1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning

136 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
Tác giả Đặng Trần Trang Nhung
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thuý Nga
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều phương pháp dạy học được sử dụng với mục đích có thể truyền đạt được kiến thức tới người học một cách hiệu quả, thúc đẩy năng lực học tập của ngư

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

MÃ SỐ: 8140115.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thuý Nga

HÀ NỘI - 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tác giả Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực, được trích lược từ các nguồn tài liệu chính thống và chưa từng được công bố

ở các nghiên cứu khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung trong nghiên cứu của mình

Tác giả luận văn

Đặng Trần Trang Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ “ Đánh

giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường Đại học Giáo dục trong môi trường học tập Blended Learning”, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành

nhất đến Lãnh đạo Trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi, thầy cô giảng viên của khoa Quản trị chất lượng đã trang bị những tri thức khoa học, giúp đỡ cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Giáo dục

Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến nhà khoa học PGS.TS Nguyễn Thuý Nga đã luôn nhiệt tình, tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tác giả rất chu đáo trong quá trình học tập và thực hiện luận văn Cùng nhiều nhà khoa học khác đã góp ý, giúp đỡ tác giả để luận văn này được hoàn thành

Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ của quý thầy cô giảng viên cùng các bạn sinh viên Trường Đại học Giáo dục đã tham gia nghiên cứu và cung cấp những thông tin cần thiết giúp tác giả trong quá trình nghiên cứu

Với hạn chế về thời gian và năng lực nghiên cứu, trong khi thực tiễn vô cùng phong phú, có rất nhiều vấn đề nghiên cứu cần phải giải quyết, luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả kính mong nhận được

sự đóng góp và chỉ dẫn từ quý thầy cô, các nhà khoa học và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn

Để có được kết quả như hôm nay, tác giả cũng xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè, Lãnh đạo Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, đồng nghiệp tại phòng Đào tạo đã động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu của tác giả

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2022

Tác giả luận văn

Đặng Trần Trang Nhung

Trang 6

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Danh mục Sơ đồ

Hình 1.1 Cấu trúc các thành tố của quá trình dạy học 8

Hình 1.2 Phương pháp Blended Learning 15

Sơ đồ 1.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 43

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu trong luận văn 46

Sơ đồ 3.1: Mô hình tác động của các yếu tố đến sự chủ động trong học tập của người học trong môi trường Blended Learning 83

Danh mục Bảng Bảng 1.1: Định nghĩa về các hình thức khoá học dựa trên tỷ lệ nội dung dạy học trực tuyến 17

Bảng 2.1: Kết quả kiểm định KMO và Bartlett của thang đo thử nghiệm 51

Bảng 2.2: Ma trận xoay nhân tố của thang đo thử nghiệm 52

Bảng 2.3: Bảng thống kê các biến/nhân tố cần điều chỉnh 53

Bảng 2.4: Hệ số Cronbach’s Alpha của từng nhóm nhân tố trong thang đo khảo sát chính thức 55

Bảng 3.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 58

Bảng 3.2: Bảng thống kê giá trị của yếu tố mức độ chủ động trong học tập 70

Bảng 3.3: Mối tương quan giữa các nhân tố với Thái độ chủ động học tập 72

Bảng 3.4: Tóm tắt mô hình tương quan đa biến 73

Bảng 3.5: Kiểm định ANOVA về tương quan giữa các biến độc lập đối với biến phụ thuộc 73

Bảng 3.6: Hệ số phương trình hồi quy 74

Bảng 3.7: Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai yếu tố giới tính 75

Bảng 3.8: Bảng phân tích ANOVA cho sự khác biệt về sự chủ động học tập thông qua yếu tố giới tính 75

Bảng 3.9: Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai yếu tố thời gian tự học

Trang 7

75Bảng 3.10: Bảng phân tích ANOVA cho sự khác biệt về chủ động học tập thông qua yếu tố thời gian dành cho việc tự học của sinh viên 76Bảng 3.11: Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai yếu tố thành tích học tập 77Bảng 3.12: Bảng phân tích ANOVA cho sự khác biệt về sự chủ động học tập thông qua yêu tố thành tích học tập của sinh viên 78Biểu đồ 3.13 : Giá trị trung bình của biến "chủ động học tập" với yếu tố "thành tích học tập" 78Bảng 3.13: Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai số môn học bằng phương pháp BL 79Bảng 3.14: Kết quả kiểm định Welch sự khác biệt về chủ động học tập thông qua yếu tố số môn học bằng phương pháp BL của sinh viên 79

Danh mục biểu đồ

Biểu đồ 3.1 : Cách thức tổ chức lớp học theo phương pháp BL 60Biểu đồ 3.2 : Hình thức cung cấp tài liệu của GV 60Biểu đồ 3.3 : Tài liệu được cung cấp có hữu ích không? 62Biểu đồ 3.4: Thống kê giá trị trung bình của các biến quan sát nhóm nhân tố mức độ tự chủ trong học tập của người học trong môi trường BL 63Biểu đồ 3.5 : Nhận thức về mục đích học tập của SV 63Biểu đồ 3.6 : Thống kê giá trị trung bình của các biến quan sát nhóm nhân tố động cơ học tập trong môi trường BL 65Biểu đồ 3.7 : Thống kê giá trị trung bình của các biến quan sát nhóm nhân tố Hướng dẫn của GV trong môi trường BL 66Biểu đồ 3.8: Thống kê giá trị trung bình của các biến quan sát nhóm nhân tố

Trang 8

Tương tác với bạn học trong môi trường BL 67Biểu đồ 3.9 : Thống kê giá trị trung bình của các biến quan sát nhóm nhân tố Yếu tố nhà trường trong môi trường BL 68Biểu đồ 3.10 : Ý kiến cá nhân của người học khi học tập trong 69Biểu đồ 3.11: Phân bố điểm trung bình mức độ chủ động học tập của SV 71Biểu đồ 3.14 : Giá trị trung bình của biến "chủ động học tập" với yếu tố "số môn học BL" 81

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN ii

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 4

5.1 Câu hỏi nghiên cứu: 4

5.2 Giả thuyết nghiên cứu: 4

6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu: 4

7 Phạm vi và thời gian khảo sát 4

8 Cấu trúc của luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Cơ sở lý luận về quá trình dạy học 6

1.1.1 Khái niệm về quá trình dạy học 6

1.1.2 Cấu trúc của quá trình dạy học 7

1.2 Cơ sở lý luận về hình thức tổ chức dạy học 8

1.2.1 Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học 8

1.2.2 Phân loại hình thức tổ chức dạy học 10

1.3 Cơ sở lý luận về hoạt động học tập của người học 20

1.4 Cơ sở lý luận về sự chủ động trong học tập của người học 23

1.4.1 Các quan niệm về sự chủ động trong học tập 23

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chủ động trong học tập 25

1.5 Sự chủ động của người học trong môi trường học tập BL 28

1.6 Tổng quan nghiên cứu của vấn đề 32

1.6.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 32

Trang 10

1.6.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 38

1.7 Mô hình nghiên cứu đánh giá sự tự chủ của người học trong môi trường học tập kết hợp Blended Learning 42

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 46

2.1 Quy trình nghiên cứu 46

2.2 Thiết kế công cụ nghiên cứu 47

2.3 Đánh giá thang đo 48

2.3.1 Điều tra thử nghiệm phiếu kháo sát 48

2.3.2 Điều tra chính thức 54

Tiểu kết chương 2 57

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58

3.1 Mô tả về khách thể tham gia khảo sát 58

3.2 Thống kê mô tả cho các nhóm yếu tố liên quan đến sự chủ động trong học tập của sinh viên khi học trong môi trường Blended Learning 59

3.2.1 Về hình thức tổ chức học tập trong môi trường Blended Learning 59

3.2.2 Mức độ chủ động học tập của người học trong môi trường BL 62

3.2.3 Động cơ học tập của người học trong môi trường Blended Learning 63

3.2.4 Hướng dẫn của GV trong môi trường BL 65

3.2.5 Tương tác với bạn học trong môi trường BL 66

3.2.6 Yếu tố nhà trường trong môi trường BL 68

3.2.7 Ý kiến cá nhân của người học khi học tập trong môi trường BL 69

3.3 Thống kê mô tả thực trạng mức độ chủ động học tập của sinh viên trường Đại học Giáo dục trong môi trường BL 70

3.4 Kiểm định mô hình phần tích hồi quy tuyến tính 71

3.4.1 Mối tương quan giữa các nhân tố với Thái độ chủ động học tập của người học trong môi trường Blended Learning 71

3.4.2 Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự chủ động trong học tập của sinh viên trong môi trường học tập BL 72

3.5 Phân tích khác biệt trung bình ANOVA một yếu tố 74

Trang 11

3.5.1 Phân tích sự khác biệt về sự chủ động trong học tập của các sinh viên có giới

tính khác nhau 74

3.5.2 Phân tích sự khác biệt về sự chủ động trong học tập giữa các sinh viên có số thời gian tự học khác nhau 75

3.5.3 Phân tích sự khác biệt về sự chủ động trong học tập giữa các sinh viên có thành tích học tập khác nhau 77

3.5.4 Phân tích sự khác biệt về sự chủ động trong học tập giữa các sinh viên có số lượng môn học BL khác nhau 79

3.6 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 81

Tiểu kết chương 3 84

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay sự phát triển nhanh chóng của xã hội đã đặt ra yêu cầu cao hơn về nguồn nhân lực và chất lượng đào tạo Quan điểm của UNESCO về bốn trụ cột của giáo dục được xác định là: “Giáo dục phải được

tổ chức dựa trên bốn loại hình cơ bản và sẽ trở thành trụ cột của tri thức trong cuộc đời của một con người, đó là: Learning to know - học để biết, Learning to

do - học để làm, Learning to be - học để khẳng định mình và Learning to live together - học để cùng nhau chung sống” Chính vì vậy làm thế nào để người học có hứng thú, tập trung học tập, nắm vững kiến thức khoa học cơ bản, nhất

là tự học, tự nghiên cứu, có kỹ năng, nghiệp vụ thích ứng với sự phát triển của

xã hội, luôn là vấn đề hết sức quan trọng

Sinh viên là những trí thức tương lai của đất nước, sự phát triển của đất nước đi kèm với sự lớn mạnh về tri thức, luôn cần những nhân tài có phẩm chất khoa học, có kiến thức và kỹ năng vững vàng, siêu việt Giáo dục đại học là mô hình độc đáo với nhiều ngành nghề riêng biệt nhằm mục đích giúp sinh viên sau khi ra trường trở thành nguồn nhân lực phát triển toàn diện sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao Do đó, phương pháp học tập đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quá trình học tập

Quá trình người học tiếp nhận giáo dục trong nhà trường được coi là quá trình truyền thụ kiến thức, người dạy cần tìm ra phương pháp phù hợp

để truyền đạt kiến thức một cách hiệu quả và người học thì chỉ cần ghi nhớ kiến thức Cách đây nhiều năm, phương pháp học truyền thống ít hoặc không

có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, việc học phải gắn với nhà trường và giáo viên Với sự phát triển của khoa học công nghệ trong thời đại mới cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, mạng Internet, trí tuệ nhân tạo đã mở

ra nguồn tri thức rộng lớn cho việc phát triển các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại hơn

Trang 13

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều phương pháp dạy học được

sử dụng với mục đích có thể truyền đạt được kiến thức tới người học một cách hiệu quả, thúc đẩy năng lực học tập của người học như sự sáng tạo hay chủ động trong hoạt động học tập của mình Trong thế giới phát triển hiện nay, những phương pháp học tập cổ điển đã dần trở lên lỗi thời, những phương pháp học tập mới đã được ra đời và dần chứng minh được sự hiệu quả của chúng Một trong số đó là Blended Learning (BL) - phương pháp học tập kết hợp, đây

là phương pháp học tập hòa trộn giữa cách học truyền thống trên lớp và cách học hiện đại (trực tuyến) giúp người học có thể học nhanh, hiệu quả và không gây nhàm chán

Ngoài khả năng đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ của người học trong môi trường thực tế, hệ thống giáo dục hiện nay cũng có xu hướng tận dụng tối đa khả năng sáng tạo và kiến thức của học sinh để giải quyết các tình huống cụ thể Người học tham gia vào quá trình học tập không chỉ là người tiếp nhận tri thức, mà còn là người tạo ra tri thức và trao đổi tri thức với người dạy Chickering và Gamson (1987) đã chỉ ra rằng học tập không dành cho đối tượng sinh viên như là khán giả Người học chỉ ngồi trong lớp nghe giảng, ghi nhớ và trả lời câu hỏi sẽ không học được nhiều Họ phải nói về những gì họ đang học, viết nó ra, kết nối nó với kinh nghiệm cá nhân và áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày của họ

Trường Đại học Giáo dục là một trong những trường đại học tiên phong

sử dụng phương pháp học tập hỗn hợp trong hoạt động giảng dạy Trong năm học 2018 - 2019, nhà trường đã thử nghiệm cho một số học phần và đến năm học 2019 - 2020, toàn bộ các học phần trong nhà trường đều được áp dụng phương pháp này Do đó, năng lực chủ động học tập của sinh viên trong môi trường học tập có sử dụng phương pháp BL là một vấn đề cấp thiết cần được

nghiên cứu Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài “Đánh giá sự chủ động trong học tập

của sinh viên trường Đại học Giáo dục trong môi trường học tập Blended

Trang 14

Learning” để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình Trên cơ sở kết

quả nghiên cứu tác động, xác lập những cơ sở khoa học cho việc đề xuất những giải pháp phù hợp để tăng mức độ hiệu quả của phương pháp BL trong quá trình học tập và cải thiện thành tích học tập của sinh viên trường ĐHGD

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài này được thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự chủ động trong học tập của sinh viên khi được đặt trong môi trường học tập Blended Learning tại trường Đại học Giáo dục - ĐHQGHN

Từ kết quả nghiên cứu, đưa ra những kết luận và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh và nâng cao sự chủ động trong học tập của sinh viên trong môi trường Blended Learning

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong nghiên cứu này, tác giả quan tâm nghiên cứu đến sự chủ động trong học tập của sinh viên trường Đại học Giáo dục trong môi trường Blended Learning

Nghiên cứu được thực hiện tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội trong học kỳ II năm học 2019 - 2020 (tháng 03/2020 - 06/2021)

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện tìm hiểu nghiên cứu lý luận liên quan đến đề tài, tác giả tiến hành thu thập, nghiên cứu các tài liệu và kết quả nghiên cứu thực tiễn trong nước và ngoài nước về các vấn đề liên quan Qua đó phân tích, tổng hợp, phân loại nhằm tìm hiểu các hệ thống lý thuyết khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn

Đề tài thu thập thông tin bằng cách phát phiếu câu hỏi khảo sát cho sinh viên trường Đại học Giáo dục Nội dung trong bảng hỏi nhằm thu thập các thông tin về hoạt động học tập và sự chủ động của sinh viên trong môi trường Blended Learning Từ những thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát, tác giả

xử lý bằng phần mềm SPSS có kiểm tra lại độ tin cậy Kết quả nghiên cứu được

Trang 15

phân tích bằng các phép thống kê mô tả, phân tích nhân tố, mô hình hồi quy, tương quan

Quá trình xây dựng bảng hỏi có sử dụng thêm các phương pháp chuyên gia bằng cách tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực đo lường và đánh giá trong giáo dục, các chuyên gia đang nghiên cứu sâu về lĩnh vực phương pháp BL

về việc điều chỉnh và xây dựng phiếu khảo sát ý kiến sinh viên

Công cụ sử dụng để phân tích dữ liệu bao gồm: phiếu khảo sát, bảng đánh giá, bảng tổng hợp, các phần mềm xử lý số liệu chuyên dụng như SPSS, QUEST…

5 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu:

Nội dung đề tài nghiên cứu để trả lời cho các câu hỏi sau đây:

- Câu hỏi 1: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến sự chủ động trong học tập của người học trong môi trường Blended Learning?

- Câu hỏi 2: Sinh viên chủ động học tập trong môi trường Blended Learning có mối tương quan với các yếu tố ảnh hưởng như thế nào?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu:

Trong môi trường có sử dụng phương pháp Blended Learning, sinh viên

có động lực học tập; tiếp nhận được sự hỗ trợ, tương tác của bạn học, giảng viên và nhà trường từ đó có ảnh hưởng tích cực đến sự chủ động học tập của sinh viên

6 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

- Khách thể nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên khách thể là sinh viên trường Đại học Giáo dục đang học tập trong môi trường Blended Learning

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trên đối tượng là các yếu tố ảnh hưởng đến sự chủ động học tập trong môi trường BL của sinh viên trường ĐHGD

7 Phạm vi và thời gian khảo sát

Trang 16

- Phạm vi khảo sát: Dự kiến sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên (tất cả các đối tượng SV các khối năm thứ nhất, năm thứ hai, năm thứ ba và năm cuối Tổng cộng dự kiến phát ra 400 phiếu khảo sát

- Thời gian khảo sát: Dự kiến thời gian khảo sát trong 06 tháng (Từ tháng 01/2020 đến tháng 6/2020)

8 Cấu trúc của luận văn

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Phương pháp và tổ chức nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về quá trình dạy học

1.1.1 Khái niệm về quá trình dạy học

Hoạt động dạy học là hoạt động chủ đạo và đặc trưng nhất của nhà trường, được thực hiện theo một quy trình nhất định từ đầu đến cuối, được coi

là quá trình dạy học Là một quá trình xã hội bao gồm và liên quan đến hoạt động dạy và học, trong quá trình này người học tiến hành tự giác, chủ động, sáng tạo, tự tổ chức, tự định hướng và điều chỉnh dưới sự điều khiển, hướng dẫn và tổ chức của giáo viên để hoàn thành mục tiêu và nhiệm vụ dạy học

Quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy, các hành động của người dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học (Nguyễn Văn

Tuấn, 2009)

Dạy học là một hoạt động đặc thù của xã hội, trong đó người dạy truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm cho người học Phạm Viết Vượng (2000) cho rằng dưới góc độ tâm lý học trong quá trình dạy học, hoạt động học của người học không thể tách rời hoạt động dạy của người dạy “Học tập là quá trình nhận thức nhằm khám phá, tìm hiểu, nắm vững, ghi nhớ và vận dụng kiến thức vào cuộc sống”

Khái niệm về quá trình dạy học trên đây phản ánh tính chất hai mặt của quá trình này: quá trình dạy của người dạy và quá trình học của người học Hai quá trình này không tách rời nhau mà là một quá trình vận hành chung, hình thành nhân cách mới, phù hợp với yêu cầu của thời đại Trong quá trình hoạt động chung này giáo viên đóng vai trò chủ đạo, tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của người học, giúp họ tự chủ khám phá kiến thức Tất nhiên, người dạy cũng có chức năng cung cấp kiến thức cho người học và chỉ khi thực sự cần thiết Nhưng chức năng này không phải là chức năng chính của toàn bộ quá trình dạy học Người dạy phải nghĩ đến việc giúp người học sử dụng kiến thức

Trang 18

và kinh nghiệm mà họ tích lũy được qua các phương tiện thông tin và cuộc sống, đồng thời kết hợp những kiến thức mà người dạy cung cấp để tạo ra kinh nghiệm học tập và hình thành sự hiểu biết của bản thân

Với sự phối hợp hoạt động giảng dạy của giáo viên, người học cần có các ý thức như chủ động tích cực, có thể tổ chức hay định hướng thực hiện các hoạt động nhận thức để đảm bảo nắm vững kiến thức, hình thành các kĩ năng

và phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt năng lực tư duy sáng tạo là cơ sở của một thế giới quan khoa học và tư cách đạo đức của người mới vào nghề Người học là yếu tố chính để tạo nên sản phẩm giáo dục, hành động của họ sẽ ảnh hưởng và mang tính chất quyết định tới nguồn tri thức mà họ có thể tiếp thu

Như vậy, từ những yếu tố trên có thể tóm tắt về quá trình dạy học như

sau: Dạy học là một quá trình mà người dạy có thể lãnh đạo, tổ chức, điều

khiển hay hướng dẫn người học, giúp cho người học có thể tự giác, chủ động, tích cực tìm kiếm tri thức, tự tổ chức và điều khiển việc học của mình nhằm thực hiện các mục tiêu hay nhiệm vụ dạy học và qua đó trau dồi phát triển tri thức, nhân cách cho người học

1.1.2 Cấu trúc của quá trình dạy học

Các thành tố của quá trình dạy học bao gồm mục đích, phương phát dạy học, phương tiện sử dụng trong quá trình dạy học, người dạy và người học trong quá trình dạy và học, kết quả của quá trình dạy học… Quá trình dạy học được thực hiện và có thể chịu các tác động qua lại với một số môi trường bên ngoài như: kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, xu hướng văn hoá…

Theo Nguyễn Văn Tuấn (2009), Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống gồm có nhiều thành tố cơ bản, trong đó người dạy cùng với hoạt động dạy và người học cùng với hoạt động học là hai thành tố cơ bản nhất Mọi người đều dễ dàng thấy rằng nếu không có hai thành tố đó cùng với thành tố thứ ba là nội dung dạy học thì quá trình dạy học không thể xảy ra

Giống như tất cả các hoạt động thường ngày trong cuộc sống của con

Trang 19

người, hoạt động dạy học cũng cần có mục tiêu và phương pháp, phương tiện

hỗ trợ để có thể đạt được kết quả theo đúng mong muốn đặt ra ban đầu của người dạy cũng như người học Tất cả những yếu tố đó tồn tạ và tác động lẫn nhau trong một mối quan hệ chặt chẽ và toàn bộ quá trình hoặc hệ thống giảng dạy được đặt phù hợp trong bối cảnh kinh tế, văn hoá, xã hội ở cả mặt

vi mô hay vĩ mô Dù quá trình này diễn ra ở thời gian hay bất cứ địa điểm nào, các yếu tố đó luôn tồn tại và tác động lẫn nhau trong một cấu trúc xác định

Nhìn nhận một cách đơn giản nhất, thì một quá trình dạy học bao gồm các yếu tố: mục đích (mục tiêu dạy học), nội dung dạy học, các hoạt động dạy

- học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học và kết quả học tập Các yếu

tố trên có sự quan hệ mật thiết với nhau, chịu sự chi phối và ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó mục tiêu dạy học và yếu tố quy định các yếu tố khác

Mặt khác, mục tiêu dạy học nói riêng và các yếu tố khác của quá trình dạy học nói chung được xuất phát từ nhu cầu của xã hội và chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội - khoa học… Nói cách khác, các yếu tố

xã hội này tạo nên một “trường xã hội”, trong đó diễn ra hoạt động dạy học Ta

có thể mô tả một cách đơn giản mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của quá trình dạy học như hình dưới đây:

Hình 1.1 Cấu trúc các thành tố của quá trình dạy học

1.2 Cơ sở lý luận về hình thức tổ chức dạy học

1.2.1 Khái niệm về hình thức tổ chức dạy học

Kết quả dạy học

ND DH

MT DH

HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Nhu

Trang 20

Trong hoạt động dạy và học, một trong những điều quan trọng nhất khi giảng viên bắt đầu công việc giảng dạy của mình đó là lựa chọn phương pháp giảng dạy mà họ sẽ áp dụng trong lớp học Phương pháp giảng dạy giúp người dạy truyền đạt kiến thức đến người học và có tác động rất lớn đến quá trình học tập của học sinh

Theo nhà giáo dục học nổi tiếng J.Piaget (1999) thì hình thức cơ bản nhất của quá trình dạy học chính là hình thức lên lớp Theo ông, lớp học được tiến hành trong những khoảng thời gian và không gian xác định như: lên lớp là hình thức tổ chức dạy theo đơn vị lớp, mỗi lớp 35-40 học sinh cùng lứa tuổi, cùng trình độ, một tiết học kéo dài 45 phút, học sinh ngồi học trong lớp với phương tiện là bàn, ghế, bảng… Trong nền giáo dục hiện đại ngày nay thì hình thức lên lớp vẫn giữ vai trò chủ đạo

Theo Hà Thị Đức (2002) định nghĩa hình thức dạy học là “phương thức

tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh theo một trình tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện mục tiêu và các nhiệm vụ của bài học”

Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2005) thì "Hình thức tổ chức dạy học là hình thức vận động của nội dung dạy học cụ thể trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học”

Tác giả Phạm Viết Vượng (2008) định nghĩa “hình thức tổ chức dạy học

là cách thức tổ chức, sắp xếp các giờ học sao cho phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng bài, phù hợp với điều kiện và môi trường lớp học làm cho quá trình dạy học đạt được kết quả tốt nhất”

Có thể nói, phương pháp giảng dạy bao gồm các nguyên tắc và phương pháp được sử dụng bởi các giáo viên để cho phép học sinh học tập Để một phương pháp giảng dạy cụ thể là phù hợp và hiệu quả, nó phải phù hợp với đặc điểm của người học và loại hình học tập của môn học Như vậy, một bộ phận quan trọng của quá trình dạy học chính là hình thức tổ chức dạy học, nếu mục đích và nội dung dạy học là yếu tố cốt lõi của quá trình dạy học thì hình thức

Trang 21

tổ chức chính là mặt quan trọng bên ngoài của quá trình dạy học Trong đó mục đích dạy học quyết định nội dung dạy học, nội dung dạy học quy định phương pháp và phương tiện dạy học, trên cơ sở đó kết hợp với thực tế đưa ra hình thức dạy học phù hợp

Mỗi hình thức tổ chức dạy học được xác định dựa trên mối quan hệ của các yếu tố cơ bản sau: lớp học là tập thể hay cá nhân; mức độ hoạt động của cá nhân trong quá trình lĩnh hội tri thức và kĩ năng; phương pháp chiếm lĩnh, tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh; thời gian và địa điểm học tập như thế nào

Người học sẽ rất dễ trở nên chán nản nếu giáo viên của họ không kết hợp phong phú các phương pháp giảng dạy để làm cho mỗi bài học trở nên độc đáo

và hấp dẫn Kiến thức có thể được truyền tới người học theo nhiều cách, đối với người học này là dễ hiểu và dễ nhớ nhưng có thể với người học khác lại là một vấn đề rất khó để tiếp thu Sự kết hợp các phương pháp giảng dạy khác nhau là điều mà người dạy không chỉ nên biết mà còn nên thực hiện sử dụng trong lớp học của họ

Từ những định nghĩa trên có thể tóm tắt lại khái niệm hình thức tổ chức

dạy học là “cách thức tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của một lớp học

theo một trình tự và chế độ nhất định trong không gian, địa điểm và những điều kiện xác định nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu dạy học”

1.2.2 Phân loại hình thức tổ chức dạy học

Hiện nay, vẫn chưa có tài liệu nào đưa ra một sự phân loại cụ thể, rõ ràng hoặc quy định về các hình thức tổ chức dạy học Do đó, mỗi hình thức dạy học

có thể xác định tùy thuộc vào một số yếu tố như:

- Cách tổ chức lớp học;

- Thành phần người học;

- Thời gian và địa điểm học tập;

- Dạng hoạt động của người học và phương pháp chỉ đạo của người dạy…

Trang 22

Như vậy, có thể phân loại thành 3 hình thức tổ chức dạy học tùy vào cách

tổ chức lớp học như sau:

1.2.2.1 Dạy học trực tiếp

Đặc điểm của hình thức dạy học trực tiếp đó là hoạt động dạy học được tiến hành chung cho toàn lớp với số lượng học sinh nhất định phù hợp với khả năng tổ chức và điều khiển của giáo viên Trình độ của các học sinh trong cùng một lớp được xác định là gần như ngang bằng nhau, điều đó đảm bảo cho việc giảng dạy của giáo viên được tiến hành thuận lợi và phù hợp với năng lực chung của lớp học

Trong hình thức dạy học trực tiếp, việc học tập diễn ra bên trong một lớp học được đặt tại địa điểm cố định, ít hoặc hiếm khi việc học được tiếp cận theo

sở thích của hoặc phong cách học tập của người học Mỗi lớp học có một giáo viên giảng dạy hoặc hướng dẫn, việc thiết kế và cung cấp chương trình giảng dạy được tiến hành với rất ít sự khác biệt mà thường được đóng khuôn theo chương trình và quy định của nhà trường Ở lớp học này thường được tổ chức giảng dạy theo hình thức mặt đối mặt, nghĩa là người dạy giảng dạy trên bục giảng và người học ngồi dưới nghe, ghi chép, ghi nhớ và trả lời câu hỏi khi cần thiết Bên cạnh đó người dạy có thể xen kẽ các phương pháp dạy học như phương pháp thuyết trình, làm việc nhóm…

Ưu điểm:

- GV có không gian và thời gian để có thể diễn giải các vấn đề từ dễ đến phức tạp;

- Có thể tạo thiện cảm và tạo niềm tin với người học thông qua ngôn ngữ

và phương pháp mà GV giảng dạy;

- Giúp GV có thể thu được tín hiệu từ học sinh một cách nhanh chóng và kịp thời để điều chỉnh quá trình dạy học

- Người học có thể phát huy được năng lực chú ý và tư duy bằng khái niệm;

- Giúp người học có thể nắm bắt được đầy đủ các thông tin về đối tượng nghiên cứu dựa trên cơ sở huy động nhiều khách quan khác nhau Từ đó sẽ phát

Trang 23

triển được tư duy một cách trừu tượng và hình thành khái niệm về đối tượng rõ ràng nhất

Nhược điểm:

- Có thể làm cho người học gặp phải tình trạng bị thụ động và mệt mỏi nếu giờ dạy đơn điệu, buồn tẻ, nặng về lý thuyết;

- Sinh viên khó có thể phát triển tư duy một cách độc lập và sáng tạo;

- Việc vận dụng, phân tích, sáng tạo từ kiến thức được học trên lớp khi sử dụng tại nhà có thể bị hạn chế do người học không có sự hướng dẫn, kiểm soát của GV và tính tự giác mỗi người học khác nhau, điều này dẫn tính tình trạng làm bài tập để đối phó, hoặc chép lại bài của bạn khác để GV kiếm tra

1.2.2.2 Dạy học trực tuyến (E-learning)

E-learning là viết tắt của từ tiếng Anh Electronic Learning, được hiểu

dùng để mô tả việc giảng dạy và đào tạo dựa trên nền tảng công nghệ thông tin

và truyền thông Trong những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, E-learning

đã phát triển nhanh chóng, gắn liền với sự phát triển của công nghệ và giáo dục tạo ra một khái niệm rộng và đa chiều

Có nhiều ý kiến khác biệt đa chiều và chưa thống nhất về khái niệm về E-Learning Zemsky và Massy (2004) cho rằng có ba cách hiểu khác nhau về E-Learning như sau:

- E-Learning là hình thức giáo dục từ xa, có thể hiểu rằng người học không cần đến lớp

- E-Learning bao gồm những phần mềm hỗ trợ hoạt động giao tiếp trên mạng, nhấn mạnh về vai trò của các hệ thống học tập online

- E-Learning là việc học tập thông qua các phương tiện công nghệ thông tin, điện tử

Hai cách hiểu đầu có mức độ giới hạn E-Learning trong một phạm vi hẹp, chỉ quan tâm đến cách thức phân phối của nó đến quá trình học tập của người học Cách hiểu thứ ba có phản ảnh đầy đủ hơn về bản chất và nội dung của E-Learning và theo ý nghĩa này, một số tác giả đưa ra những định nghĩa

Trang 24

như sau:

Theo Ủy ban Châu Âu định nghĩa, E-Learning là việc sử dụng các công nghệ đa phương tiện mới và inrternet để nâng cao chất lượng học tập bằng cách làm cho việc tiếp cận các phương tiện và dịch vụ, các nguồn tài nguyên kiến thức, trao đổi và cộng tác từ xa dễ dàng hơn (European Commission, 2001)

Dưới góc độ giáo dục, Theo (OECD, 2005), E-learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong các tiến trình giáo dục đa dạng của giáo dục đại học nhằm hỗ trợ và khuyến khích học tập

Dưới góc độ công nghệ, E-learning được hiểu là việc dạy và học được

số hóa với việc truyền tải các hoạt động, quá trình, sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, băng Video, CD-ROM, các thiết bị điện tử cá nhân… (Rosenberg và Govindasamy, 2001)

Dưới góc độ người học, E-Learning là việc người học được học tập được trợ giúp bởi công nghệ thông tin E-Learning không chỉ bị giới hạn bởi các kỹ năng số mà còn có thể bao gồm nhiều dạng thức và phương pháp kết hợp, đặc biệt là việc sử dụng phần mềm, internet, ứng dụng trực tuyến hoặc bất kỳ một phương tiện truyền thông đa phương tiện nào khác (CEDEFOP, 2001)

Như vậy, có thể hiểu đơn giản E-Learning là hình thức giảng dạy và học

tập dưới sự trợ giúp của công nghệ truyền thông và internet, thông qua đó người dạy có thể hướng dẫn học tập và người học có thể chủ động trong việc thu thập kiến thức, tham khảo các tài liệu học và trao đổi với người dạy mà không cần gặp mặt trực tiếp

Ưu điểm:

- Không bị giới hạn bởi không gian và thời gian học tập

- Nhờ có sự kết hợp hình ảnh minh họa, âm thanh và sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong bài giảng giúp cho các bài học trở nên sống động và thú

vị hơn

Trang 25

- Khi sử dụng hình thức dạy học E - learning, giáo viên sẽ dễ dàng cập nhật các nội dung bài học mới trong khoảng thời gian ngắn, sau đó truyền tải đến người học giúp người học có thể tiếp cận tài liệu nhanh hơn

- Người học có thể dễ dàng trao đổi với nhau qua mạng trong quá trình học và cũng có thể trao đổi với giảng viên để củng cố kiến thức Các trao đổi này sẽ được hỗ trợ rất tích cực trong quá trình học

- Khi có nhiều người cùng đăng nhập vào hệ thống sẽ gây ra nguy cơ tài liệu đào tạo nội bộ bị phát tán hoặc đánh cắp

- Khi học tập trực tuyến đòi hỏi người học cần có khả năng làm việc độc lập và ý thức tự giác cao độ Đồng thời người học cũng cần phải xây dựng một thời gian biểu phù hợp, tự định hướng trong học tập, cũng như thực hiện tốt những mục tiêu học đã đề ra

- Những nội dung học liên quan đến thí nghiệm, thực hành sẽ không thể hiện được hoặc thể hiện kém hiệu quả Ngoài ra học tập trực tuyến không thể thay thế được các hoạt động liên quan đến các môn học thực hành, rèn luyện

kỹ năng kỹ xảo cần có các thao tác vận dụng và vận động

1.2.2.3 Dạy học kết hợp (Blended Learning)

Phương pháp học tập kết hợp (Blended Learning) là một khái niệm được

Trang 26

sử dụng trong lĩnh vực giáo dục nhằm mô tả một hoạt động học tập sử dụng kết hợp giữa thời gian tương tác khi trên lớp và bên cạnh đó áp dụng công nghệ trong hoạt động dạy và học bên ngoài lớp học Về mặt ý nghĩa, “blended” nghĩa

là đan xen, kết hợp hai hay nhiều yếu tố lại với nhau Trong giáo dục, Blended learning có thể được khái niệm như sau:

Theo Tinio (2003) BL dùng để chỉ các mô hình học kết hợp giữa hình thức lớp học truyền thống và các giải pháp e-learning; Theo Graham (2006), học tập kết hợp BL là kết hợp hướng dẫn học tập thông qua trực tiếp với hướng dẫn học tập thông qua công nghệ; Theo Nguyễn Ngọc Dung và Nguyễn Thị Toan (2020) Blended learning (B-learning) là một phương thức đào tạo hiện đại, kết hợp hoàn hảo giữa phương thức học tập truyền thống và việc tích hợp ứng dụng công nghệ thông tin trong đào tạo nhằm nâng cao tính linh hoạt, chủ động của việc dạy học cũng như tiết kiệm chi phí, rút ngắn khoảng cách địa lí giữa người dạy và người học

Blended Learning xuất phát từ ý tưởng cho rằng sự tương tác trực tiếp của lớp học truyền thống và phương pháp học trực tuyến đều có những lợi ích riêng, và khi kết hợp các thành phần khác nhau này sẽ thúc đẩy việc học tập lấy người học làm trung tâm, tăng sự tương tác giữa người dạy và người học Bên cạnh đó, phương pháp giáo dục truyền thống có thể được cải thiện khi có sự hỗ trở bởi công nghệ, khi mà công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc dạy và học Hơn nữa, phương pháp BL được cho là có tác động tích cực trong việc phát triển khả năng tự chủ trong học tập, cung cấp cho sinh viên một môi trường học tập cá nhân thuận lợi

Từ các khái niệm được nêu trên, khái niệm về Blended Learning được đưa ra phần lớn dựa trên sự kết hợp về cách thức tổ chức lớp học, nội dung bài học và phương pháp được lựa chọn để giảng dạy

Hình 1.2 Phương pháp Blended Learning

Trang 27

Có thể hiểu một cách đơn giản là: Blended Learning là phương pháp học kết hợp giữa hình thức học truyền thống trên lớp và E-learning hiện đại Phương pháp này là phương pháp hướng tới giáo dục chủ động bằng cách lấy học sinh làm trung tâm Trong giới hạn của một lớp học hoặc một khóa học, người học được phép tham gia vào các hoạt động khác nhau, chẳng hạn như học tập trên lớp, sau đó chuyển sang các bài tập hoặc thông tin nghiên cứu trên Internet, sau

đó thực hành trực tiếp trên lớp và trao đổi với giáo viên trong lớp học

Để nhận biết một khoá học được cho là truyền thống, trực tuyến Learning hay hỗn hợp Blended Learning, (Seaman & Elaine, 2011) đã đưa ra một bảng định nghĩa về các hình thức khoá học dựa trên tỷ lệ nội dung được giảng dạy trực tuyến như sau:

Trang 28

E-Bảng 1.1: Định nghĩa về các hình thức khoá học dựa trên tỷ lệ nội dung

30% - 79% Blended Learning Dạy học hỗn hợp

Khóa học kết hợp giữa học trực tuyến và học trực tiếp trên lớp Tỷ lệ nội dung được phân phối trực tuyến tương đối nhiều, thường sử dụng các cuộc thảo luận trực tuyến và giảm số lượng các cuộc gặp mặt trực tiếp

> 80% Dạy học trực tuyến

E-Learning

Khóa học mà hầu hết hoặc tất cả các nội dung được chuyển tải trực tuyến Thường không có cuộc gặp mặt trực tiếp

Như vậy, một khoá học có tỷ lệ nội dung được truyền tải bằng các phương tiện công nghệ thông tin hỗ trợ ở mức 0-30% được coi là một khoá học truyền thống trên lớp, với khoá học này tỷ lệ sử dụng công nghệ thông tin ở mức thấp, chỉ có tác dụng hỗ trợ người dạy những nội dung như giao bài tập, chia sẻ tài liệu… Khoá học có trên 80% thời lượng được truyền tải trực tuyến thì được coi là một khoá học bằng phương pháp E-learning, hầu hết hoặc tất cả các buổi học đều được diễn ra theo hình thức trực tuyến và các buổi học gặp mặt trực tiếp thường rất ít hoặc không cần thiết Cuối cùng, một khoá học được gọi là sử dụng phương pháp dạy học kết hợp Blended Learning là khoá học có

tỷ lệ truyền tải nội dung bằng các công cụ, ứng dụng công nghệ thông tin ở mức 30-79%, việc học trên lớp và học trực tuyến được xen kẽ nhịp nhàng và đồng đều, phát huy tối đa các điểm thuận lợi của cả hai phương pháp truyền thống

và trực tuyến

Trang 29

Để phù hợp với môi trường học tập, trình độ người học và khả năng vận dụng công nghệ thông tin ở Việt Nam thì BL là sự kết hợp “hữu cơ”, bổ sung lẫn nhau giữa hình thức học tập trên lớp truyền thống dưới sự hướng dẫn của người dạy và hình thức tổ chức dạy học qua mạng E-Learning với tính tự giác của người học thành một thể thống nhất, trong đó các phương pháp dạy học được vận dụng mềm dẻo để tận dụng tối đa ưu điểm của công nghệ thông tin nhằm mang lại hiệu quả học tập tốt nhất

Ưu điểm

- Thúc đẩy sự tự giác của người học: Bằng cách chuyển phần trách nhiệm

từ người dạy qua người học, Blended Learning sẽ thúc đẩy sự tự chủ và tự giác trong việc học Thông qua việc học trực tuyến, người học được hướng dẫn thiết lập và quản lý mục tiêu học tập riêng Ngoài ra, học tập kết hợp thúc đẩy trách nhiệm học tập trong khuôn khổ giám sát nhất định Blended Learning áp dụng ứng dụng vào chương trình giảng dạy trực tuyến, vì vậy người học có thể học theo tốc độ và tiến trình của riêng họ

- Ứng dụng tốt hơn với công nghệ kỹ thuật số: Bằng cách tích hợp công nghệ, người học sẽ được trang bị tốt hơn cho kỹ năng sử dụng máy tính, mạng internet, ứng dụng trong tương lai Ngày nay, các nhà tuyển dụng thường mong muốn nhân viên của họ biết cách sử dụng các công cụ trực tuyến cũng như việc học hỏi nhiều kiến thức hơn Blended Learning giúp người học xây dựng nền tảng vững chắc các kỹ năng này Phương pháp học tập kết hợp cũng giúp người học học cách đánh giá các tài liệu trực tuyến Với việc ngày càng nhiều tin tức giả, học hỏi nhiều kiến thức và hiểu biết về truyền thông là những kỹ năng cần thiết giúp xác định và kiểm tra các nguồn thông tin có chất lượng

- Giúp tiết kiệm chi phí đào tạo: phương pháp này giúp tối đa hóa tiết kiệm chi phí như chi phí cơ sở tại trường, sửa chữa xây dựng và bảo trì, chi phí đi lại Thay vào đó, người học có thể sử dụng không gian công cộng như thư viện

Trang 30

hay nhà riêng

- Giúp tăng sự tương tác: Thông qua Blended Learning, người học có thể gặp

gỡ người dạy và các người học khác bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu Dạy học theo nhóm dễ dàng hơn nhiều trong môi trường trực tuyến khi người dạy có thể đến từ bất kỳ nơi đâu trên thế giới và chủ đề bài học có thể đa dạng hơn

- Nội dung bài học trở nên hấp dẫn hơn: Blended Learning có thể phá vỡ

sự đơn điệu của lớp học truyền thống bằng cách mang đến những thông tin mới

mẻ trong nhiều bối cảnh khác nhau và tìm kiếm được bằng nhiều nguồn tri thức khác nhau

Nhược điểm

- Đòi hỏi thời gian để người dạy và người học có thể tiếp cận và làm quen với công nghệ mới, điều này có thể bị hạn chế ở những vùng xa xôi hẻo lánh hoặc công nghệ thông tin, truyền thông, internet kém phát triển

- Người dạy muốn áp dụng phương pháp học tập kết hợp Blended Learning thành công không những phải quan tâm đến chất lượng nội dung chương trình môn học mà còn phải phân bổ được hợp lý tỷ lệ phù hợp giữa học trực tiếp và học trực tuyến

- Người tham gia bắt buộc phải có những nền tảng cơ bản về công nghệ thông tin hoặc có ý thức học hỏi Mọi trục trặc về thiết bị điện tử cũng như sự lúng túng của người dùng có thể mang lại những kết quả không mong muốn trong tiết học cũng như làm giảm động lực tham gia, tăng tỷ lệ bỏ học giữa chừng

- Bản chất của mô hình học tập kết hợp Blended Learning là người dạy phải cởi mở trong phong cách giảng dạy, thoát ra khỏi những khuôn khổ cũ để phù hợp với cách thức mới lấy người học làm trung tâm Điều này đòi hỏi người học phải có ý thức tự chủ cao mới có thể phát huy được những lợi ích tích cực của mô hình này

Các mô hình học tập Blended Learning:

Blended Learning có thể phân loại một cách tổng quát thành sáu mô hình

Trang 31

tùy theo đặc thù học sinh của lớp học (Garrison và Kanula, 2004):

(1) Face-To-Face Driver (giảng dạy trực tiếp): Nơi mà giảng viên cho lời hướng dẫn và các công cụ hỗ trợ bằng công cụ kĩ thuật số, thích hợp với các lớp học có đa dạng các phân khúc học sinh về khả năng cũng như trình độ hiểu biết

(2) Sự luân phiên (Rotation): Sinh viên xoay vòng thông qua thời khóa biểu của các môn học trực tuyến độc lập và các lớp học trực diện với giảng viên Mô hình này thích hợp với các học sinh giỏi về mặt này nhưng yếu về mặt khác

(3) Flex (linh hoạt): Hầu hết chương trình giảng dạy được phân phối bằng nền tảng kĩ thuật số và giảng viên có mặt để thảo luận và ủng hộ trực diện Các giáo viên đóng vai trò là người trực tiếp hướng dẫn hơn là người cung cấp hướng dẫn Mô hình này phù hợp với người học gặp phải vấn đề hoặc người học vừa học vừa làm, thời gian lên lớp không nhiều

(4) Labs (phòng thực hành): Tất cả các chương trình giảng dạy được phân phối thông qua nền tảng kĩ thuật số nhưng ở một địa điểm phù hợp Sinh viên thường tham gia các lớp học truyền thống trong mô hình này

(5) Self-blend (tự học): Mô hình cho phép sinh viên học các môn học ngoài chương trình truyền thống Sinh viên có thể chọn gia tăng cách học truyền thống của họ với khóa học trực tuyến

(6) Online driver (học trực tuyến): Sinh viên hoàn thành toàn bộ khóa học thông qua một nền tảng online với giảng viên check-ins Tất cả các chương trình đào tạo và dạy học đều được phân phối thông qua nền tảng kĩ thuật số và gặp gỡ trực diện được thiết lập và xuất hiện khi cần thiết

1.3 Cơ sở lý luận về hoạt động học tập của người học

Giảng dạy và học tập hiệu quả luôn là mối quan tâm hàng đầu đối với người dạy và người học Đối với người dạy, các học thuyết học tập giúp người dạy xác định được năng lực của người học để từ đó định hướng, lựa chọn

Trang 32

phương pháp giảng dạy phù hợp Đối với người học, các học thuyết học tập giúp người học hiểu được năng lực của bản thân để từ đó lựa chọn được phương pháp học tập hiệu quả Nghiên cứu của Nguyễn Danh Nam (2020) đã chỉ ra một số lý thuyết dạy học phổ biến hiện nay như sau:

• Thuyết chín muồi sinh học (Maturism Theory):

Theo thuyết chín muồi sinh học, học tập là một bản năng tự nhiên theo một trình tự đã được lập trình sẵn, nếu người học đạt đến sự chín muồi để học điều gì đó, họ sẽ nắm bắt được phương pháp học điều đó Người dạy cần xây dựng một môi trường học tập thoải mái, nhận biết chính xác thời điểm để tác động người học tham gia vào quá trình học tập và tổ chức các hoạt động phù hợp với nhu cầu, hứng thú của người học

• Thuyết hành vi (Behaviorism Theory):

Theo thuyết hành vi, học tập là một quá trình phản xạ có điều kiện, sự thay đổi hành vi của một người là kết quả phản ứng của bản thân với các sự kiện trong môi trường Thuyết hành vi chủ yếu nhấn mạnh tới việc học thuộc lòng, quá trình học tập dựa trên quy chế thưởng phạt, người dạy là chủ thể của kiến thức, đưa ra những kích thích để tạo ra những phản xạ có điều kiện ở người học

• Thuyết nhận thức (Cognitivism Theory):

Theo thuyết nhận thức, học tập là sự tiếp thu hoặc tổ chức lại các cấu trúc nhận thức, xử lý và lưu trữ thông tin một cách chủ động của người học thông qua các giác quan nghe và nhìn Người học thu được kết quả học tập tốt nhất khi họ cấu trúc được kiến thức để tạo ra sự liên kết giữa kiến thức mới và những kiến thức có sẵn

• Thuyết kiến tạo (Constructivism Theory):

Theo thuyết kiến tạo, học tập là quá trình kiến tạo kiến thức của người học thông qua sự tương tác với môi trường Kiến thức sẽ được hình thành qua

Trang 33

kinh nghiệm của chính bản thân người học Người học là chủ thể của hoạt động,

tự chủ, tự xây dựng và thực hiện mục tiêu, phương pháp học tập Người dạy đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng người học khám phá kiến thức

• Thuyết kết nối (Connectivism Theory):

Theo thuyết kết nối, học tập là quá trình xây dựng mạng lưới kết nối thông qua các nút kiến thức có sẵn và các nút kiến thức mới Người học đóng vai trò chủ động trong việc thiết kế quá trình học tập, đồng thời được cung cấp công cụ để tạo phương pháp học tập riêng Khi đó trách nhiệm của người dạy là giúp người học phát triển khả năng chủ động tìm tòi và lĩnh hội kiến thức

• Thuyết đa thông minh (Theory of Multiple Intelligences):

Theo thuyết đa thông minh, có nhiều loại hình trí thông minh được phản ánh theo những cách thức khác nhau trong cuộc sống Con người có tất cả các loại hình trí thông minh Tuy nhiên, mỗi người sẽ chỉ có một số loại hình thông minh vượt trội tạo nên đặc thù của người đó Do vậy, người dạy cần chú trọng tới cấu trúc trí tuệ của người học để sử dụng phương pháp dạy học phù hợp và định hướng người học tìm hiểu sâu khái niệm cốt lõi hơn là học nhiều nội dung

Ngoài sáu học thuyết trên, còn có một số học thuyết khác như: thuyết linh hoạt nhận thức (Cognitive Flexibility), thuyết học tập theo tình huống (Situated Learning), thuyết cộng đồng thực hành (Communities of Practice), thuyết học tập khám phá (Discovery Learning), thuyết phát triển xã hội (Social Development), thuyết tải nhận thức (Cognitive Load), thuyết cải tạo (Elaboration)…

Trong thời đại phát triển của khoa học và công nghệ hiện nay, môi trường học tập đã thay đổi dần từ phương thức học tập truyền thống sang học tập trực tuyến hoặc có thể kết hợp hai phương thức đó với nhau Từ đó đòi hỏi chương trình giáo dục phải được chỉnh sửa hoặc thiết kế mới để phù hợp và thay thế các khoá học truyền thống cũ, khi đó các phương pháp giảng dạy và học tập cũng sẽ bị thay đổi, người dạy và người học sẽ trao đổi và tương tác với nhau

Trang 34

thông qua môi trường trực tuyến nhiều hơn, người học có thể học bất cứ khi nào tại bất cứ địa điểm nào mà họ cảm thấy phù hợp và thoải mái cho hoạt động học tập lĩnh hội tri thức của mình Khi hình thức học tập này diễn ra và dần trở nên phổ biến thì nhiệm vụ của người dạy sẽ dần dần thay đổi, giảng dạy sẽ không còn là nhiệm vụ chính của họ mà thay vào đó các công cụ và ứng dụng trực tuyến sẽ hỗ trợ hoặc có thể thay thế hoàn toàn vai trò của người dạy Khi

đó người dạy có vai trò nghiên cứu và thiết kế chương trình học, khoá học sao cho phù hợp với năng lực và điều kiện của người học, điều đó đòi hỏi người dạy phải có những kỹ năng và trình độ chuyên môn về thiết kế chương trình đào tạo và có những sự hiểu biết về các học thuyết học tập phù hợp

1.4 Cơ sở lý luận về sự chủ động trong học tập của người học

1.4.1 Các quan niệm về sự chủ động trong học tập

Tự chủ trong học tập đang ngày càng trở thành một cách tiếp cận hiện đại trong nền giáo dục hiện nay khi mà nhiều giáo viên luôn cố gắng phát triển khả năng tự học của học sinh Việc chủ động trong học tập khiến người học có trách nhiệm hơn đối với việc học của mình và sẽ hỗ trợ người học rất nhiều trong hoạt động học tập ở tương lai

Tự chủ trong học tập nghĩa là người học có thể kiểm soát được hoạt động học tập của họ, ở cả trong và ngoài lớp học, người học có thể kiểm soát mục đích và cách mà họ thực hiện việc học như thế nào Tuy nhiên, quá trình thúc đẩy và tạo ra môi trường tự chủ của người học là một quá trình lâu dài và phức tạp Để thúc đẩy hoạt động học tập được thực hiện bên ngoài lớp học nhiều hơn

so với thời gian trong giờ học ở trường thì học sinh phải được hướng dẫn cách

tự học

Định nghĩa của Holec (1981) về quyền tự chủ của người học là định nghĩa được trích dẫn nhiều nhất nhất trong lĩnh vực này, ông cho rằng: Một người có khả năng tự chủ trong học tập nghĩa là người ấy có khả năng tự chịu trách nhiệm cho việc học của mình Holec giải thích thêm rằng quyền tự chủ

Trang 35

của người học đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh của việc học như xác định mục tiêu, xác định nội dung và tiến trình, lựa chọn phương pháp học và cuối cùng là đánh giá lại những gì đã đạt được

Theo định nghĩa của Holec, khái niệm tự chủ được chấp nhận như một năng lực của người học hơn là các tình huống trong hoạt động học tập Mặt khác, Dickinson (1987) định nghĩa sự tự chủ của người học là những tình huống trong đó người học làm việc theo hướng riêng của họ bằng cách đưa ra tất cả các quyết định cho việc học của mình bên ngoài lớp học truyền thống

Để làm rõ sự tự chủ của người học trong học tập là gì và nó đòi hỏi những

gì, Little (1991) lập luận rằng đã có một số quan niệm sai lầm về sự tự chủ của người học Theo ông, quan niệm sai lầm phổ biến nhất là sự tự chủ của người học đồng nghĩa với sự tự hướng dẫn, và người học tự chủ chỉ làm việc độc lập

mà không cần sự trợ giúp của giáo viên Thứ hai, người ta có thể đã nhầm tưởng rằng bất kỳ sự can thiệp nào của giáo viên sẽ đều can thiệp vào quyền tự chủ

mà người học đang phát triển Ngoài ra, ông lập luận rằng tự chủ không phải là một phương pháp học tập hay giảng dạy để mà có thể chuẩn bị một loạt các kế hoạch bài học để thúc đẩy sự tự chủ trong học tập của người học Một quan niệm sai lầm thứ tư đó là hành vi tự chủ trong học tập có thể được mô tả dễ dàng Thực chất, rất khó để có thể mô tả nó vì sự tự chủ luôn bị ảnh hưởng bởi người học như tuổi tác, hoàn cảnh cá nhân, nhu cầu học tập hay động cơ học tập của người học… Cuối cùng, sự tự chủ của người học không phải là trạng thái ổn định nhất định và rất khó để có thể đảm bảo tính lâu dài của nó, người học tự chủ trong một lĩnh vực không có nghĩa họ sẽ áp dụng cho mọi lĩnh vực học tập khác của mình

Về sau này, chủ đề về khả năng tự chủ trong học tập của người học đã thu hút được rất nhiều nhà nghiên cứu và được phác thảo khái niệm theo cách tương tự như sau: “Người học tự chủ hiểu mục đích của chương trình học tập của họ, chấp nhận một cách rõ ràng trách nhiệm đối với việc học của họ, chia

Trang 36

sẻ trong việc thiết lập mục tiêu học tập, đưa ra các sáng kiến trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động học tập, thường xuyên xem xét việc học và đánh giá hiệu quả của nó”

Khi chủ động trong học tập, học sinh có thể kiểm soát tốt hơn hoạt động học tập của mình bằng cách xác định mục tiêu, xác định nội dung và phương pháp học tập sẽ sử dụng, chủ động giám sát và đánh giá những gì mình thu nhận được

Như vậy, chủ động trong học tập của người học được hiểu rằng, người

học có thể chiếm lĩnh được các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách chủ động, tích cực và tự giác Có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau về sự chủ động

trong học tập của người học như:

(1) Sự chủ động học tập diễn ra trong lớp học khi người học chịu sự tổ chức, điều khiển và hướng dẫn của người dạy

(2) Sự chủ động học tập diễn ra ngoài lớp học, khi người học có sự hướng dẫn của người dạy

(3) Sự chủ động học tập ở ngoài lớp học, khi người học không có sự tổ chức, điều khiển và hướng dẫn của người dạy

Đối với hình thức thứ (1) và (2), việc chủ động trong học tập của người học diễn ra ngay tại lớp học, được quy định trong chương trình học mà người học đang học tập Đối với hình thức chủ động thứ (3), người học tiến hành hoạt động học tập một cách tự giác để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và mở rộng, bổ sung tri thức cho bản thân

1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự chủ động trong học tập

a) Các nhân tố bên trong người học

- Nhu cầu học tập: là những đòi hỏi tất yếu, khách quan, biểu hiện sự cần thiết về một cái gì đó cần được thỏa mãn của người học trong cuộc sống và hoạt động Từ rất lâu, các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau đã quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, dưới mỗi góc độ nghiên cứu lại có cái nhìn khác

Trang 37

nhau về nhu cầu học tập

- Động cơ học tập: Hoạt động học tập của người học là hoạt động có mục đích tự giác Muốn hoạt động học tập diễn ra một cách thuận lợi và có kết quả, phải tạo cho hoạt động này một lực thúc đẩy mạnh mẽ, đó là động cơ học tập Động cơ học tập chính là sự thể hiện cụ thể của nhu cầu học tập, là lực thúc đẩy hoạt động học tập của người học đạt kết quả cao đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường Nhờ có động cơ học tập đúng đắn mà tính tích cực học tập của người học được nâng lên Người học hiểu rõ hơn mục đích học tập, rèn luyện, trau dồi kiến thức để sau này vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công việc, nâng cao năng lực của cá nhân Cũng nhờ có động cơ học tập đúng đắn mà người học có thể nỗ lực hết mình vì mục đích học tập do khóa học và nhà trường đề ra; tự tin hơn, tích cực trong học tập hơn, chủ động sắp xếp thời gian học tập, chủ động vượt qua các khó khăn mỗi khi gặp phải

- Hứng thú học tập: Hứng thú là thái độ hoặc cảm xúc đặc biệt của một cá nhân nào đó đối với một đối tượng nào đó, đối tượng đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống vừa có khả năng mang lại hứng thú cho cá nhân trong quá trình học tập Tính tích cực học tập của người học nếu không dựa trên hứng thú thì dễ không bền vững, dễ bị suy giảm trước các tác động tiêu cực

- Ý thức tự giác học tập và rèn luyện: Nhờ có ý thức tự học tập và rèn luyện mà người học luôn nhận thức đúng đắn về mục đích, ý nghĩa, vai trò của hoạt động học tập, từ đó có tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo trong lĩnh hội tri thức theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo Chất lượng và hiệu quả hoạt động học tập của người học xét đến cùng phụ thuộc vào trình độ tự giác của người học trong học tập, rèn luyện Ý thức tự giác học tập và rèn luyện là cơ sở quan trọng

để biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo trong mỗi bản thân người người học b) Các nhân tố bên ngoài

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy, học tập: Hiện nay trong

Trang 38

công tác giảng dạy luôn hướng đến đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng phương pháp dạy học tích cực, hiện đại Do đó cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập có tác động lớn đến chất lượng giảng dạy, học tập của đội ngũ giảng viên và học tập của người học hiện nay Chính vì vậy, đòi hỏi một mức

độ đáp ứng nhất định về cơ sở vật chất như: cấu trúc của phòng học, máy móc, trang thiết bị phục vụ giảng dạy; hệ thống internet; thư viện; mạng internet; hệ thống phòng nghỉ, kí túc xá… Thậm chí những việc nhỏ như sự sạch sẽ, ngăn nắp của phòng ở tại kí túc xá, sự chuẩn bị phòng học hay lắp đặt trước các thiết

bị kỹ thuật đều là các yếu tố quan trọng giảng viên phải bao quát để đảm bảo rằng người học không bị xáo trộn hoặc phải lo lắng những vấn đề này trong quá trình học, điều này sẽ nâng cao được chất lượng giảng dạy cũng như học tập của giảng viên và người học

- Môi trường học tập tích cực: Sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng trong quá trình học tập chính là biểu hiện của tính tích cực trong quá trình nhận thức; sự nỗ lực tư duy, sự tập trung được huy động ở mức độ cao nhằm đạt được mục đích đã đặt ra trong quá trình học tập Sự tích cực trong học tập của người học là yếu tố phản ánh vai trò chủ đạo của người học trong quá trình nhận thức vừa là một trong những điều kiện góp phần quyết định kết quả học tập của người học, quyết định mức độ đáp ứng mục tiêu chất lượng trong công tác đào tạo, bồi dưỡng Đây là một phẩm chất tâm lý có cấu trúc đặc thù nhưng lại có thể bị tác động và thay đổi theo chiều hướng khác thông qua tác động của các yếu tố có liên quan đến môi trường hoạt động học tập của người học

Từ những yếu tố được phân tích bên trên, có thể tóm tắt về môi trường học tập tích cực là nơi mà ở đó các biểu hiện tâm lý của người học như sự hứng thú, sự chú ý hoặc ý chí… luôn luôn được huy động ở mức độ cao để có thể giải quyết vấn đề, đặt câu hỏi và tìm câu trả lời, thảo luận và tranh luận với người dạy hay bạn học để đưa ra những quan điểm của mình về một vấn đề, sau đó có

Trang 39

thể liên hệ những kiến thức đã học được vào thực tiễn cuộc sống Khi đó người dạy có trách nhiệm là người tổng hợp và khái quát lại vấn đề

- Phương pháp giảng dạy của giảng viên: Trong thời đại hiện nay, đặt ra yêu cầu đội ngũ giảng viên cần thay đổi thái độ và phương pháp giảng dạy, tập trung hướng tới sự nâng cao tính chủ động, tích cực của người học trong việc tiếp thu kiến thức Chủ động, tích cực học tập giúp người học chuyển biến vị trí từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng được tiếp nhận tri thức sang chủ thể

tự tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập Vai trò của người dạy và người học thay đổi làm nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy và học, từ đó có thể đáp ứng được yêu cầu học tập ngày càng cao trong giai đoạn phát triển mới của xã hội

Dạy học với mục tiêu phát huy tính tích cực học tập của người học tạo nên những tác động mạnh mẽ trong quá trình giáo dục Bên cạnh đó sự tích cực

và chủ động trong hoạt động nhận thức của người học có liên quan đến các yếu

tố như động cơ, hứng thú học tập, năng lực, ý chí của cá nhân, môi trường dạy học đóng vai trò rất quan trọng Các yếu tố đó có sự liên quan chặt chẽ với nhau và có ảnh hưởng tới việc phát huy tính tích cực của người học trong học tập Khi đó người dạy đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế, xây dựng các hoạt động học tập tốt nhất, phù hợp nhất cho người học học tập và phát triển

1.5 Sự chủ động của người học trong môi trường học tập BL

Thuật ngữ học tập kết hợp (BL) đề cập đến một môi trường học tập kết hợp học tập dựa trên lớp học truyền thống với học tập dựa trên công nghệ BL xuất phát từ ý tưởng rằng tương tác mặt đối mặt có lợi ích cũng như các phương pháp học tập trực tuyến và đề xuất rằng việc kết hợp các thành phần khác nhau này sẽ thúc đẩy việc học tập lấy học sinh làm trung tâm và tăng tương tác giữa giáo viên và học sinh Phương pháp này được coi là có tác dụng tích cực trong việc phát triển khả năng tự chủ bằng cách cung cấp cho học sinh môi trường học tập cá nhân (Beatly, 2003)

Trang 40

Theo Nunan (2000) cho rằng các kết quả nghiên cứu khác nhau đã chứng minh rằng có sự khác biệt lớn giữa các kiến thức mà sinh viên chủ động tìm hiểu so với các kiến thức mà giáo viên muốn truyền đạt cho họ Nếu như người dạy tập trung vào một phần kiến thức định sẵn thì sinh viên lại có thể bị xao lãng và quan tâm đến các vấn đề khác, điều đó có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập của họ Quá trình học tập sẽ đạt hiệu quả cao hơn nếu như người học được hướng dẫn hoặc cung cấp các cơ hội để có thể chủ động tìm hiểu, kiến tạo kiến thức và phát triển khả năng tự học của mình

Sự chủ động trong học tập là định hướng đầu tiên trong phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, được định nghĩa là một quá trình mà “trong

đó các cá nhân chủ động, có hoặc không có sự giúp đỡ của người khác trong việc xác định nhu cầu học tập, xây dựng mục tiêu học tập, xác định phương pháp, lựa chọn và thực hiện các chiến lược học tập thích hợp và đánh giá kết quả học tập” (Knowles, 1975) Điều này có hiệu quả khi đặt cá nhân người học vào trung tâm của quá trình học tập Tương tự, (Habeshaw & Gibbs, 1989) cho rằng “người học học tốt khi họ chịu trách nhiệm về việc học của mình bao gồm việc có thể chủ động tìm kiếm cơ hội học tập và tận dụng nó một cách tốt nhất”

Abraham (2007) đã so sánh phương pháp học tập kết hợp với một khóa học truyền thống dành cho sinh viên kỹ sư tốt nghiệp tại một trường đại học ở

Úc Nghiên cứu kéo dài trong hai học kỳ để điều tra kết quả thi của học sinh và hành vi của họ sau khi tiếp xúc với môi trường học tập kết hợp Phương pháp

BL sử dụng một chương trình phần mềm WebCT Điều này cho phép sinh viên tham gia thảo luận với các bạn học khác và giáo viên của họ, tiếp cận các tài liệu trực tuyến và tham gia vào một diễn đàn để thuyết trình Kết quả chỉ ra rằng điểm của học sinh trong phương pháp học tập kết hợp tốt hơn so với phương pháp học truyền thống Mặc dù các buổi học trực tiếp không bắt buộc, nhưng người học đã tham dự và tự chịu trách nhiệm về việc học của mình Theo nghiên cứu, những người học muốn học trực tuyến một cách thuận tiện cũng

Ngày đăng: 14/06/2022, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Dung và Nguyễn Thị Toan (2020), Ứng dụng "Blended Learning" trong hoạt động bồi dưỡng phát triển năng lực giáo viên giáo dục công dân, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt kì 1 tháng 5/2020, tr 216- 220 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blended Learning
Tác giả: Nguyễn Ngọc Dung và Nguyễn Thị Toan
Năm: 2020
2. Lê Đình (2004), Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm ngành Vật lý, Đề tài khoa học công nghệ cấp Bộ, Mã số B2004.09.07, Trường Đại học sư phạm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm ngành Vật lý
Tác giả: Lê Đình
Năm: 2004
3. Hà Thị Đức và Nguyễn Văn Hộ (2002), Giáo dục học đại cương, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cương
Tác giả: Hà Thị Đức và Nguyễn Văn Hộ
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 2002
4. Trần Hoàng Huy và Nguyễn Kim Đào (2014), Tổ chức hoạt động dạy học theo b-Learning đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo sau 2015, Tạp chí khoa học - Đại Học Văn Hiến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động dạy học theo b-Learning đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo sau 2015
Tác giả: Trần Hoàng Huy và Nguyễn Kim Đào
Năm: 2014
5. Nguyễn Thị Hương Ly (2017), Nghiên cứu, triển khai dạy học kết hợp (Blended Learning) môn địa lý lớp 10 ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, triển khai dạy học kết hợp (Blended Learning) môn địa lý lớp 10 ở một số trường THPT tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Ly
Năm: 2017
6. Nguyễn Danh Nam (2020), Vận dụng một số lý thuyết dạy học trong đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông,Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng một số lý thuyết dạy học trong đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Danh Nam
Năm: 2020
7. Nguyễn Thanh Quý và Nguyễn Trung Kiên (2010), Sự thực hành học tập tích cực của sinh viên: Một thử nghiệm mô hình hóa các yếu tố tác động.Tạp chí Khoa học ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự thực hành học tập tích cực của sinh viên: Một thử nghiệm mô hình hóa các yếu tố tác động
Tác giả: Nguyễn Thanh Quý và Nguyễn Trung Kiên
Năm: 2010
8. Jean P., Tâm lý học và giáo dục học. Hà Nội : NXB Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và giáo dục học
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Nguyễn Văn Tuấn (2009), Tài Liệu Bài Giảng Lý Luận Dạy Học, Hồ Chí Minh, NXB Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài Liệu Bài Giảng Lý Luận Dạy Học
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Hồ Chí Minh
Năm: 2009
10. Phạm Viết Vượng (2000), Giáo dục học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
11. Trần Thị Tuyết Oanh (2005), Giáo trình Giáo dục học, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Giáo dục học
Tác giả: Trần Thị Tuyết Oanh
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2005
12. Phạm Viết Vượng (2008), Lí luận giáo dục, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận giáo dục
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2008
13. Victoria T. (2003), Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong giáo dục, Nhóm công tác e-ASEAN UNDP-APDIP (dịch).Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong giáo dục
Tác giả: Victoria T
Năm: 2003
14. Alan F., Ameeta J., Dianne T. (2011), Blended Learning in Finance: Comparing Student Perceptions of Lectures, Tutorials and Online Learning Environments Across Different Year Levels, Economic Papers A journal of applied economics and polic Sách, tạp chí
Tiêu đề: Blended Learning in Finance: "Comparing Student Perceptions of Lectures, Tutorials and Online Learning Environments Across Different Year Levels
Tác giả: Alan F., Ameeta J., Dianne T
Năm: 2011
15. Anne A. (2007), Student-centred teaching of accounting to engineering students: Comparing blended learning and traditional approaches, Proceedings ascilite Singapore Sách, tạp chí
Tiêu đề: Student-centred teaching of accounting to engineering students: Comparing blended learning and traditional approaches
Tác giả: Anne A
Năm: 2007
16. Bob T. (1995), Self- directed learning: Revisiting an idea most appropriate for middle school students. ERIC Document No. ED395287 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Self- directed learning: Revisiting an idea most appropriate for middle school students
Tác giả: Bob T
Năm: 1995
17. CEDEFOP (2001), E-learning and training in Erope, Office for Official Publications of the European Communities, Luxembourg Sách, tạp chí
Tiêu đề: E-learning and training in Erope
Tác giả: CEDEFOP
Năm: 2001
18. Chad M., Sidney C. (2010), An Analysis of Student Self-Assessment of Online, Blended, and Face-to-Face Learning Environments: Implications for Sustainable Education Delivery, American Journal of Education Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Analysis of Student Self-Assessment of Online, Blended, and Face-to-Face Learning Environments: Implications for Sustainable Education Delivery
Tác giả: Chad M., Sidney C
Năm: 2010
20. Curtis H. (2015), Exploring Intensive Longitudinal Measures of Student Engagement in Blended Learning, International Review of Research in Open and Distance Learning Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring Intensive Longitudinal Measures of Student Engagement in Blended Learning
Tác giả: Curtis H
Năm: 2015
21. David L. (1991), Learner Autonomy 1: Definitions, Issues and Problems, Authentik Sách, tạp chí
Tiêu đề: Learner Autonomy 1: Definitions, Issues and Problems
Tác giả: David L
Năm: 1991

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cấu trúc các thành tố của quá trình dạy học - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
Hình 1.1. Cấu trúc các thành tố của quá trình dạy học (Trang 19)
Bảng 1.1: Định nghĩa về các hình thức khoá học dựa trên tỷ lệ nội dung dạy học trực tuyến - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
Bảng 1.1 Định nghĩa về các hình thức khoá học dựa trên tỷ lệ nội dung dạy học trực tuyến (Trang 28)
Từ những cơ sở lý luận và căn cứ trên, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu của đềtài luận văn bao gồm các yếu tốsau đây: - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
nh ững cơ sở lý luận và căn cứ trên, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu của đềtài luận văn bao gồm các yếu tốsau đây: (Trang 54)
Hình thức tổ chức học - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
Hình th ức tổ chức học (Trang 55)
Nghiên cứu sơ bộ thông qua phát bảng khảo sát thăm dò cho 125 sinh viên chính quy bậc Đại học đang theo học tại Trường ĐHGD -  ĐHQGHN - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
ghi ên cứu sơ bộ thông qua phát bảng khảo sát thăm dò cho 125 sinh viên chính quy bậc Đại học đang theo học tại Trường ĐHGD - ĐHQGHN (Trang 57)
Dựa vào bảng 2.2 có thể thống kê các biến/nhân tốc ần điều chỉnh hoặc loại bỏnhư sau: - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
a vào bảng 2.2 có thể thống kê các biến/nhân tốc ần điều chỉnh hoặc loại bỏnhư sau: (Trang 64)
1 Về hình thức tổ chức học tập trong môi trường BL 7 án phù hợp Chọn đáp 2 Thái độ chủ động học tập của người học trong môi trường  BL 16 Likert - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
1 Về hình thức tổ chức học tập trong môi trường BL 7 án phù hợp Chọn đáp 2 Thái độ chủ động học tập của người học trong môi trường BL 16 Likert (Trang 66)
Từ bảng 2.4 cho thấy độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các phiếu khảo sát chính thức có giá trịtrong khoảng (0.870 - 0.945) - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
b ảng 2.4 cho thấy độ tin cậy Cronbach’s Alpha của các phiếu khảo sát chính thức có giá trịtrong khoảng (0.870 - 0.945) (Trang 67)
Bảng 3.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
Bảng 3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu (Trang 69)
Từ biểu đồ 3.1 cho thấy, hình thức tổ chức lớp học phổ biến nhất theo phương pháp BL được SV lựa chọn là  Tài liệu học t ập được giáo viên cung cấ p  trực tuyến - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
bi ểu đồ 3.1 cho thấy, hình thức tổ chức lớp học phổ biến nhất theo phương pháp BL được SV lựa chọn là Tài liệu học t ập được giáo viên cung cấ p trực tuyến (Trang 71)
5.9. Các nhận xét sau đúng (Đ) hay sai (S) ? (kẻ bảng sau và ghi Đ hoặ cS cho mỗi câu trên) a b c d e f  g H - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
5.9. Các nhận xét sau đúng (Đ) hay sai (S) ? (kẻ bảng sau và ghi Đ hoặ cS cho mỗi câu trên) a b c d e f g H (Trang 78)
3.4 Kiểm định mô hình phần tích hồi quy tuyến tính - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
3.4 Kiểm định mô hình phần tích hồi quy tuyến tính (Trang 82)
Bảng 3.6: Hệ số phương trình hồi quy - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
Bảng 3.6 Hệ số phương trình hồi quy (Trang 85)
Bảng 3.7: Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai yếu tố giới tính - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
Bảng 3.7 Kiểm tra tính đồng nhất của các phương sai yếu tố giới tính (Trang 86)
Dữ liệu bảng 3.9 cho thấy giá trị sig. của kiểm định Levene có giá trị 0.585>0.05 nghĩa là phương sai của các giá trịcó sự đồng nhất - Đánh giá sự chủ động trong học tập của sinh viên trường đại học giáo dục trong môi trường học tập blended learning
li ệu bảng 3.9 cho thấy giá trị sig. của kiểm định Levene có giá trị 0.585>0.05 nghĩa là phương sai của các giá trịcó sự đồng nhất (Trang 87)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w