Trương Ái Vân Có người cho rằng “Sáng tạo là hành trình cô đơn của người nghệ sĩ” Song trong bài viết “Văn nghệ sĩ với hiện đại”, nhà văn Pháp Albert Camus lại khẳng định “Trái với thành kiến thông thường, nếu có người không được phép sống cô đơn, đó là người nghệ sĩ” Bằng những hiểu biết của mình về một số tác giả văn học, anhchị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên Bài làm “Tình tự quá , thiêng liêng êm ái quá Thơ ở đâu thong thả xuống đường mưa Những hoa quý tỏa hương nơi vương giả Mây đã tình như th.
Trang 1Trương Ái Vân
Có người cho rằng: “Sáng tạo là hành trình cô đơn của người nghệ sĩ” Song trong bài viết “Văn nghệ sĩ với hiện đại”, nhà văn Pháp Albert
Camus lại khẳng định: “Trái với thành kiến thông thường, nếu có người không được phép sống cô đơn, đó là người nghệ sĩ”
Bằng những hiểu biết của mình về một số tác giả văn học, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên
Bài làm
“Tình tự quá , thiêng liêng êm ái quá Thơ ở đâu thong thả xuống đường mưa Những hoa quý tỏa hương nơi vương giả Mây đã tình như thi sẽ đời xưa”
(Tình mai sau – Xuân Diệu )
Phải chăng , tự bao giờ , người ta luôn bằng lòng với quan niệm rằng : Tầm quan trọng trong việc sáng tạo văn chương chỉ nằm ở cái đẹp ? Văn chương luôn bắt nguồn từ một men say, một tia chớp lóe sáng , một mạch nước âm ỉ từ bao giờ? Mỗi tác phải mở ra được một hình thái riêng biệt nhờ chất “độc” và lạ trong quá trình sáng tạo , thai nghén văn học nhưng lại có ý kiến quan niệm sự sáng tạo ấy phải nhất thiết là “hành trình cô đơn của người nghệ sĩ” Say mê trong khu vườn ẩn đầy những vẻ đẹp tiềm tàng của văn học , đôi khi ta cũng băn khoăn tự hỏi : “Điều
gì khiến sức sáng tạo của nhà là vô biên?” Tìm gặp ý kiến của Albert Camus khẳng
định : “Nếu có người không được phép sống cô đơn , đó là người nghệ sĩ”
Văn học là một loại hình sáng tác , tái hiện lại những vấn đề của đời sống xã hội
và lấy con người làm tâm điểm để vẽ những vòng tròn xung quanh chúng Đặc biệt hơn cả là phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu , cách thể hiện nội dung các đề tài được bộc lộ rõ thông qua hình tượng nghệ thuật ngôn từ Chính vì vậy mà mỗi tác phẩm là một chặng đường thăng hoa về mặt tinh thần lẫn tâm trí của một người nghệ sĩ , anh ta phải “bào mòn” và hao tổn không ít tâm tư ,
sức lực để “thai nghén” ra được một tác phẩm trọn vẹn , “là tác phẩm chung cho loài người” (Nam Cao ).Nếu cho rằng “sáng tạo là hành trình cô đơn của người
nghệ sĩ”, ta có thể hiểu sự cô đơn này đi theo lối đa nghĩa.Cô đơn là nơi không gian
cư ngụ của nghệ thuật , người nghệ sĩ nhất định phải nhất thiết băng qua cái hư vô
đó , cốt tử đối với nghệ sĩ , là một nhu cầu thực sự Cô đơn đó là trạng thái duy
Trang 2nhất mà ta cho phép bản thân giam giữ mình trong chính để ta đối diện , có ý thức
về bản thân ta Nhưng không có nghĩa rằng nhà văn phải lủi thủi một mình hằng ngày , hằng giờ mà chỉ là anh ta cô độc trong sự hình thành văn học để đưa đến ý kiến chủ quan cho nhân loại Trái ngược lại , sống không cô đơn theo khẳng định của Alber Camus là lúc ta phải không ngừng thử sức mình với những cạm bẫy xã hội Nhà văn không được sống khép kín mà anh ta phải luôn là người đi tìm tòi , giao du và gặp gỡ tứ xứ để đổi lấy kinh nghiệm sống , những hiện thực lẫm liệt của cuộc đời khác nghiệt này
Tuy nhiên đối với ý niệm “không được phép sống cô đơn” của Alber Camus , ta cần phải phân biệt rõ giữa sống cô đơn và cô đơn hình thành trong tiềm thức là hai nghĩa vô cùng khác nhau Vì sao lại nói việc sáng tạo văn chương lại phải cô đơn ? Văn học là một phương thức sáng tạo vô cùng riêng biệt với hội họa hay âm nhạc, bởi nó hàm chứa trong chính mình những hình tượng nghệ thuật , ngôn từ nghệ thuật và những thông điệp ẩn sâu bên trong cần độc giả tự bản thân mình cảm
nhận Marguerie Duras từng nhấn mạnh rằng : “Nỗi cô đơn của viết là nỗi cô đơn
mà không có nó sẽ không có tác phẩm” Ta cần vạch rõ ranh giới rằng : một người
lui vào ở ẩn trong núi cũng chưa hẳn đã cô đơn nếu như anh ta vẫn chỉ sống bằng ý thức của người khác và một người tự sống tác biệt với loài người chưa hẳn đã dẫn
họ đến với nỗi cô đơn thực sự Cô đơn thực sự sẽ chỉ diễn ra khi con người ta có nhận thức về chính bản thân mình và đó là khi con người không còn chạy trốn trong các mối quan hệ hay phủ nhận cái nhìn về chính họ Có lẽ vì phương thức sáng tạo của văn học rất khác , đậm màu riêng biệt , nó cần bắt rễ ở cuộc đời này
mà trung tâm là con người để chiêm nghiệm và chiếm lĩnh một cách sâu sắc Chính
vì thế mà người nghệ sĩ không ngừng “bơi” ra giữa biển người của thế giới , vũ trụ bao la để thưởng thức những mỹ vị , đau khổ của trần ai này Họ chỉ nhốt mình trong chính suy nghĩ để tự đối mặt với bản thân như một tấm gương phản chiếu hình ảnh song vẫn phải là “nhà uyên bác” về kiến thức và sống không cô đơn để dày dặn vốn sống như Albert Camus nói , lắp đầy bộ não bằng con chữ
Tác phẩm văn học chân chính là kết tinh từ những mật ngọt của tình yêu và tâm hồn người nghệ sĩ Vì lẽ đó mà nó cần người cầm bút hội tụ đủ tố chất , cái tâm và cái tài Và để họ sở hữu được sự cô đơn đó là điều không hề đơn giản vì cô đơn chỉ xuất phát khi tâm hồn ta cứng cỏi , dám đương mình “đâm thẳng” và nỗi đau mà ta luôn tránh mặt và sợ hãi Trong cuốn “Những mơ mộng của người đi dạo cô độc”
cũng nói về giá trị của cô đơn: “ …một kẻ cô đơn đang suy nghĩ nhất định quan tâm rất nhiều đến bản thân mình”.Mỗi tác phẩm văn chương đều là bức thông điệp
mà tác giả gửi gắm đến với nhân sinh mà có lẽ là “nhờ vả” nỗi cô đơn không ít
Trang 3Nhờ cô đơn ấy mà ta có được mộng tưởng , suy tư và con người có thể hoàn thành trọn vẹn mình trong chính tác phẩm vì công việc của nhà văn là đi tìm tòi bản chất thực sự ẩn náu bên trong con người Thậm chí ngay từ việc chấm bút sáng tạo văn chương , nhà văn đã phải có lối đi riêng trong cách viết , viết từ những nỗi cô đơn
dày vò tâm can : “Nếu không có lối đi riêng thì người đó không bao giờ là nhà văn cả…Nếu anh ta không có lối đi riêng , anh ta khó trở thành nhà văn thực thụ.” (Sê- Khốp) Ngay từ những bước khởi điểm , đặt chân vào nền móng văn học thì nhà
văn đã phải vắt không ít chất xám , tự giam lỏng mình hay có người còn giam giữ như một tù nhân trong chính những hỗn độn suy ngẫm , trầm tư của họ Những khắc khe, tiêu chuẩn ấy sẽ làm tác phẩm của họ trở thành tác phẩm chân chính bởi
nó cao cả , đậm ý vị nhân sinh gửi đến con người
Bàn về phương thức sáng tạo , mà ý riêng là nói đến sự cô đơn trong chính hành trình chắp bút của nhà văn , ta đọc được “Viết” của Marguerite Duras Bà mở đầu
tác phẩm của mình: “Chính là khi ở trong một ngôi nhà mà ta cô đơn” Trong câu
nói khởi hành ấy xuất hiện hai yếu tố quan trọng đối với sự nghiệp sáng tạo của bà: ngôi nhà và nỗi cô đơn Viết đối với Duras không tách rời hai yếu tố này, và một điều quan trọng nữa là chúng gắn kết với nhau Ngôi nhà là không gian duy nhất, không gian đặc thù của cô đơn, không gian của viết Và với cái điều kiện của ngôi nhà , Duras đã tự xác lập điều kiện viết : bà không bị lạc ở bên ngoài , mà bị lạc ở trong căn nhà mình , nghĩa là bị lạc trong nội tâm của chính mình Ngôi nhà thành
ra một không gian nội tâm hoá, thành ra một không gian tưởng tượng, không gian nơi những con đường không dẫn về nhà mình, không dẫn tới chính mình Lạc, đó cũng chính là một trạng thái để viết Ngôi nhà ở Neauphle vì thế có ý nghĩa đặc
biệt với nhà văn : “Tôi đã cô đơn trong ngôi nhà này Tôi giam mình trong đó – đương nhiên là tôi cũng sợ Và rồi tôi đã yêu nó Ngôi nhà này, nó đã trở thành ngôi nhà để viết Những cuốn sách của tôi ra đời từ ngôi nhà này […] Tôi cần đến hai mươi năm để viết được điều tôi vừa nói đó” Ngôi nhà là không gian cư trú,
không gian tồn tại, thậm chí không gian của hạnh phúc, của đau khổ, của kỷ
niệm… tất cả những điều này đều được Duras đề cập tới trong cuốn sách, và những điều này được nhận ra một cách dễ dàng Nhưng việc nó là không gian của nỗi cô đơn thì phải cần đến hai mươi năm mới hiểu được Cũng giống như việc một nhà văn đôi khi không thể ngay lập tức hiểu vì sao mình viết Ngôi nhà liên kết với nỗi
cô đơn theo những hình thức khác nhau Ở đó có cả nỗi sợ “Nỗi cô đơn này, để đến được với nó, phải chịu đựng đêm tối Trong đêm, hãy hình dung Duras trên giường đang ngủ một mình trong một căn nhà bốn trăm mét vuông Khi tôi đi đến cuối nhà, đằng kia, về phía “ngôi nhà nhỏ”, tôi sợ không gian như sợ một cái bẫy
Trang 4Tôi có thể nói rằng tối nào tôi cũng sợ”.Dẫu vậy, không chỉ là nỗi sợ không gian
Chính xác hơn, nỗi sợ không gian gắn với nỗi sợ chính bản thân mình Vì thế mà
đối với nữ văn sĩ, cô đơn còn có nghĩa là rượu, rượu để chế ngự nỗi sợ: “Khi ngủ tôi che mặt mình Tôi sợ chính tôi Tôi không biết thế nào tôi không biết tại sao Và
vì thế mà tôi uống rượu trước khi ngủ Để quên tôi đi, chính tôi” (tr.23) Cô đơn,
sợ hãi và tuyệt vọng Duras đã viết trong những trạng thái đó và bà đã viết “cho
dù” hay “cùng với” niềm tuyệt vọng, nỗi sợ Nhưng nghịch lí là ở chỗ: “Người ta không thể viết mà không có sức mạnh của cơ thể.” Nỗi sợ hãi có thể là yếu tố phát
động việc viết, nhưng nhà văn không viết bằng nỗi sợ, cũng không đứng thấp hơn nỗi sợ, nhà văn viết bằng sức mạnh Nhà văn vật chất hoá sức mạnh của mình bằng ngôn ngữ Tác phẩm chính là thành quả của sức mạnh đó Vì thế mà Duras đã không mời ai đến ở cùng trong ngôi nhà ấy, để có thể một mình đối diện với nỗi sợ của chính mình, để thể nghiệm sức mạnh của mình, biến nó thành các tác phẩm bằng chính việc sử dụng nỗi cô đơn là hành trang cho mình
Lục tìm các ngóc ngách ở khía cạnh văn chương khác , ta cũng không thể không
điểm qua những nỗi buồn cô đơn của phong trào Thơ mới Khi nói về Cái tôi trữ
tình của Thơ mới , nhà nghiên cứu Lê Đình Kỵ nói : “Thơ mới là thơ của cái tôi”
Và Cái tôi trữ tình với tư cách là hạt nhân của thể loại trữ tình ngày càng được chú
ý dưới nhiều góc độ của thi sĩ Mà Cái Tôi trữ tình trong Thơ mới lại là một Cái Tôi cô độc , nơi con chữ thấm đẫm nỗi sầu vạn kỷ như chàng Huy Cận hay đắm say những mối tình buồn hiu của Xuân Diệu …Thơ Mới tiếp thu luồng “ánh sáng
tư tưởng” từ văn học phương Tây nói chung và ảnh hưởng sâu sắc bởi chủ nghĩa
lãng mạn của Pháp nói riêng Lẽ đó mà thơ ca trở thành “hy vọng lớn và thất vọng lớn , thời đại của những rung chuyển toàn bộ xã hội , trong đó con người bị hất ra ngoài các mối quan hệ cố định nhưng chưa tìm thấy mình trong cuộc đời.” Và hiển
nhiên nỗi cô đơn lại tìm đến khi ta chưa tìm ra được chính mình giữa thế gian này ,
bắt đầu từ đây mà quan niệm của Alber Camus được dấy lên : “Trái với thành kiến thông thường, nếu có người không được phép sống cô đơn, đó là người nghệ sĩ” Thi nhân ở phong trào Thơ Mới phải chật vật đi tìm ra chính mình bởi đây là thời kì mà “mỗi con người tự thấy mình là những cá nhân cô đơn , lạc lõng , bơ vơ , đang đi tìm vị trí của mình.” Cái Tôi trong Thơ mới trốn vào
nhiều nẻo đường khác nhau , ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn, cô đơn ấy đã tràn ngập trong cảm thức về “Tiếng thu”:
“Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô”
Trang 5(Lưu Trọng Lư)
Hay với Chế Lan Viên đó là “Nỗi buồn thương nhớ tiếc dân Hời” (tức dân Chàm) :
“Đường về thu trước xa xăm lắm
Mà kẻ đi về chỉ một tôi”
Nỗi sầu khi cô độc đi về “một tôi” kết hợp với câu trước là hình ảnh đường về thu khiến thơ Chế Lan Viên chợt mang âm hưởng não nề Bên cạnh đó , cùng
nghe một tiếng gà gáy bên sông , Lưu Trọng Lư cảm nhận được nỗi buồn “Xao xác gà trưa gáy não nùng.”nhưng Xuân Diệu lại sử dụng thính giác : “Tiếng gà gáy buồn như nghe máu ứa” Về điều này , Hoài Chân cho rằng “Xuân Diệu phải là người buồn nhiều, đau buồn nhiều mới viết được những câu thơ nhức xương như :
“Thà một phút huy hàng rồi chợt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
(Vội vàng)
Từ đó ta đúc kết ra những nỗi buồn , sự cô độc trong nền văn học Thơ Mới của Việt Nam Với các nhà Thơ Mới , buồn bã ấy không còn là cách giải thoát tâm hồn mà còn là niềm mong ước được trải lòng và tự đối diện với chính bản thân bằng cách sống cô đơn trong tâm thức nhưng đôi chân luôn “sải cánh”, cất bước đi ngao du để lượm lặt những hạt thơ đẹp mĩ miều
Về phương diện sáng tạo , có lẽ người nghệ sĩ phải là nhà văn , thi nhân chân chính Họ phải có đủ mọi mặt , cả cái tài và cái tâm của chính mình Năng lực trí tuệ sắc bén cùng sự luyện tập , tích lũy vốn sống không ngừng để “đứa con tinh thần” được ra đời trọn vẹn , chu toàn Và sẽ thực giá trị nếu tác phẩm tự soi rọi được bản thân nhờ nỗi cô đơn trong hành trình sáng tạo để đem đến
người đọc bài học “trông nhìn và thưởng thức” (Thạch Lam) Còn về phương
diện tiếp nhận , người đọc cũng phải sở hữu cho mình nhãn quan nhìn nhận và tiếp thu những ý kiến chủ quan từ người nghệ sĩ Sau đó chắt lọc và tự nhận thức sâu sắc về xã hội, thế giới đang vận hành ra sao để khiến bản thân phát triển theo từng ngày , từng giờ đồng hồ
Ai trong chúng ta đều biết rằng cây vốn sống được nhờ ánh sáng , chim muốn
sống phải nhờ tiếng ca Và hơn cả “một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng
Trang 6người cầm bút” (Puskhin) Nếu ví nhà văn là người dẫn đường đến xứ sở cái
Đẹp thôi thì chưa đủ mà còn là tác phẩm của họ phải đủ làm bệ đỡ tâm hồn ta
thông qua luồng ánh sáng “đi tìm cái đẹp trong tư tưởng” (Charles Dubos)
Nâng đỡ bằng cách tự đương mình với nỗi sợ hãi , cô đơn trong chiêm bao như
chính câu nói : “ Sáng tạo là hành trình cô đơn của người nghệ sĩ” nhưng đồng
thời không ngừng đi kết bạn ở tứ phương để “không được phép sống cô đơn”
như chính Alber Campus nhận định :
“Anh đi qua Trái Đất để lại chừng thơ ấy Hãy thương anh! Anh nào có chi nhiều Một chút nắng tàn , một dòng nước chảy Một trái tim nghèo nhưng cũng đã tin yêu”
(Gởi – Chế Lan Viên)