1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng điều hành chính sách tài khoản của chính phủ việt nam trong giai đoạn 2011 2020

20 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng điều hành chính sách tài khoản của chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020
Trường học Trường Đại Học Tài Nguyên Và Môi Trường Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế tài chính
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 712,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó có hai chính sách ổn định nhất trong nền Chính phủ vào quy mô hoạt động của nền kinh tế thông qua các biện pháp thay đổi chi tiêu và/hoặc thuế, thông qua đó nhằm thúc đầy tăng t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI KHOA KINH TẾ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

KỲ THI KẾT THÚC HỌC PHẦN

HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021

Đề tài bài tập lớn:

Thực trạng điều hành chính sách tài khoản của

Chính phủ Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC CHƯƠNG I: Khái quát cơ sở lý luận về nội dung của chính

sách tài khóa: 3

1 Chính sách tài khóa là gì? 3

1.1 Khái niệm tài khóa 3

1.2 Khái niệm chính sách tài khóa 3

2 Công cụ của chính sách tài khóa: 4

2.1 Chi tiêu chính phủ: 4

2.2 Thuế: 5

3 Công cụ của CSTK: 5

4 Vai trò của chính sách tài khóa 5

4.1 Trong kinh tế vĩ mô: 5

4.2 Những hạn chế của chính sách tài khóa trong nền kinh tế vĩ mô: 6

4.3 Hiệu quả trong nền kinh tế mở: 6

5 Phân loại chính sách tài khóa: 7

5.1 Chính sách tài khóa mở rộng: 7

5.2 Chính sách tài khóa thắt chặt: 7

5.3 Chính sách tài khóa trong điều kiện có sự ràng buộc về ngân sách: 7

CHƯƠNG 2: Phân tích thực trạng điều hành chính sách tài khóa của chính phủ giai đoạn 2011-2020: 8

1 Bối cảnh thế giới và trong nước giai đoạn 2011 – 2020 8

2 Giai đoạn 2011-2015: 9

3 Giai đoạn 2016-2020: 10

4 Những vấn đề đặt ra: 11

CHƯƠNG 3: Đánh giá và đề xuất một số giải pháp về điều hành chính sách tài khóa của Chính Phủ: 12

1 Đánh giá: 12

2 Đề xuất: 13

Trang 3

Lời Mở Đầu : Như chúng ta đã biết các nền kinh tế trong thị

trường thường xuyên biến động Do vậy bất cứ một nỗ lực nào đến

từ phía chính phủ sử dụng để bình ổn kinh tế đều được xếp vào chính sách ổn định Trong đó có hai chính sách ổn định nhất trong nền Chính phủ vào quy mô hoạt động của nền kinh tế thông qua các biện pháp thay đổi chi tiêu và/hoặc thuế, thông qua đó nhằm thúc đầy tăng trường kinh tế, tạo công an việc làm hoặc bình ổn giá và hạn chế lạm phát.kinh tế thị trường giúp chính phủ có thể kiểm soát các hiện tượng kinh tế đó là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ Trước tiên chúng ta hãy cùng nhau đi tìm hiểu chính sách tài khóa là gì nhé ? Cùng nhau tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé!

CHƯƠNG I: Khái quát cơ sở lý luận về nội dung của chính sách tài khóa:

1 Chính sách tài khóa là gì?

1.1 Khái niệm tài khóa

Tài khóa là một chu kỳ có thời gian là 12 tháng Chúng có hiệu lực báo cáo dự toán cũng như quyết toán hàng năm của doanh nghiệp cũng như ngân sách Nhà nước Do vậy tài khóa được sử dụng ngang bằng hoặc để thay thế cho “năm tài chính” hoặc “năm quyết toán thuế”

1.2 Khái niệm chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa (Fiscal Policy) là quyết định của chính phủ về điều chỉnh mức chi tiêu và thuế suất nhằm mục đích hướng nền

Trang 4

kinh tế vào mức sản lượng, mức việc làm mong muốn, ổn định giá

cả, lạm phát trong nền kinh tế của một quốc gia Hiểu một cách đơn giản thì đây là công cụ của nền kinh tế vĩ mô, tác động đến quy mô hoạt động kinh tế thông qua thay đổi chi tiêu, thuế của chính phủ

Xét trong điều kiện kinh tế bình thường thì chính sách này tác động vào giúp tăng trưởng kinh tế Còn trong điều kiện khi nền kinh tế có dấu hiệu phát triển quá mức hay suy thoái thì nó lại được dùng như công cụ đưa nền kinh tế trở lại trạng thái cân bằng Chỉ có cấp chính quyền trung ương như chính phủ mới có quyền ban hành cũng như thực thi chính sách tài khóa còn cấp chính quyền địa phương hoàn toàn không có chức năng này

2 Công cụ của chính sách tài khóa:

Như đã trình bày ở trên, chính sách tài khóa là các biện pháp can thiệp của Chính phủ vào quy mô hoạt động kinh tế bằng các biện pháp thay đổi chi tiêu và/hoặc thuế Do đó, công cụ chủ yếu của chính sách tài khóa là: Chi tiêu chính phủ và thuế

Đối với chính sách tài khóa đó là thuế và số tiền chi tiêu của chính phủ

Đối với chính sách tiền tệ đó là lãi suất; dự trữ bắt buộc; chính sách tỷ giá hối đoái; nới lỏng định lượng; nghiệp vụ thị trường mở…

2.1 Chi tiêu chính phủ:

Chi tiêu của chính phủ bao gồm hai loại: Chi mua sắm hàng hóa dịch vụ và chi chuyển nhượng Cụ thể:

Chi mua sắm hàng hóa dịch vụ: Theo đó, chính phủ sẽ dùng

ngân sách để mua vũ khí, khí tài, xây dựng đường xá, cầu cống và

Trang 5

các công trình kết cấu hạ tầng, trả lương cho đội ngũ cán bộ nhà nước… Chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ quyết định quy mô tương đối của khu vực công trong tổng sản phẩm quốc nội – GDP so với khu vực tư nhân Khi chính phủ tăng hay giảm chi mua sắm hàng hóa, dịch vụ thì sẽ tác động đến tổng cầu theo tính chất số nhân Tức là nếu chi mua sắm của Chính phủ tăng lên một đồng thì sẽ làm tổng cầu tăng nhiều hơn một đồng và ngược lại, nếu chi mua sắm của chính phủ giảm đi một đồng thì sẽ làm tổng cầu thu hẹp với tốc độ nhanh hơn Bởi vậy, chi tiêu mua sắm được xem như một công cụ điều tiết tổng cầu

Chi chuyển nhượng: Chi chuyển nhượng là các khoản trợ cấp

của Chính phủ cho các đối tượng chính sách như người nghèo hay nhóm dễ bị tổn thương khác trong xã hội (người khuyết tật, trẻ mồ côi,….) Nếu như chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ của Chính phủ tác động trực tiếp đến tổng cầu thì chi chuyển nhượng lại có tác động gián tiếp đến tổng cầu thông qua việc ảnh hưởng đến thu nhập và tiêu dùng cá nhân

2.2 Thuế:

Tại Việt Nam, có nhiều loại thuế khác nhau mà cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng chịu thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, … nhưng

về cơ bản thuế được chia làm 2 loại sau:

a) Thuế trực thu (direct taxes): Thuế đánh trực tiếp lên

tài sản và/hoặc thu nhập của người dân;

b) Thuế gián thu (indirect taxes): Thuế đánh lên giá trị

của hàng hóa, dịch vụ trong lưu thông thông qua các hành

vi sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế

Trang 6

Thông qua việc ban hành các chính sách về thuế, Chính phủ đã tác động vào quy mô hoạt động kinh tế theo những cách sau:

- Thuế làm giảm thu nhập khả dụng của cá nhân từ đó dẫn đến chi cho tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ của cá nhân giảm xuống Điều này khiến tổng cầu giảm và GDP giảm

-Thuế tác động khiến giá cả hàng hoá và dịch vụ “méo mó” từ đó gây ảnh hưởng đến hành vi và động cơ khuyến khích của cá nhân

3 Công cụ của CSTK:

Chính phủ có thể lựa chọn thay đổi chi tiêu Chính Phủ hoặc Thuế hoặc đồng thời cả chi tiêu Chính Phủ và Thuế để mở rộng hay cắt giảm tổng cầu nhằm bình ổn nền kinh tế

4 Vai trò của chính sách tài khóa

4.1 Trong kinh tế vĩ mô:

Trong kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng

Trong nền kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa là công cụ giúp chính phủ điều tiết nền kinh tế, thông qua chính sách chi tiêu mua sắm

và thuế

Với điều kiện bình thường, chính sách tài khoá được sử dụng để tác động vào tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên, tại thời điểm nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái (hay phát triển quá mức mục tiêu), chính sách tài khóa lại trở thành công cụ được sử dụng để giúp đưa nền kinh tế về trạng thái cân bằng

Về mặt ý thuyết, chính sách tài khóa là một công cụ nhằm khắc phục thất bại của thị trường

Trang 7

Phân bổ có hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế thông qua thực thi chính sách chi tiêu của chính phủ và thu chi ngân sách hiệu quả

4.2 Những hạn chế của chính sách tài khóa trong nền kinh

tế vĩ mô:

Chính sách tài khóa được ban hành và áp dụng trễ hơn so với diễn biến của thị trường tài chính, chính phủ cần thu thập dữ liệu báo cáo trong 1 khoảng thời gian nhất định, sau đó mới thống kê làm căn cứ đưa ra những quyết định mang tính chiến lược, quyết định ban hành chính sách

Sau khi chính sách được ban hành: cần 1 khoản thời gian để đến được người dân, người thụ hưởng

4.3 Hiệu quả trong nền kinh tế mở:

Trong nền kinh tế mở, hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào chế

độ tỷ giá hối đoái Nếu là chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chính sách tài chính sẽ phát huy hiệu quả Còn nếu là chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi, chính sách tài chính(chính sách tài khóa) sẽ không có hiệu lực do những thay đổi tỷ giá gây ra bởi chính sách tài chính sẽ triệt tiêu hiệu quả của chính sách

5 Phân loại chính sách tài khóa:

Chính sách tài khóa có nhiều cách phân loại khác nhau Chính phủ

có thể lựa chọn việc thay đổi chi tiêu hoặc thay đổi thuế hoặc thay đổi cả hai để cắt giảm, mở rộng tổng cầu giúp bình ổn nền kinh tế

5.1 Chính sách tài khóa mở rộng:

Chính sách tài khóa mở rộng hay còn gọi là chính sách tài khóa thâm hụt Là chính sách để tăng cường chi tiêu cho chính phủ so

Trang 8

với nguồn thu thông qua: Gia tăng mức độ chi tiêu của chính phủ nhưng không tăng nguồn thu; giảm nguồn thu từ thuế nhưng không giảm chi tiêu; hoặc vừa tăng mức độ chi tiêu của chính phủ

và vừa giảm nguồn thu từ thuế Được áp dụng để kích thích thị trường tăng trưởng, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động

5.2 Chính sách tài khóa thắt chặt:

Chính sách tài khóa thắt chặt hay còn gọi là chính sách tài khóa thặng dư Là chính sách hạn chế chi tiêu của chính phủ bằng một

số nguồn thu khác như: chi tiêu của chính phủ sẽ ít đi nhưng không tăng thu; hoặc không giảm chi tiêu nhưng lại tăng thu từ thuế hoặc là vừa giảm chi tiêu vừa tăng thu từ thuế Được áp dụng trong trường hợp nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nhanh, thiếu bền vững hoặc bị lạm phát cao

5.3 Chính sách tài khóa trong điều kiện có sự ràng buộc về ngân sách:

Trong một vài năm gần đây khi mà chính phủ nhiều nước có các khoản thâm hụt ngân sách Nhà nước quá nhiều thì việc tăng chi tiêu của chính phủ hoặc giảm thuế để kích thích nền kinh tế trong bối cảnh suy thoái được đánh giá là ít có sự khả thi về mặt chính trị Đặt mục tiêu này sẽ đòi hỏi chính phủ các nước cắt giảm chi tiêu, tăng thuế Do đó ít phạm vi hơn cho tăng chi tiêu, giảm thuế

để kích thích toàn bộ nền kinh tế

CHƯƠNG 2: Phân tích thực trạng điều hành chính sách tài khóa của chính phủ giai đoạn 2011-2020:

Đánh giá chung trong giai đoạn 2011-2020, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, kinh tế Việt Nam

đã thành công trong việc vượt qua các bất ổn và phục hồi tốc độ

Trang 9

tăng trưởng GDP Đóng góp vào kết quả này phải kể đến vai trò của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trong đó, sự phối hợp giữa 2 chính sách ngày càng được chú trọng và đạt được hiệu quả hơn

1 Bối cảnh thế giới và trong nước giai đoạn 2011 – 2020

Đánh giá chung trong giai đoạn 2011-2020, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, kinh tế Việt Nam

đã thành công trong việc vượt qua các bất ổn và phục hồi tốc độ tăng trưởng GDP Đóng góp vào kết quả này phải kể đến vai trò của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trong đó, sự phối hợp giữa 2 chính sách ngày càng được chú trọng và đạt được hiệu quả hơn

Những năm đầu của giai đoạn 2011 – 2020, kinh tế thế giới xuất hiện thêm nhiều bất ổn mới sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009 và khủng hoảng nợ công ở châu Âu Tăng trưởng kinh tế thế giới và ở nhiều nước đã chậm hơn so với kỳ vọng, chứa đựng nhiều rủi ro Toàn cầu hóa vẫn là xu hướng chủ đạo nhưng sự thay đổi của khoa học và công nghệ và tương quan lực lượng giữa các cường quốc đã tác động mạnh mẽ đến xu thế hội nhập kinh tế quốc tế theo hướng tăng cường các liên kết kinh tế song phương Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động phức tạp, kinh

tế trong nước giai đoạn 2011-2020 cũng đã bị ảnh hưởng đáng kể Trong nửa đầu giai đoạn 2011 – 2020, kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của kinh tế thế giới, do khủng hoảng tài chính

và khủng hoảng nợ công ở châu Âu chưa được giải quyết, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống dân cư Tăng trưởng GDP đã giảm xuống dưới 6% vào các năm 2012 –

Trang 10

2014, riêng năm 2011 lạm phát tăng cao đến 18,13% Trong bối cảnh đó, ổn định kinh tế vĩ mô được ưu tiên với các giải pháp về tài khóa và tiền tệ đã được triển khai đồng bộ nhằm kiềm chế lạm phát Tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh, đặc biệt là từ năm

2012 đến nay Sau khi đã đạt được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, các giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh được ban hành

và thực thi đã hỗ trợ cho sự phục hồi của tăng trưởng Tốc độ tăng GDP đã quay trở lại mức trên 6% kể từ năm 2015 và đến năm

2018 đạt 7,08% - mức cao nhất trong vòng 10 năm trở lại đây Tăng trưởng kinh tế vẫn tiếp tục duy trì trong 9 tháng đầu năm

2019 với mức 6,98% và được dự báo khả quan trong năm 2020

2 Giai đoạn 2011-2015:

Trong 5 năm (2011-2015), mục tiêu của điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô có sự thay đổi trong từng thời kỳ: Kiềm chế lạm phát năm 2011-2012; Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ sản xuất – kinh doanh năm 2013-2015 Theo đó, sự phối hợp CSTK – CSTT trong từng thời kỳ cũng có những điều chỉnh để phù hợp với các mục tiêu mới Cụ thể:

- Kiềm chế lạm phát năm 2011-2012:

Trong bối cảnh tăng trưởng phục hồi nhưng lại đi kèm với lạm phát

ở mức cao, đồng tiền mất giá, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách được xác định tại Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP của Chính phủ ngày 24/2/2011 (Về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội)

Để kiềm chế lạm phát, CSTK đã được điều chỉnh theo hướng cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) Các

Trang 11

giải pháp cụ thể đó là: Tăng thu NSNN từ 7-8% so với dự toán ngân sách năm 2011; Tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên; Giảm bội chi NSNN năm 2011 xuống dưới 5% GDP; Không ứng trước vốn NSNN, vốn trái phiếu chính phủ (TPCP) năm 2012 cho các dự án, trừ các dự án phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai cấp bách; Không kéo dài thời gian thực hiện các khoản vốn đầu tư từ NSNN, TPCP kế hoạch năm 2011

- Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ sản xuất kinh doanh các năm 2012-2015

Mặc dù, phối hợp CSTK – CSTT được tăng cường nhằm ứng phó với lạm phát, tuy nhiên, tác động của CSTK – CSTT thắt chặt

đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Kết quả là lạm phát năm 2012 giảm xuống còn 9,21%; tốc độ tăng trưởng GDP giảm từ 6,24% của năm 2011 xuống còn 5,25% vào năm

2012 Trước thực tế đó, CSTK – CSTT chuyển sang hướng tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN

Về phía CSTK, các biện pháp về gia hạn nộp thuế và giảm thuế đã được thực hiện như: Gia hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) cuối năm 2012 và năm 2013; giảm thuế suất thuế TNDN sớm hơn lộ trình cho các DN nhỏ và vừa, các

DN sử dụng nhiều lao động trong một số lĩnh vực đặc thù Cũng trong giai đoạn này, thuế suất thuế TNDN liên tục giảm theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNDN năm 2013… Đồng thời, còn thực hiện đẩy nhanh việc giải ngân vốn đầu tư NSNN, vốn TPCP, vốn chương trình mục tiêu quốc gia…

Trang 12

3 Giai đoạn 2016-2020:

Có thể thấy, sự phối hợp giữa CSTK và CSTT trong nửa đầu giai đoạn (2011-2015) đã được chú trọng và đảm bảo hướng tới một mục tiêu chung là ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế Tuy nhiên, hiệu quả phối hợp 2 chính sách này vẫn chưa cao, khiến cho mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô chưa thực

sự bền vững Sang đến nửa sau của giai đoạn (2016-2020), hiệu quả phối hợp CSTK – CSTT đã có sự cải thiện, hướng đến duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng và đẩy mạnh các cải cách để

cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2016-2020 theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW và Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 18/11/2016

Đối với CSTK: Hệ thống chính sách thu NSNN tiếp tục được điều chỉnh nhằm hỗ trợ cho đầu tư và sản xuất kinh doanh như tiếp tục

hạ thuế suất phổ thông thuế TNDN xuống còn 20% từ năm 2016; miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp; điều chỉnh một số sắc thuế nhằm định hướng tiêu dùng và khai thác, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, thiên nhiên; giảm thuế suất thuế nhập khẩu để thực hiện các cam kết hội nhập Đồng thời, tiếp tục thực hiện hiện đại hóa công tác quản lý thu (mở rộng thực hiện hóa đơn điện tử, khai thuế qua mạng cho các DN, triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử ), đơn giản thủ tục, vừa tạo thuận lợi tối đa cho người nộp thuế, vừa tập trung đầy đủ, kịp thời nguồn thu vào NSNN Tỷ lệ huy động thu vào NSNN bình quân 2016-2018 đạt 24,9% GDP; tỷ lệ thu nội địa bình quân đạt 80% tổng thu ngân sách, cao hơn mức 67,7% của giai đoạn 2011-2015

Cơ cấu lại chi NSNN được cơ cấu lại theo các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tăng cường quản lý chi NSNN chặt chẽ,

Ngày đăng: 15/06/2022, 05:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w