặt ra đối với nhà trường hiện tại là trong bối cảnh phát triển
và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, đang tạo ra sức ép phải đổi mới giáo dục đại học nói chung, và đặt trường Đại học Kinh tế Quốc dân nói riêng, trước nguy cơ tụt hậu so với chính mình
Chất lượng của lực lượng lao động được đào tạo trình độ vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế của nước ta Thiếu các nghiên cứu khoa học có chất lượng quốc tế từ các khoa, viện trong nhà trường Thiếu chính sách tạo động lực hiệu quả đối với đầu tư của xã hội, doanh nghiệp cho nhà trường
Những hạn chế này sẽ trở nên thách thức hơn khi Việt Nam tham gia sâu rộng vào chuỗi sản xuất toàn cầu Khi cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã và đang tạo
ra những thay đổi sâu sắc về cơ cấu ngành/nghề lao động và những yêu cầu mới về