Vấn đề đặt ra là hiện nay kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh các trường trung học cơ sở huyện Thạch Thất về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên như: dấu hiệu t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU THỊ BÍCH NGỌC
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO NHẬN THỨC
VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH
(Nghiên cứu trường hợp tại trường THCS Lại Thượng,
xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG
HÀ NỘI – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
CHU THỊ BÍCH NGỌC
XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO NHẬN THỨC
VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH
(Nghiên cứu trường hợp tại trường THCS Lại Thượng,
xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG
CHUYÊN NGÀNH: THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG
Mã số: Thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Gia Trang
HÀ NỘI – 2021
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, trước hết em xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa các Khoa học Giáo dục cùng toàn thể thầy cô đã giảng dạy nhiệt tình, tâm huyết giúp em có nhiều kiến thức, kỹ năng quý báu và có thể vận dụng để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Đặc biệt, em rất biết ơn TS Hoàng Gia Trang đã tận tình hướng dẫn em trong việc hoàn thiện luận văn cũng như trong quá trình học tập chuyên ngành Tham vấn học đường
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường Trung học cơ sở Lại Thượng tạo điều kiện và hỗ trợ em trong quá trình khảo sát và thực hiện chương trình thực nghiệm
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên và hỗ trợ để em có thể thực hiện và hoàn thành nghiên cứu của mình
Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm Học viên
Chu Thị Bích Ngọc
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 Bảng
SST NỘI DUNG
1 Bảng 2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu bằng bảng hỏi
2 Bảng 3.1 Hiểu biết của học sinh về khái niệm sức khỏe sinh sản (tính
5 Bảng 3.4 Nhận thức của học sinh về các biện pháp tránh các bệnh lây
nhiễm qua đường tình dục
6 Bảng 3.5 Ý kiến của học sinh về cách xử lý khi bị mắc các bệnh lây
nhiễm qua đường tình dục
7 Bảng 3.6 Mức độ hiểu biết của học sinh về một số biện pháp tránh thai
8 Bảng 3.7 Mức độ trao đổi thông tin về kiến thức SKSS của học sinh
với một số đối tượng
9 Bảng 3.9 Đặc điểm khách thể nghiên cứu tham gia thực nghiệm
10 Bảng 3.10 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về khái niệm
sức khỏe sinh sản
11 Bảng 3.11 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về mức độ
quan trọng của việc giáo dục sức khỏe sinh sản
12 Bảng 3.12 Hiểu biết của học sinh tham gia thực nghiệm về dấu hiệu
tuổi dậy thì ở nam giới
13 Bảng 3.13 Hiểu biết của học sinh tham gia thực nghiệm về dấu hiệu
tuổi dậy thì ở nữ giới
14 Bảng 3.14 Quan điểm của học sinh tham gia thực nghiệm về ảnh
Trang 6iv
hưởng của QHTD ở tuổi vị thành niên
15 Bảng 3.15 Quan điểm của học sinh tham gia thực nghiệm về khả năng
có thể mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ở tuổi dậy thì
16 Bảng 3.16 Quan điểm của học sinh tham gia thực nghiệm về cách xử
lý khi bị mắc các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
17 Bảng 3.17 Mức độ hiểu biết của học sinh tham gia thực nghiệm về một
số biện pháp tránh thai (tính theo số lượng)
18 Bảng 3.18 Quan điểm của học sinh tham gia thực nghiệm về tần suất
giảng dạy kiến thức về sức khỏe sinh sản (tính theo số lượng)
19 Bảng 3.19 Mối quan tâm của học sinh tham gia thực nghiệm về những
nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
2 Biểu đồ
SST NỘI DUNG
1 Biểu đồ 3.1 Nhận thức của học sinh về mức độ quan trọng của việc
giáo dục sức khỏe sinh sản
2 Biểu đồ 3.2 Hiểu biết của học sinh về dấu hiệu tuổi dậy thì ở nam giới
3 Biểu đồ 3.3 Hiểu biết của học sinh về dấu hiệu tuổi dậy thì ở nữ giới
4 Biểu đồ 3.4 Quan điểm của học sinh về quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên
5 Biểu đồ 3.5 Nhận thức của học sinh về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
6 Biểu đồ 3.6 Hiểu biết của học sinh về nguyên nhân dẫn đến các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
7 Biểu đồ 3.7 Quan điểm của học sinh về khả năng có thể mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ở tuổi dậy thì
8 Biểu đồ 3.8 Mức độ hiểu biết của học sinh về một số biện pháp tránh
Trang 711 Biểu đồ 3.11 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về các
bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
12 Biểu đồ 3.12 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về nguyên
nhân dẫn đến các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
13 Biểu đồ 3.13 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về các
biện pháp tránh các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục
14 Biểu đồ 3.14 Mối quan tâm của học sinh tham gia thực nghiệm về
những nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản
Trang 8vi
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thiết nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu: 4
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
6.3 Phương pháp thực nghiệm 4
6.4 Nhóm phương pháp thống kê toán học 5
7 Đóng góp của đề tài 5
8 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 9
1.2 Cơ sở lý luận 16
1.2.1.1 Khái niệm tuổi vị thành niên 16
1.2.1.2 Khái niệm Sức khỏe sinh sản 17
1.2.1.3 Khái niệm Xây dựng chương trình 18
1.2.1.4 Khái niệm Nhận thức 19
1.2.1.5 Đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học cơ sở 22
Trang 9vii
1.2.1.6 Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở 26
1.2.1.7 Khái niệm Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh 28
CHƯƠNG 2 31
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đôi nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 31
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 31
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 32
2.2 Tổ chức nghiên cứu 32
2.2.1 Giai đoạn xây dựng khung lý thuyết 32
2.2.2 Giai đoạn xây dựng bộ công cụ 33
2.2.3 Giai đoạn điều tra 34
2.2.4 Giai đoạn xử lý số liệu trước thực nghiệm 34
2.2.5 Giai đoạn xây dựng chương trình thực nghiệm 35
2.2.6 Giai đoạn tổ chức chương trình thực nghiệm 37
2.2.7 Giai đoạn nghiên cứu sau thực nghiệm 41
2.2.8 Giai đoạn xử lí số liệu sau thực nghiệm 41
2.3 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 41
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 42
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 45
2.3.3.1 Phỏng vấn sâu ban đầu với cán bộ, giáo viên 45
2.3.3.2 Phỏng vấn sâu ban đầu với học sinh 45
2.3.3.3 Phỏng vấn sâu sau khảo sát lần đầu với học sinh 45
2.3.4 Phương pháp thực nghiệm 46
Trang 10viii
2.3.5 Xử lý số liệu 47
CHƯƠNG 3 50
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50
3.1 Nhận thức của học sinh trường trung học cơ sở Lại Thượng về sức khỏe sinh sản 50
3.1.1 Nhận thức về những kiến thức cơ bản của sức khỏe sinh sản 50
3.1.1.1 Nhận thức về khái niệm sức khỏe sinh sản 50
3.1.1.2 Nhận thức của học sinh về mức độ quan trọng của việc giáo dục sức khỏe sinh sản 51
3.1.1.3 Nhận thức về dấu hiệu tuổi dậy thì 53
3.1.2 Nhận thức của học sinh về vấn đề quan hệ tình dục 55
3.1.3 Nhận thức về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục 58
3.1.4 Nhận thức về các biện pháp tránh thai an toàn 63
3.1.5 Nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản 65
3.2 Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh 72
3.2.1 Quá trình xây dựng chương trình thực nghiệm 72
3.2.1.1 Quá trình xây dựng chương trình thực nghiệm 72
3.2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu tham gia thực nghiệm 73
3.2.2 Chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh 74
3.2.2.1 Căn cứ xây dựng chương trình: 74
3.2.2.2 Chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh 79 3.3 Kết quả thực nghiệm chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh 84
3.3.1 Nhận thức của học sinh sau thực nghiệm về những kiến thức cơ bản của sức khỏe sinh sản 84
Trang 11ix
3.3.1.1 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về những kiến
thức cơ bản của sức khỏe sinh sản 84
3.3.1.2 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về dấu hiệu tuổi dậy thì 86
3.3.1.3 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về vấn đề quan hệ tình dục 89
3.3.1.4 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục 92
3.3.1.5 Nhận thức của học sinh tham gia thực nghiệm về các biện pháp tránh thai an toàn 97
3.3.1.6 Nhu cầu được giáo dục sức khỏe sinh sản 101
3.3.2 Kết luận chung 104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 116
Trang 12về tâm lý, sinh lý, các mối quan hệ xã hội [14], [18]
Theo số liệu thu được từ khảo sát của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Thái Bình, năm 2018, trong tổng số 8.290 ca nạo hút thai, tỉ lệ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chiếm 1.6 % (130 ca), 9 tháng năm 2019 có tổng số 7.236 ca nạo hút thai, trong đó có 97 ca nạo hút thai ở lứa tuổi VTN (chiếm 1.3 %) [29] Bên cạnh đó, các kiến thức, kỹ năng cơ bản của VTN về chủ
đề chăm sóc sức khỏe sinh sản còn tồn tại nhiều hạn chế; công tác giáo dục
về sức khỏe sinh sản còn được thực hiện ở quy mô nhỏ; việc cung cấp thông tin, dịch vụ về sức khỏe sinh sản chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của vị thành niên Như vậy, có thể thấy rằng công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đạt hiệu quả thực
sự cao [35]
Tính từ ngày 1/1/2015 đến ngày 30/6/2019, trên địa bàn thành phố
Hà Nội có 322 trẻ bị xâm hại tình dục, chiếm phần lớn là trẻ nữ từ 13-16 tuổi Như vậy, trẻ trong giai đoạn vị thành niên thuộc diện có nguy cơ cao [18]
Tại địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội có 24 trường Trung học cơ sở thuộc 23 xã, thị trấn khác nhau Các hoạt động chăm sóc sức khỏe
Trang 13sự vào cuộc của cả ngành y tế và sự quan tâm của xã hội cùng phối hợp thực hiện để đạt hiệu quả tốt hơn
Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề sức khỏe sinh sản của các học sinh theo học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn của huyện Thạch Thất Vấn đề đặt ra là hiện nay kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh các trường trung học cơ sở huyện Thạch Thất về các vấn
đề liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên như: dấu hiệu tuổi dậy thì, quan hệ tình dục, mang thai sớm, các biện pháp tránh thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục… như thế nào? Để có được câu trả lời, tôi thực
hiện nghiên cứu với đề tài “Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về
sức khỏe sinh sản cho học sinh (Nghiên cứu trường hợp tại trường THCS Lại Thượng, xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội)”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về nhận thức của học sinh trung học cơ sở về sức khỏe sinh sản; tìm hiểu thực trạng nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học cơ sở Từ những kiến thức và thông tin thu thập được, tác giả xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở Lại Thượng
Trang 143
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học cơ sở
- Khảo sát tình hình thực trạng nhận thức của học sinh trường trung học
cơ sở về sức khỏe sinh sản
- Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức cho học sinh trung học cơ
sở về sức khỏe sinh sản
4 Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe
sinh sản của học sinh trường trung học cơ sở Lại Thượng, xã huyện Thạch
Thất, thành phố Hà Nội
- Khách thể nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu 222 khách thể trong đó có: 200 học sinh tham gia khảo sát bằng bảng hỏi trước thực nghiệm; sau đó có 98/200 học sinh được chọn để tham gia khảo sát bằng bảng hỏi sau thực nghiệm, 5 cán bộ giáo viên;
17 học sinh tham gia phỏng vấn sâu (5 học sinh được phỏng vấn trước nghiên cứu và 12 học sinh được phỏng vấn sau khi khảo sát lần đầu)
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về thời gian: Từ 01/08/2020 đến 01/08/2021
5 Giả thiết nghiên cứu
Nhận thức của học sinh trường trung học cơ sở Lại thượng về sức khỏe sinh sản chưa đầy đủ và có sự khác nhau giữa học sinh thuộc các khối lớp Có thể nâng cao nhận thức của học sinh trường trung học cơ sở Lại Thượng về sức khỏe sinh sản bằng việc xây dựng một chương trình bao gồm cung cấp thông tin, kiến thức giáo dục giới tính, giáo dục dân số, giáo dục sức khỏe sinh sản cho HS
Trang 154
6 Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả phối hợp nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng trong đề tài này nhằm hệ thống hóa, phân tích những vấn đề lý luận về sức khỏe sinh sản và chương trình giáo dục chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Để nghiên cứu thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản và nhu cầu về giáo dục sức khỏe sinh sản của học sinh trường THCS Lại Thượng tác giả xây dựng bảng hỏi với các câu hỏi với những mục đích khai thác thông tin khác nhau
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Tác giả tiến hành phỏng vấn một số giáo viên, cán bộ quản lý, học sinh trường trung học cơ sở Lại Thượng để có được những thông tin cụ thể về nguyên nhân, thực trạng kiến thức về sức khỏe sinh sản và chương trình nâng cao nhận thức về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở và tìm hiểu ý kiến của các đối tượng được phỏng vấn về các chương trình nâng cao nhận thức về giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh
6.3 Phương pháp thực nghiệm
Trong nghiên cứu này, tác giả tiến hành phương pháp thực nghiệm để đánh giá được kết quả của chương trình xây dựng Bằng việc tổ chức chương trình thực nghiệm với các hình thức như tổ chức buổi nói chuyện, phát tài liệu mang về, tư vấn, tham vấn, tác giả thu được kết quả về nhận thức của học sinh đối với vấn đề sức khỏe sinh sản trước và sau khi chương trình thực nghiệm diễn ra
Trang 165
6.4 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Phương pháp này nhằm xử lý các số liệu thu được trong quá trình thực hiện nghiên cứu, cụ thể là kết quả điều tra bằng bảng hỏi trước và sau thực nghiệm
Để xử lý kết quả nghiên cứu thu được từ bảng hỏi khảo sát, tác giả sử
dụng phương pháp thống kê bằng phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences)
7 Đóng góp của đề tài
- Về lí luận: Nghiên cứu đã góp phần hệ thống hóa những vấn đề lí luận sức khỏe sinh sản, chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học cơ sở
- Về thực tiễn: Nghiên cứu xây dựng chương trình nhằm giúp nhà trường, giáo viên và các bậc phụ huynh cung cấp các kiến thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở
8 Cấu trúc của luận văn
Nội dung chính của đề tài được chia làm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng chương trình nâng cao nhận thức
về sức khỏe sinh sản của học sinh
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Ngoài nội dung chính, luận văn còn có phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 176
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ SỨC KHỎE SINH SẢN CỦA HỌC SINH
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trong lịch sử, sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên (ASRH) đã
bị coi thường mặc dù các quốc gia phải đối mặt với những rủi ro cao do bỏ qua nó Một số thách thức mà thanh thiếu niên trên toàn thế giới phải đối mặt bao gồm mang thai sớm và làm cha mẹ, khó tiếp cận các biện pháp tránh thai
và phá thai an toàn, cũng như tỷ lệ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục cao [39] Trong 25 năm kể từ Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994, đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể về quyền và sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên (ASRHR) Phân tích xu hướng của các chỉ
số ASRHR chính ở cấp độ toàn cầu, quốc gia và địa phương chỉ ra rằng trẻ
em gái vị thành niên ngày nay có xu hướng kết hôn muộn hơn, trì hoãn trải nghiệm tình dục lần đầu và trì hoãn sinh con đầu lòng, so với 25 năm trước;
họ cũng có nhiều khả năng sử dụng các biện pháp tránh thai hơn Tuy nhiên, mặc dù có tiến bộ tổng thể, sự tiến bộ không đồng đều trong nhiều kết quả ASRHR thể hiện rõ ràng ở cả trong và giữa các quốc gia, và ở một số địa điểm, tình trạng cuộc sống của thanh thiếu niên trở nên tồi tệ hơn [37]
Vấn đề kết hôn sớm, quan hệ tình dục sớm, mang thai sớm
Một nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ 40 cuộc Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe cho kết quả như sau: ở các nước đang phát triển một tỉ lệ đáng kể phụ nữ tiếp tục kết hôn ở tuổi vị thành niên; cụ thể: có 20 - 50% phụ nữ kết hôn ở tuổi 18 và có 40 - 70% phụ nữ kết hôn trước sinh nhật lần thứ 20 của
họ Kết hôn sớm phổ biến nhất ở Châu Phi cận Sahara và Nam Á, và ít phổ biến nhất ở Bắc Phi, Trung Đông và Đông Nam Á [43]
Trang 187
Tại Mỹ, bất chấp những thay đổi mạnh mẽ trong gia đình người Mỹ, một bộ phận thiểu số đáng kể người Mỹ kết hôn sớm Sử dụng dữ liệu từ Nghiên cứu dọc quốc gia về sức khỏe vị thành niên (N = 14,165), nghiên cứu này đánh giá tỷ lệ kết hôn sớm và tỷ lệ tảo hôn ở Hoa Kỳ Kết quả cho thấy 25% phụ nữ và 16% nam giới kết hôn trước 23 tuổi, và kết hôn sớm rất khác nhau ở một số đặc điểm Những người kết hôn sớm hơn có nhiều khả năng thuộc các gia đình khó khăn, từ các gia đình theo đạo Tin lành hoặc Mormon bảo thủ, coi trọng đức tin tôn giáo của họ hơn, có bằng cấp 3 nhưng trình độ học vấn thấp hơn và sống thử trước hôn nhân [45]
Nếu vấn đề kết hôn sớm không được cải thiện, trong vòng mười năm tới tới sẽ có 142 triệu trẻ em gái kết hôn trước khi bước sang tuổi 18 (tính tới thời điểm năm 2020) Thêm vào đó, hàng năm có khoảng 16 triệu em gái tuổi
từ 15-19 sinh con, trong đó, cứ 10 trẻ vị thành niên thuộc nhóm này thì có 9 vị thành niên đã lập gia đình Nơi có tỷ lệ sinh ở tuổi VTN cao nhất với 120 trẻ/1000 trẻ VTN trong độ tuổi từ 13 – 19 là khu vực châu Phi thuộc tiểu vùng
Sa mạc Sahara Ở khu vực châu Mỹ Latinh và vùng Caribbean, tỷ lệ sinh con
ở tuổi VTN vẫn ở mức cao và chỉ thời gian gần đây mới bắt đầu giảm Ở các nước ở khu vực Đông Nam Á, số lượng bà mẹ sinh con ở tuổi VTN hiện nay vẫn rất cao; [47]
Quan hệ tình dục sớm cũng là vấn đề được quan tâm và nghiên cứu ở nhiều quốc gia, khu vực Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng đây là vấn đề xã hội ở nhiều nước Ở Thái Lan, tỷ lệ thanh thiếu niên nam có quan hệ tình dục với bạn gái hoặc gái mại dâm khá cao (hơn 60%) Ở Mỹ, ở tuổi 15 có 1/4 nữ và 1/3 nam có quan hệ tình dục, đến tuổi 17 thì tỉ lệ này tăng lên 50% đối với nữ
và 60% đối với nam [46], [48]
Nghiên cứu về tình trạng sức khỏe sinh sản và tình dục vị thành niên ở các nước đang phát triển cho thấy ở các quốc gia này mỗi năm có khoảng 21 triệu nữ vị thành niên và 2 triệu trẻ gái dưới 15 tuổi mang thai Kết quả nghiên
Trang 198
cứu cũng cho thấy mỗi năm có gần 16 triệu nữ vị thành niên và khoảng 2,5 triệu trẻ gái dưới 16 tuổi sinh con cũng tại các quốc gia này [38]
Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
Nghiên cứu mở rộng ở miền trung Scotland vào năm 2007 từ 1.854 học sinh, có độ tuổi trung bình là 15,5 tuổi đã khám phá ra mối liên quan giữa quá trình nuôi dạy con cái và kết quả tình dục (giao hợp lần đầu bị trì hoãn, sử dụng bao cao su và một số biện pháp phản ánh bối cảnh hoặc bối cảnh dự kiến của lần quan hệ tình dục đầu tiên) Các giá trị của cha mẹ hạn chế giao hợp có liên quan tích cực với tất cả các kết quả ngoại trừ việc sử dụng bao cao
su Sự theo dõi của cha mẹ liên quan đến việc giao hợp muộn và sử dụng bao cao su; các quy tắc của cha mẹ về nội dung ti vi có liên quan đến việc trì hoãn giao hợp và mong đợi quan hệ tình dục trong một mối quan hệ, thay vì tình
cờ Tần suất truyền thông của cha mẹ về tình dục và các giá trị của cha mẹ tán thành việc sử dụng biện pháp tránh thai có liên quan tiêu cực đến việc chậm giao hợp của thanh thiếu niên và các giá trị tránh thai của cha mẹ có liên quan tiêu cực với việc thanh thiếu niên mong đợi quan hệ tình dục trong một mối quan hệ Các mối liên kết được trung gian một phần bởi thái độ của thanh thiếu niên, bao gồm cả giá trị được đặt vào việc quan hệ tình dục trong một mối quan hệ Cha mẹ có thể phát triển năng lực quan hệ tình dục sớm tích cực
và an toàn cho thanh thiếu niên bằng cách thúc đẩy các kỹ năng và giá trị xây dựng tính tự chủ và chỉ khuyến khích quan hệ tình dục trong một mối quan hệ [41]
Một nghiên cứu thực hiện trên 112 cặp mẹ và con gái vị thành niên được thực hiện từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017 tại thị trấn Taunggyi, bang Nam Shan, Myanmar bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với bảng câu hỏi bán cấu trúc cho thấy: Hơn một nửa số bà mẹ và trẻ em gái vị thành niên có nhận thức tiêu cực về truyền thông về các vấn đề sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục Chỉ 2,7% trẻ em gái thảo luận về vấn đề sức khỏe sinh sản/sức khỏe
Trang 209
tình dục với mẹ nhiều hơn bốn lần trong sáu tháng qua Các yếu tố tạo ra rào cản truyền thông sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục là thu nhập gia đình cao hơn, kiến thức tốt về tuổi dậy thì, tốt kiến thức về các vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục, và nhận thức tích cực về giao tiếp, của các bà mẹ, và kiến thức tốt về các biện pháp tránh thai và kiến thức tốt về các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ở trẻ em gái vị thành niên Các bà mẹ và trẻ em gái vị thành niên được tuyên truyền về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục còn ít, diễn ra không thường xuyên và muộn, chỉ có một số chủ đề được thảo luận hạn chế Có mức độ hiểu biết cao hơn về sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục
có nhiều khả năng tạo ra rào cản giao tiếp giữa các bà mẹ và trẻ em gái vị thành niên [40]
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tỉ lệ VTN quan hệ tình dục sớm, mang thai sớm, mang thai ngoài ý muốn, sinh con sớm, tảo hôn, kết hôn cận huyết tương đối cao [9], [6]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Minh Hậu thực hiện tại
trường THPT Đông Thụy Anh, tỉnh Thái Bình về “Kiến thức, thái độ, thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản” cho thấy: có tới 92,9% VTN
hiểu đúng QHTD không an toàn là quan hệ không dùng các biện pháp bảo vệ Khi khảo sát về hậu quả của QHTD, có 13,0% học sinh tham gia khảo sát cho rằng QHTD ở tuổi VTN vẫn không có vấn đề gì Có 47,9% VTN hiểu rằng QHTD có thể gây ảnh hưởng tới học tập, 58,7% học sinh biết có thể mắc bệnh LTQĐTD nếu QHTD; có 82,7% VTN biết khi QHTD làm bạn gái có thể mang thai được [15]
Thuốc tránh thai và bao cao su là hai biện pháp tránh thai được VTN biết nhiều nhất (tỉ lệ lần lượt là 92,7% và 95,8%); có 82,1% VTN biết BCS có thể phòng bệnh LTQĐTD, 88,1% học sinh biết tác dụng tránh thai tạm thời của viên tránh thai, 88,8% biết các BPTT từ nguồn thông tin là internet Có
Trang 2110
20% VTN hiểu đúng thời điểm dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh, 6,9% học sinh tham gia khảo sát cho rằng nạo hút thai ở tuổi VTN không để lại hậu quả
gì Có 6,2 – 8,8% chưa hiểu đúng về bệnh LTQĐTD, 81,4% - 93,1% VTN biết HIV và giang mai lây qua đường tình dục, 92,9% biết có thể phòng được bệnh LTQĐTD bằng cách sử dụng bao cao su [5]
Nghiên cứu về “Kiến thức và thái độ của học sinh Trung học phổ thông huyện Hoài Đức, Hà Nội về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” của
tác giả Hoàng Thị Hải Vân cho thấy: có 73,1% VTN biết ít nhất một biện pháp tránh thai, có 13,7% học sinh biết thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt dễ mang thai nhất và 67,0% VTN biết rằng bạn gái có thể mang thai dù chỉ quan
hệ một lần Tỉ lệ cao học sinh không chấp nhận việc có thai trước hôn nhân và quan hệ tình dục trước hôn nhân (91,0% và 82,0%) [31] Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về dậy thì, kiến thức về mang thai và BPTT của học sinh THPT Hoài Đức bao gồm: khối lớp, kết quả học tập, trình độ học vấn của bố và giới của học sinh
Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Minh Hậu và Đặng Thị Kim Anh năm 2011 về kiến thức, thái độ, thực hành của vị thành niên về sức khỏe sinh sản tại trường Trung học phổ thông Đông Thụy Anh, tỉnh Thái Bình cho thấy:
có đến 70,4% VTN quan tâm đến vấn đề SKSS, 62,7% lo lắng nếu mắc bệnh LTQĐTD, 93,1% đồng ý sử dụng các BPTT trong QHTD, 60,4% phản đối
QHTD ở tuổi VTN [15]
Nghiên cứu của Trần Thị Bích Hồi và cộng sự về “Kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh trường Trung học phổ thông Ngô Sĩ Liên tỉnh Bắc Giang năm 2015” cho biết: có 76,3% học sinh tham gia nghiên cứu nắm được
kiến thức về quan hệ tình dục an toàn, nhưng vẫn còn một số học sinh hiểu chưa nắm được thế nào là an toàn Đối với các vấn đề liên quan đến mang thai, có 93,9% học sinh có nghe tới các biện pháp tránh thai Hai biện pháp được biết đến nhiều nhất là bao cao su (98,8%) và thuốc tránh thai khẩn cấp
Trang 2211
(86,9%) Tuy nhiên, hiểu biết của các em về các biện pháp tránh thai này còn
ở mức độ hạn chế, chưa rõ Có 15,7% học sinh tham gia nghiên cứu không nắm được kiến thức về nguyên nhân dẫn đến có thai ngoài ý muốn và 16,8%
học sinh không có kiến thức về tai biến do nạo hút thai [20] Với các bệnh
LTQĐTD, hầu hết học sinh đều nghe tới ít nhất một bệnh LTQĐTD, trong đó HIV/AIDS có tới 93,9% biết đến Đa số các em có hiểu biết về biểu hiện bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nữ trong đó tỉ lệ hiểu biết của các em nữ đều cao hơn nam Tỉ lệ học sinh biết biểu hiện “ra khí hư bất thường” chiếm cao nhất với 57% (trong đó, nữ chiếm 59,1%, nam chiếm 54,9%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có 62,1% học sinh đạt kiến thức chung về sức khỏe sinh sản
ở vị thành niên [20]
Điều tra mô tả cắt ngang 300 VTN trên địa bàn huyện Kiến Thái Bình năm 2012 của tác giả Nguyễn Đức Thanh về kiến thức về bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS của vị thành niên cho kết quả như sau: hầu hết VTN cho rằng nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD là do sinh hoạt tình dục mà không dùng bao cao su với người mắc bệnh (63,0%) Tỉ lệ cao số VTN được hỏi biết hậu quả bệnh LTQĐTD là làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV (66,3%); có 23,3% không biết hậu quả nào của bệnh LTQĐTD Phần lớn VTN tham gia nghiên cứu (trên 90%) biết lây nhiễm HIV qua đường máu, đường tình dục,
Xương-mẹ truyền cho con Một bộ phận đáng kể VTN có nhận định sai lần rằng có thể thông qua hình dáng bề ngoài và lối sống của một người để nhận biết người đó có nhiễm HIV hay không Tỉ lệ VTN biết cách phòng lây nhiễm HIV con thấp, số VTN biết không dùng chung bơm kim tiêm mới chỉ chiếm
69,7%; có tới 9% số VTN không biết cách nào để phòng lây nhiễm HIV [26]
Năm 2013, tác giả Nguyễn Đức Thanh cũng thực hiện nghiên cứu
“Thái độ đối với HIV/AIDS, hiểu biết về nguồn cung cấp thông tin và nơi điều trị HIV/AIDS của học sinh trung học phổ thông” trên đối tượng là học sinh
THPT huyện Thái Thụy Kết quả nghiên cứu cho thấy: thái độ của học sinh
Trang 2312
đối với người nhiễm HIV/AIDS chưa tích cực Tỷ lệ học sinh có thái độ tìm cách chia sẻ và giúp đỡ chiếm tỷ lệ thấp (48,4%), một tỷ lệ khá cao học sinh tham gia nghiên cứu có thái độ xa lánh người nhiễm HIV/AIDS (7,4%) Hầu hết học sinh biết về cơ sở y tế nhà nước cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS (91,7%); tuy nhiên vẫn còn 2.6% học sinh không biết nơi nào cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS
Có tới 75.1%% học sinh cho biết địa chỉ xét nghiệm HIV là Trung tâm phòng chống HIV/AIDS; Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh (48,0%), Trung tâm chăm
sóc sức khỏe sinh sản tỉnh (43,8%) [27]
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe
Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Liên năm 2010 về Thực trạng kiến thức và thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông tại Hải Phòng cho thấy: có tới 6,21% VTN tham gia nghiên cứu có QHTD; trong đó
tỉ lệ học sinh thành phố QHTD thấp hơn các vùng khác, tỷ lệ nữ QHTD thấp hơn nam, tỷ lệ QHTD ở VTN thuộc nhóm tuổi 10 - 14 thấp hơn nhóm tuổi 15
- 19 VTN có QHTD lần đầu tiên ở độ tuổi trung bình 15,8 tuổi VTN nữ là 15,74 tuổi, VTN nam là 16,1 tuổi Tuổi QHTD lần đầu nhỏ nhất là 9 tuổi Trong lần QHTD đầu tiên, 33,3% không sử dụng BPTT, có 50% VTN dùng BPTT trong lần QHTD đầu tiên Sự khác biệt giữa nam và nữ về sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên không có ý nghĩa thống kê [30]
Nghiên cứu trên 375 học sinh THPT Ngô Sĩ Liên, tỉnh Bắc Giang của tác giả Nguyễn Thị Bắc, Trần Thị Bích Hồi và cộng sự cho thấy: có mối liên quan giữa giới kiến thức chung của học sinh về SKSS với khối lớp Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự khác biệt giữa các yếu tố có người yêu chưa, sống cùng bố mẹ, học lực với kiến thức chung về SKSS không có ý nghĩa
thống kê [12]
Kết quả nghiên cứu trên 500 học sinh khối lớp 7,8,9 năm 2016 bằng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, cho thấy: có
Trang 2413
47,8% học sinh có kiến thức chung đạt; 30,3% học sinh có hiểu biết đúng về tình dục an toàn, 37,2% học sinh có kiến thức đúng về dấu hiệu dậy thì của nam và 39,8% có kiến thức đúng về dấu hiệu dậy thì của nữ; 42,2% học sinh
có thái độ tích cực với SKSS VTN Đối với nhu cầu giáo dục SKSS, có tới 83% học sinh có nhu cầu được cung cấp thêm thông tin về SKSS VTN Nghiên cứu cũng tìm ra mối liên quan giữa kiến thức với thái độ về SKSS VTN Những học sinh có kiến thức chưa đạt về SKSS có nguy cơ có thái độ
thiếu tính tích cực cao gấp 4,2 lần học sinh có kiến thức đạt [11]
Cũng với phương pháp mô tả cắt ngang, nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về SKSS VTN của học sinh THPT tại tỉnh Thừa Thiên - Huế đã được thực hiện trên 1434 học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế vào năm 2015 Kết quả cho thấy: có 13,0% học sinh có kiến thức tốt về SKSS VTN; 67,0% VTN có thái độ tốt với chủ đề này và 73,2% học sinh tham gia khảo sát có thực hành tốt về về SKSS VTN Có mối liên quan giữa kiến thức với khu vực, tôn giáo, dân tộc, trình độ học vấn của mẹ, thái độ với giới tính, thực hành với khu vực, giới tính, thái độ [17]
Nghiên cứu trên 500 học sinh của 3 trường THPT công lập tại Huyện Hoài Đức, Hà Nội nhằm tìm hiểu kiến thức và thái độ của học sinh THPT trong chăm sóc SKSS và một số yếu tố ảnh hưởng cho kết quả như sau: chỉ có 13,7% học sinh biết thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt dễ mang thai nhất; có 89,0% học sinh biết ít nhất một dấu hiệu dậy thì, 67,0% biết rằng bạn gái có thể mang thai dù chỉ quan hệ một lần; 73,1% biết ít nhất một biện pháp tránh thai Phần lớn học sinh không chấp nhận việc có thai trước hôn nhân và
QHTD trước hôn nhân (91,0% và 82,0%) [31]
Các nguy cơ về sức khỏe và hậu quả về kinh tế, xã hội của vấn đề thai nghén và sinh đẻ ở tuổi vị thành niên
Ở VTN, các vấn đề liên quan đến thai nghén và sinh đẻ dường như không có sự chuẩn bị trước dẫn đến các biến chứng và tai biến do thai nghén
Trang 2514
ở VTN cao So với nhóm tuổi 20-29, tỉ lệ tử vong ở bà mẹ VTN cao hơn 1,5 lần Tỉ lệ vong sơ sinh trong những bà mẹ VTN thuộc nhóm tuổi 15-19 cũng rất cao (hơn 30%) Tỉ lệ thai kém phát triển trong tử cung, thai chết lưu, sảy thai tự nhiên, đẻ non cũng chiếm tỉ lệ cao hơn ở các bà mẹ VTN [5]
Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu đề cập đến các vấn đề như nạo phá thai ở tuổi VTN, mang thai ngoài ý muốn, quan hệ tình dục ở tuổi VTN, các biện pháp tránh thai, thai nghén, các bệnh lây truyền qua đường tình dục; kiến thức, thái độ về SKSS VTN của học sinh Trong nghiên cứu này, tác giả
sẽ làm rõ nhận thức của học sinh về các vấn đề này, nhu cầu của học sinh về giáo dục giới tính và xây dựng chương trình nhằm nâng cao nhận thức của học sinh
Các nghiên cứu về thực trạng xây dựng chương trình và chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản
Trong nghiên cứu tác giả Bùi Thị Thanh Diệu “Xây dựng chương trình hiểu biết về sức khỏe tâm thần cho học sinh trung học phổ thông”, tiến hành
nghiên cứu trên 600 HS khối lớp 10, 11 và lớp 12 của 6 trường THPT thuộc 3 tỉnh/thành Đà Nẵng, Thanh Hóa, Đắc Lắc, có đề cập đến khái niệm chương
trình giáo dục như sau: Chương trình giáo dục được hiểu là sự trình bày hệ thống một kế hoạch tổng thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các mục tiêu học tập mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ phạm vi, mức độ nội dung học tập, các phương tiện, phương pháp, cách thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng Các thành phần cơ bản của một chương trình giáo dục bao gồm: “Mục tiêu giáo dục, Nội dung giáo dục, Hình thức giáo dục, Điều kiện thực hiện giáo dục, Thời gian thực hiện giáo dục, Phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục” Ngoài ra, tác giả cũng nhận định về các yếu tố ảnh hưởng đến chương
Trang 26cứu được thực hiện vào tháng 5 năm 2013 nhằm đánh giá hiệu quả Dự án
“Chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe trẻ em” do tổ chức Childfund Việt Nam thực hiện tại huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn từ tháng 10/2010 đến tháng 6/2013 Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy: Sau chương trình can thiệp liên quan tới chăm sóc sức khỏe sinh sản của học sinh, kiến thức của học sinh về sức khỏe sinh sản được cải thiện, đặc biệt liên quan tới dấu hiệu nhận biết tuổi dậy thì; kiến thức về quan hệ tình dục và mang thai cũng như liên quan tới bệnh lây truyền qua đường tình dục và biện pháp tránh thai; Sau can thiệp, học sinh có thái độ cởi mở hơn liên quan tới bao cao su và quan hệ tình dục trước hôn nhân, tuy nhiên vẫn giữ thái độ truyền thống về mang thai
và nạo hút thai khi còn là học sinh; Vị thành niên cảm thấy thoải mái, dễ dàng khi nói chuyện và thảo luận về sức khỏe sinh sản sau can thiệp Nghiên cứu định tính với giáo viên cũng cho thấy các hoạt động của dự án chăm sóc sức khỏe sinh sản mang lại cho học sinh nhiều thay đổi tích cực về kiến thức, kỹ năng và sự tự tin trong giao tiếp [23] Như vậy, nghiên cứu cho thấy tác động hiệu quả của chương trình can thiệp về sức khỏe sinh sản Khi được tham gia các hoạt động đào tạo nhằm nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản, nhận thức và thái độ của học sinh về vấn đề này được cải thiện và thay đổi tích cực
Trong nghiên cứu “Hiệu quả giải pháp can thiệp cộng đồng cải thiện tình
trạng chăm sóc sức khỏe sinh sản ở nữ vị thành niên huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” nhóm tác giả Đào Nguyễn Diệu Trang, Nguyễn Vũ Quốc Huy đã cho thấy
Trang 2716
hiệu quả can thiệp về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên: Kiến thức, thái độ
và thực hành chung về chăm sóc SKSS vị thành niên có sự cải thiện có ý nghĩa giữa nhóm can thiệp và nhóm không can thiệp với p<0,05 Ở nhóm can thiệp: Kiến thức chung tốt tăng từ 10% lên 24.1% Chỉ số hiệu quả là 15.7% (p<0.05) Thái độ chung tốt tăng từ 16.7% lên 61.4% Chỉ số hiệu quả là 53.7% (p<0.05) Thực hành chung tốt tăng từ 27.1% lên 42.9% Chỉ số hiệu quả là 21.7% (p<0.05) Hiệu quả can thiệp: thay đổi kiến thức là 21,6%, thay đổi thái độ là 54,2%, thay đổi thực hành là 34,6% [28] Nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng, cần tăng cường hơn nữa công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản cho các nữ vị thành niên và nâng cao kiến thức và
kỹ năng truyền thông cho cán bộ chuyên trách về sức khỏe sinh sản vị thành niên
Như vậy, các nghiên cứu chỉ ra hiệu quả của việc tác động nhận thức nói chung và nhận thức về sức khỏe sinh sản nói riêng đối với đối tượng học sinh Sau khi được tham gia hoạt động can thiệp, chương trình can thiệp học sinh có sự cải thiện về nhận thức, thái độ đối với vấn đề sức khỏe sinh sản Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả tiến hành xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh trong đề tài này
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Các khái niệm công cụ
1.2.1.1 Khái niệm tuổi vị thành niên
Vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn Độ tuổi vị thành niên là 10-19 tuổi (theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Lứa tuổi
vị thành niên được chia thành 3 nhóm: Từ 10-13 tuổi là nhóm vị thành niên sớm; từ 14-16 tuổi là nhóm vị thành niên giữa; từ 17-19 tuổi là nhóm vị thành niên muộn [8], [7]
Tại Việt Nam quy định vị thành niên được xem là lứa tuổi từ 10 đến 18 tuổi Độ tuổi vị thành niên chia thành 3 giai đoạn:
- Vị thành niên sớm: từ 10 đến 13 tuổi;
- Vị thành niên giữa: từ 14 đến 16 tuổi;
Trang 2817
- Vị thành niên muộn: từ 17 đến 18 tuổi Ba giai đoạn phân chia này chỉ
có tính tương đối, có thể khác nhau ở từng VTN [8], [2] Tuổi vị thành niên, dưới tác dụng của hệ nội tiết, cơ thể trẻ em sẽ diễn ra hàng loạt những thay đổi về hình dáng, chức năng cơ quan sinh dục, tâm sinh lý, biết phân biệt rõ giới tính nam/nữ và bắt đầu có khả năng tình dục, khả năng sinh sản
1.2.1.2 Khái niệm Sức khỏe sinh sản
Định nghĩa về sức khỏe sinh sản được đưa ra tại Hội nghị Quốc tế về
Dân số và phát triển họp ở Cairo năm 1994 có nội dung như sau: “Sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” [14], [18]
Sức khỏe sinh sản gồm các khía cạnh dưới đây:
- Thứ nhất, khía cạnh sức khỏe thể chất: có cơ thể khỏe mạnh đối với
cả nam giới và nữ giới; tất cả các cơ quan nằm trong hệ thống sinh sản đều không gặp khiếm khuyết hay các tổn thương Đảm bảo được khả năng thực hiện quan hệ tình dục và chức năng sinh sản về sau
- Thứ hai, khía cạnh sức khỏe tinh thần: mỗi cá nhân cảm thấy khỏe
mạnh; thoải mái về mặt sức khỏe sinh sản cũng như khả năng sinh lý của chính bản thân mình Cá nhân có thể nhận ra được những điểm mạnh điểm yếu của bản thân; tự tin vào chính bản thân và khả năng của chính mình
- Thứ ba, khía cạnh sức khỏe xã hội: đảm bảo sự an toàn cho xã hội
Con người sống chan hòa và có mối quan hệ tốt với mọi người trong cộng đồng
Sức khỏe sinh sản vị thành niên: Là tình trạng khỏe mạnh về thể chất,
tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến cấu tạo và hoạt động
của bộ máy sinh sản ở tuổi vị thành niên, chứ không chỉ là không có bệnh hay
khuyết tật của bộ máy đó
Trang 2918
1.2.1.3 Khái niệm Xây dựng chương trình
Từ rất xa xưa, Chương trình đã được quan tâm và đưa ra định nghĩa và những cách hiểu khác nhau Tác giả Kieran Egan cho rằng chương trình
(curriculum) có nghĩa là “trường đua”, “cuộc chạy đua” hay “sự chạy nhanh” [36] Với cách hiểu này, chương trình có ý nghĩa về sự định hướng
cho sự phát triển
Theo Hollis L Caswell và Doak S Campbell, chương trình được coi
như là “tất cả những kinh nghiệm mà trẻ em có được dưới sự hướng dẫn của giáo viên” Điều này thể hiện rõ quan điểm đề cao chất lượng “đầu ra” của
quá trình thực hiện chương trình giáo dục [35]
Cũng tương tự như vậy, Peter F Oliva xem “chương trình là những gì người học thu nhận được do kết quả của việc học tập ở nhà trường” [43]
Quan niệm này quan tâm tới những gì người học thu nhận được sau giai đoạn học tập
Tác giả Ronald C Doll lại xem chương trình học của một nhà trường
được định nghĩa là: “nội dung và quá trình chính thức hoặc không chính thức
mà nhờ đó người học có được sự hiểu biết, kiến thức, phát triển kỹ năng, thay đổi thái độ nhận thức và giá trị dưới sự tổ chức của nhà trường” Định nghĩa
quan tâm đến sự tổ chức của nhà trường trong việc cung cấp kiến thức, phát triển kỹ năng, thái độ nhận thức và giá trị của người học
Tác giả Daniel Tanner và Lauren N Tanner cho rằng “chương trình là
sự tái cấu trúc những kiến thức và kinh nghiệm với mục đích giúp người học phát triển trong quá trình kiểm soát một cách thông minh những kiến thức và kinh nghiệm sẽ xảy ra sau đó” [33] , [45]
White (1995) cho rằng “Chương trình là một kế hoạch đào tạo phản ánh các mục tiêu giáo dục, đào tạo mà nhà trường theo đuổi Bản kế hoạch
đó cho biết nội dung và phương pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra” Có thể thấy quan điểm này gần nhất với cách hiểu và xây dựng
Trang 3019
chương trình trong giáo dục hiện nay Đồng quan điểm với White, nhà giáo dục Ralph Tyler bổ sung rằng một chương trình phải có 4 yếu tố cơ bản sau: Mục tiêu đào tạo; Nội dung đào tạo; Phương pháp hay quy trình đào tạo; Đánh giá kết quả đào tạo [19]
Nghiên cứu các quan niệm, định nghĩa về chương trình của nhiều tác giả, chuyên gia giáo dục, chuyên gia chương trình; trong nghiên cứu này, tác
giả lựa chọn khái niệm chương trình là là “một bản kế hoạch đào tạo bao gồm mục tiêu giáo dục rõ ràng, nội dung đào tạo cụ thể, có phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp, có đánh giá kết quả đào tạo”
Xây dựng chương trình là “hoạt động xây dựng nội dung bản kế hoạch đào tạo bao gồm mục tiêu giáo dục rõ ràng, nội dung đào tạo cụ thể, có phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp, có đánh giá kết quả đào tạo”
1.2.1.4 Khái niệm Nhận thức
Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái tạo thực tiễn vào trong tư duy của con người” và “…sự tác động qua lại giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính làm cho nhận thức của con người càng chính xác hơn về đối tượng, càng tiến gần hơn chân lý khách quan” [16, tr.303-304]
Dựa trên những tài liệu tâm lý học ở Việt Nam, trong đề tài này, tác giả vận dụng thang đo các mức độ nhận thức của Bloom để đánh giá mức độ nhận thức của học sinh Thang đánh giá nhận thức của Bloom gồm 6 cấp độ khác nhau là nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá
Có thể khái quát nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục – lĩnh vực nhận thức theo Bloom như sau:
- Nhận biết (mức Biết)
Trang 3120
Mức này để thể hiện ở chỗ người học nhớ các khái niệm cơ bản của vấn
đề nào đó hay môn học nào đó, người học có thể nêu hoặc nhận ra chúng khi được yêu cầu Mức này được thể hiện:
+ Biết các tri thức bộ phận
+ Biết các thuật ngữ
+ Biết các sự kiện riêng lẻ
+ Biết phương tiện và cách thức tiếp cận các tri thức riêng lẻ:
Tri thức về các quy ước
Tri thức về các khuynh hướng và tính nhất quán
Tri thức về cách phân loại và các phạm trù
Tri thức về các tiêu chuẩn
Tri thức về phương pháp luận
Tri thức về cái tổng quát và trừu tượng một lĩnh vực
Tri thức về các nguyên tắc và cấu trúc
- Thông dụng (mức Hiểu)
Ở mức thông dụng người học hiểu các khái niệm của môn học nào đó hay vấn đề nào đó Người học có thể vận dụng chúng khi chúng được thể hiện theo các cách tương tự như cách giáo viên đã giảng dạy và theo các ví dụ tiêu biểu về các khái niệm đó Mức này được thể hiện ở khả năng:
+ Các tư tưởng khái quát
+ Các phương pháp được khái quát hóa
+ Các nguyên tắc
Trang 32+ Phân tích các yếu tố
+ Phân tích mối quan hệ
+ Phân tích các nguyên tắc cấu trúc
- Tổng hợp
Ở mức độ tổng hợp, người học có khả năng sắp xếp các bộ phận riêng
lẻ lại với nhau để hình thành một toàn thể mới Mức độ này có thể bao gồm việc tạo ra một mạng lưới các quan hệ mới hay một chủ đề mới Mức này thể hiện ở các dạng:
+ Tạo ra một thông tin thống nhất
+ Tạo ra một kế hoạch hoặc một tập hợp các thao tác dự kiến
+ Rút ra một tập hợp các mối quan hệ trừu tượng
- Đánh giá
Là khả năng xác định được các tiêu chí đánh giá khác nhau và vận dụng chúng để đánh giá tài liệu Đây là mức cao nhất của nhận thức vì nó chứa đựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức nêu trên Mức này thể hiện ở các dạng:
+ Đánh giá bằng các dấu hiệu bên trong
+ Đánh giá bằng các dấu hiệu bên ngoài
- Vận dụng ở mức độ thấp thể hiện ở việc người học có thể hiểu được khái niệm ở một cấp độ cao hơn “thông hiểu”, tạo ra được sự liên kết logic giữa các khái niệm cơ bản của môn học và có thể vận dụng ở mức độ thấp và
Trang 33Liên quan đến vấn đề nhận thức của HS THCS về SKSS, tác giả muốn tìm hiểu nhận thức của HS qua việc biết, hiểu, từng bước vận dụng các tình huống về SKSS được thể hiện ở các nội dung SKSS sau:
- Nhận thức của HS về các nội dung cơ bản của SKSS;
1.2.1.5 Đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
Sự phát triển của lứa tuổi học sinh trung học cơ sở
- Sự phát triển thể chất
Chiều cao ở lứa tuổi này phát triển nhanh chóng kéo theo sự vụng về Trung bình một năm các em cao lên được 5-6 cm Ở độ tuổi 12,13 chiều cao của các em nữ phát triển trước và phát triển mạnh trong thời điểm này Nhưng đến độ tuổi 15,16, chiều cao của các em nam tăng nhanh, vượt các em nữ
Sau sự phát triển mạnh mẽ về chiều cao, việc tăng lượng mỡ cũng là một trong những thay đổi nhanh chóng ở giai đoạn trung học cơ sở Đối với
cả nam và nữ, lượng mỡ thừa thường tích tụ ở vùng ngực Ở giai đoạn sau,
Trang 34sự mất cân đối cơ thể Điều này khiến trẻ cảm thấy mình lóng ngóng, vụng về
và có tâm lý xấu hổ về những thay đổi trên cơ thể của mình
Cùng với sự phát triển nhanh chóng về cơ thể là những biến đổi trong hoạt động của hệ hô hấp, tuần hoàn Tim, phổi làm việc khó khăn hơn khiến việc đưa máu lên não không đều, ảnh hưởng đến tâm trạng chung của trẻ
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh khiến các em có thể xuất hiện mụn trứng cá; tuyến mồ hôi cũng bắt đầu hoạt động và tạo ra mùi đặc trưng trên cơ thể
Sự phát dục ở lứa tuổi HS THCS diễn ra theo quy luật sinh học, đây là hiện tượng hoàn toàn bình thường, chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên
và xã hội Thời điểm phát dục ở các em trai và các em gái khác nhau Sự phát dục ở bạn gái diển tra trước (khoảng 13, 14 tuổi) và các em trai vào khoảng
15, 16 tuổi Đến cuối cấp THCS (15 tuổi) hoặc thời điểm đầu cấp THPT (16 tuổi) sự phát dục đã kết thúc Lúc này, về mặt sinh học các có thể sinh đẻ được, tuy nhiên các em chưa thực sự trưởng thành về mặt cơ thể cũng như các kiến thức và kỹ năng xã hội
- Sự thay đổi của điều kiện sống
Đời sống gia đình của các em HS THCS
Ở giai đoạn này, địa vị các em trong gia đình đã được thay đổi, được gia đình thừa nhận như một thành viên tích cực, được tham gia bàn bạc một
số công việc của gia đình Những thay đổi này kích thích HS THCS hoạt động tích cực, độc lập tự chủ
Trang 3524
Đời sống trong nhà trường của HS THCS
Ở cấp THCS, các hoạt động học tập và các hoạt động khác của học sinh
có những thay đổi so với cấp tiểu học như nội dung dạy học, phương pháp dạy học, hình thức học tập Những thay đổi này làm cho hoạt động nhận thức
và nhân cách của HS THCS có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó
- Đời sống của HS THCS trong xã hội
Ở giai đoạn phát triển này, các em được xã hội thừa nhận như một thành viên tích cực, được giao một số công việc nhất định như: tham gia các hoạt động tuyên truyền giữ trật tự đường phố, giúp đỡ gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tham gia xây dựng và chăm sóc công trình cây xanh,… Các em cũng thích tham gia các hoạt động phục vụ xã hội vì muốn được làm việc có ý nghĩa, muốn được mọi người công nhận
Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở
- Mối quan hệ giao tiếp
Sự giao tiếp ở lứa tuổi HS THCS là một loạt hoạt động đặc biệt Nội dung của nó là sự xây dựng những quan hệ qua lại và những hoạt động trong quan hệ đó Nhờ hoạt động giao tiếp mà các em nhận thức được người khác
và bản thân mình; đồng thời qua đó làm phát triển một số kỹ năng như kỹ năng so sánh, phân tích, khái quát hành vi của bản thân và của bạn, làm phong phú thêm những biểu tượng về nhân cách của bạn và của bản thân Do đó, làm công tác giáo dục phải tạo điều kiện để các em giao tiếp với nhau, hướng dẫn các em, tránh tình trạng ngăn cấm, hạn chế sự giao tiếp của các em ở giai đoạn này
Về đặc điểm quan hệ tình bạn khác giới: Ở lứa tuổi này, tự ý thức đã phát triển khiến các em nhanh chóng nhận thức được những đặc điểm giới tính của mình Các em đã bắt đầu quan tâm lẫn nhau và quan tâm đến bề ngoài của mình Lúc đầu, các hoạt động quan tâm của các bạn nam có tính chất tản mạn và khá trẻ con như xô đẩy, trêu chọc bạn gái Các bạn gái khi
Trang 3625
đó cảm thấy không hài lòng và bực bội nhưng khi các em gái ý thức được thì không bực tức hay giận dỗi Về sau những quan hệ này có sự thay đổi, mất tính trực tiếp, xuất hiện tính, e thẹn, ngượng ngùng, nhút nhát ở một số các
em điều đó được bộc lộ trực tiếp Bên cạnh đó, một số khác thì được che dấu bằng thái độ thờ ơ, giả tạo “khinh bỉ” đối với khác giới Hành vi này mang tính chất hai mặt: sự quan tâm đến nhau cùng tồn tại với sự phân biệt nam nữ
Nhìn chung, những xúc cảm của các em là trong sáng, là động lực thúc đẩy các em tự hoàn thiện mình Tuy nhiên, mối quan hệ tình bạn khác giới ở giai đoạn này cũng có thể lệch lạc Quan hệ về bạn khác giới không đúng mực, đưa đến chỗ bỏ bê học hành, đua đòi ham chơi, bỏ học hoặc xao lãng những công việc khác Vì vậy, người làm công tác giáo dục cần chú ý để hướng dẫn, uốn nắn cho tình bạn giữa nam và nữ thật sao cho trong sáng, lành mạnh và nó là động lực để giúp nhau trong học tập, trong tu dưỡng
Quá trình hình thành và phát triển tự ý thức gây nhiều ấn tượng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tâm lý của học sinh ở lứa tuổi này: hoạt động học tập, sự hình thành quan hệ qua lại với mọi người
Sự tự ý thức của các em được bắt đầu từ sự nhận thức hành vi của mình, từ những hành vi riêng kẻ, đến toàn bộ hành vi và cuối cùng là nhận thức về những tính cách, khả năng, phẩm chất đạo đức
Trang 3726
Đặc điểm quan trọng về tự ý thức của lứa tuổi này là mâu thuẫn giữa nhu cầu tìm hiểu bản thân với kỹ năng chưa đầy đủ để phân tích đúng đắn sự biểu lộ của nhân cách
Ý nghĩa quyết định để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi HS THCS là cuộc sống tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan
hệ này sẽ hình thành ở các em lòng tự tin và sự tự đánh giá của mình
- Sự hình thành tình cảm
Tình cảm của học sinh ở giai đoạn trung học cơ sở sâu sắc và phức tạp hơn giai đoạn học sinh tiểu học Ở lứa tuổi này các em dễ xúc động, dễ bị kích động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột Đặc điểm này xuất phát từ ảnh hưởng của sự phát dục và sự thay đổi một số
cơ quan nội tạng gây nên Nhiều khi còn do hoạt động hệ thần kinh không cân bằng, quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ức chế khiến các em không tự kiểm soát được hành vi của mình Các em đều thể hiện tình cảm rõ rệt và mạnh mẽ khi tham gia các hoạt động vui chơi, học tập, lao động
Tính dễ kích động khiến các em xúc động rất mạnh mẽ như vui quá trớn, buồn ủ rũ, có lúc thì quá hăng say, có lúc thì quá chán nản Các em có thể thay đổi rất nhanh chóng và dễ dàng, có lúc đang vui chỉ vì một lý do hay
sự việc gì đó mà buồn ngay, hoặc đang buồn nhưng gặp một điều gì đó thích thú thì lại vui ngay Do sự thay đổi trạng thái cảm xúc dễ dàng nên đôi lúc các
em mâu thuẫn trong tình cảm [21]
1.2.1.6 Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở
Ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học cơ sở
GDSKSS cho học sinh trung học cơ sở giúp các em nắm được những kiến thức cơ bản về giai đoạn phát triển của mình, để các em hiểu bản thân mình hơn, tự tin, thoải mái về những thay đổi của cơ thể Đồng thời, các em
có những cách xử lý và chăm sóc cơ thể đúng cách, kịp thời
Trang 38GDSKSS cho học sinh trung học cơ sở tạo ra môi trường thuận lợi cho
HS nâng cao nhận thức về SKSS để phát triển toàn diện nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội, đáp ứng những quy luật phát triển về tâm sinh lí của con người nói chung và HS nói riêng
Nội dung giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh trung học
cơ sở
Trên cơ sở khái niệm SKSS và đặc điểm lứa tuổi của HS THCS, trong nghiên cứu này, chúng tôi đề xuất nội dung chương trình GDSKSS cho HS THCS bao gồm những nội dung sau:
Những kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản và tuổi vị thành niên: vị
thành niên là gì, vị thành niên bắt đầu và kết thúc khi nào, thế nào là sức khỏe sinh sản, các biểu hiện tâm lý, sinh lý ở nam giới và nữ giới trong giai đoạn dậy thì như thế nào, những đặc điểm ấy có gì giống và khác nhau hay không
Tình bạn và tình yêu: đặc điểm của tình bạn cùng giới và tình bạn khác
giới; tôn trọng mối quan hệ tình bạn, đặc điểm của tình yêu học trò, những ảnh hưởng của việc đi quá giới hạn trong tình yêu học trò
Tình dục sớm: khái niệm tình dục sớm, nguy cơ của hoạt động tình dục
sớm
Mang thai và hậu quả của mang thai: mang thai là gì? điều kiện dẫn
đến mang thai, thế nào là mang thai ngoài ý muốn, các yếu tố nào dẫn đến
Trang 3928
mang thai ở VTN, khi mang thai sớm thì VTN có thể đối mặt với những nguy
cơ nào và bị ảnh hưởng như thế nào
Các biện pháp tránh thai an toàn: các biện pháp tránh thai thường gặp
là gì, đâu là biện pháp tránh thai an toàn, ưu điểm và nhược điểm của các biện pháp tránh thai, cách sử dụng các biện pháp tránh thai
Các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục: bệnh lây truyền qua đường
tình dục xuất phát từ những nguyên nhân và con đường nào, khi lây truyền qua đường tình dục sẽ có những biểu hiện hay dấu hiệu gì, bệnh lây truyền qua đường tình dục có ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe, những nguyên tắc cần đảm bảo khi khám và điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục [21]
1.2.1.7 Khái niệm Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh
Chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản
Chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản được hiểu là một bản kế hoạch đào tạo về vấn đề sức khỏe sinh sản, trong đó kế hoạch nêu lên các mục tiêu giáo dục rõ ràng mà người học cần đạt được, đồng thời xác định rõ nội dung đào tạo cụ thể, các phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp, có cách đánh giá kết quả đào tạo nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra
Các thành phần cơ bản của chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản bao gồm:
- Mục tiêu chương trình nâng cao nhận thức về SKSS
- Nội dung chương trình nâng cao nhận thức về SKSS
- Phương pháp tổ chức chương trình nâng cao nhận thức về SKSS
- Đánh giá kết quả chương trình nâng cao nhận thức về SKSS
Trang 4029
Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho học sinh
Xây dựng chương trình nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho
học sinh được hiểu là “hoạt động xây dựng một bản kế hoạch đào tạo về vấn
đề sức khỏe sinh sản cho đối tượng học sinh, trong đó kế hoạch nêu lên các mục tiêu giáo dục rõ ràng mà học sinh cần đạt được, đồng thời xác định rõ nội dung đào tạo cụ thể, các phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp với đối tượng học sinh, có cách đánh giá kết quả đào tạo nhằm đạt được các mục tiêu học tập đề ra