1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận quản lý giáo dục CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC ở việt nam hiện nay

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 54,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG KHOA TIỂU LUẬN Chủ đề CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Họ tên học viên Lớp , 2021 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 Chương 1 Lý luận chung về chính sách xã hội hóa giáo dục 2 1 1 Bối cảnh ra đời của chính sách xã hội hóa giáo dục 2 1 2 Quá trình phát triển của chính sách xã hội hóa giáo dục 3 1 3 Lực lượng tham gia vào chính sách xã hội hóa giáo dục 5 Chương 2 Giải pháp thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục trong giai đoạn hiện nay 7 2 1 Đổi mới công tác quản lý giáo.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬN Chủ đề: CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM

HIỆN NAY

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

- 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 Lý luận chung về chính sách xã hội hóa giáo dục 2 1.1 Bối cảnh ra đời của chính sách xã hội hóa giáo dục 2 1.2 Quá trình phát triển của chính sách xã hội hóa giáo dục 3 1.3 Lực lượng tham gia vào chính sách xã hội hóa giáo dục 5

Chương 2 Giải pháp thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục

2.1

Đổi mới công tác quản lý giáo dục đáp ứng kịp thời những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và số

2.2 Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và

2.3 Tiếp tục rà soát, quy hoạch mạng lưới trường, lớp 9 2.4 Đẩy nhanh chuyển đổi số trong giáo dục 10

Trang 3

MỞ ĐẦU

Phát triển giáo dục – đào tạo được Đảng ta xác định là quốc sách hàng đầu, đồng thời là cơ sở quan trọng để thực hiện chính sách “Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc” Đầu tư cho giáo dục

là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Chính vì vậy, Nghị quyết số: 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013

đã đề ra: “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ

sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học

Đối với nước ta hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng việc

xã hội hóa giáo dục cũng là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển đất nước Thời gian qua việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đã thu hút được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia, đa dạng hóa nhiều loại hình trường học tạo điều kiện đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội Bên cạnh hệ thống các trường công lập, hệ thống trường ngoài công lập phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là các trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo nghề góp phần gia tăng số lượng nguồn nhân lực được đào tạo

Tuy nhiên, bên cạnh đó trong quá trình đổi mới chính sách xã hội hóa giáo dục vẫn còn một số hạn chế như việc giảng dạy vẫn còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành; nguồn vốn cho giáo dục chưa hợp lý; đặc biệt vẫn chưa chú ý đến nâng cao chất lượng giáo dục mà chỉ chú trọng đến số lượng đào tạo Trong Hội nghị Ban chấp hành trung ương khóa XI đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến hạn chế yếu kém đó là: “Chính sách giáo dục, đào tạo chưa tạo được động lực, huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội Không có quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và kế hoạch phát triển đất nước, các ngành, các địa

phương” Do đó, nghiên cứu vấn đề “Chính sách xã hội hóa giáo dục ở Việt

Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận có nghĩa ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu

sắc

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC

1.1 Bối cảnh ra đời của chính sách xã hội hóa giáo dục

Xã hội hoá chính sách giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới

sự quản lý của Nhà nước để xây dựng một xã hội học tập; là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội, duy trì sự cân bằng giữa hoạt động giáo dục và xã hội

Xã hội hoá chính sách giáo dục là làm cho hoạt động giáo dục mang tính

xã hội Trong đó người đi giáo dục và người được giáo dục trong mọi hoạt động

về nội dung và phương thức thực hiện, kết quả đạt được đều mang tính xã hội, tính chuẩn mực xã hội rất cao Giáo dục nhằm bồi đắp cho người học tư tưởng, hình thành ý thức chính trị, nhân cách, bản lĩnh dân tộc cùng với những tri thức khoa học, kỹ thuật, văn hoá, đạo đức, lối sống

Xã hội hoá chính sách giáo dục là đa dạng hoá các loại hình giáo dục; là quá trình trao đổi những kinh nghiệm, đổi mới nội dung chương trình, phương pháp, hình thức, phương tiện giáo dục một cách phù hợp với đối tượng và điều kiện nước ta

Việt Nam, xã hội hóa chính sách giáo dục là điều kiện cần thiết và tất yếu

để phát triển giáo dục và đào tạo; là chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược của Đảng “xã hội hóa công tác giáo dục là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế – xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình

độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập”

Văn kiện Đại hội IX của Đảng có nêu: “Thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích phát triển tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục”

Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X nhấn mạnh: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Đề cao trách

Trang 5

nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang

mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời”

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định:

“Hoàn thiện cơ chế, chính sách xã hội hóa công tác giáo dục, đào tạo, trên ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của công đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng

xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời”

Như vậy, xã hội hóa chính sách giáo dục là một quá trình mà cả cộng đồng và xã hội cùng tham gia vào giáo dục Trong đó mọi tổ chức xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện các mục tiêu giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn

1.2 Quá trình phát triển của chính sách xã hội hóa giáo dục

Từ khi nước ta giành độc lập bằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Bác Hồ lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến, kiến quốc, trong đó có hoạt động giáo dục Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định những tư tưởng cơ bản của triết lý giáo dục nước ta Triết lý ấy thể hiện ở mục tiêu giáo dục toàn diện, hồng và chuyên, đức với tài; phương thức giáo dục là lý luận gắn liền với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn với xã hội, kết hợp giáo dục nhà trường với gia đình và xã hội…

Những tư tưởng quan trọng ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi sáng hoạt động giáo dục nước ta suốt hơn 60 năm qua và đạt được những kết quả to lớn, đào tạo những lớp người yêu nước, có ý chí độc lập, tự chủ, có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, vững vàng, có tinh thần vượt khó vươn lên làm chủ các kiến thức khoa học, kỹ thuật, phục vụ hết mình vì sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước

So với các nước, kể cả các nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn thì tỷ lệ chi tiêu công cho giáo dục trên GDP của Việt Nam khá lý tưởng (khoảng 5% GDP) góp phần đem lại những thành tựu quan trọng cho giáo dục nước nhà Để thực hiện nguyên tắc hiến định “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”, Luật Giáo dục qua các thời kỳ đã xác định rõ hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Trong đó, cấp học, trình

độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Để bảo đảm tính chất “đa mục

tiêu” của nền giáo dục, chúng ta không thể chỉ dựa vào nguồn lực của Nhà nước, mà

cần thực hiện giải pháp “xã hội hoá”

Trang 6

Xã hội hóa giáo dục là một chủ trương được thực hiện ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, không chỉ những quốc gia nghèo, kém phát triển mà ngay cả ở các quốc gia phát triển, công tác xã hội hóa giáo dục càng được thực hiện rộng rãi và có hiệu quả Tuy nhiên, qua các giai đoạn và tùy từng quốc gia, dân tộc, thuật ngữ xã hội hóa giáo dục có nhiều cách hiểu với những nội hàm ít nhiều liên quan đến các khía cạnh như: phi tập trung hóa (decentralization); giáo dục suốt đời (longlife education); xã hội học tập (learning society); giáo dục cộng đồng (comunity education) Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã phân chia dịch vụ và thương mại dịch vụ trên thế giới 12 nhóm lớn với 143 hạng mục dịch vụ Trong 12 nhóm thương mại dịch vụ, thì dịch vụ giáo dục thuộc nhóm thứ năm, dịch vụ nhóm này bao gồm: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ giáo dục trong học; dịch vụ giáo dục đại học và cao đẳng; dịch vụ giáo dục cho người lớn và các dịch vụ giáo dục khác

Dù muốn hay không thì thị trường dịch vụ (giáo dục) cũng đã và đang hình thành ở nước ta khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO

Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 đã chỉ rõ, “Thể chế hoá chủ trương xã hội hoá giáo dục đã ghi trong nghị quyết Đại hội VIII”.Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục đã nêu, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá Sau Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII nêu trên, Luật Giáo dục ra đời năm 1998, lần đầu tiên công nhận chế độ đa sở hữu đối với các cơ sở giáo dục, bao gồm công lập, bán công, dân lập và tư thục

Ngày 14/6/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Giáo dục Luật Giáo dục xác định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội; “phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục”

Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, trong

đó đặt mục tiêu định hướng đến năm 2010, “tỷ lệ học sinh nhà trẻ ngoài công

Trang 7

lập chiếm 80%, mẫu giáo 70%, trung học phổ thông 40%, trung học chuyên nghiệp 30%, các cơ sở dạy nghề 60%, đại học, cao đẳng khoảng 40%”

Năm 2012, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 40/NQ-CP về xã hội hóa giáo dục Những năm gần đây, chủ trương xã hội hóa giáo dục còn được Trung ương chỉ đạo rõ hơn trong Nghị quyết số 29/NQ-TƯ ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Trong phần Định hướng đổi mới căn

bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, quan điểm chỉ đạo,Nghị quyết xác định:

“Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường,

bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo”

Ngày 14/6/2019, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua Luật Giáo dục năm 2019 Với mục tiêu thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng

và pháp luật của Nhà nước về đổi mới giáo dục, đào tạo, tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng nền giáo dục Việt Nam phát triển toàn diện; Luật xác định: “Thực hiện đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục; khuyến khích phát triển cơ sở giáo dục dân lập, tư thục đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục…”

Có thể nói rằng, các cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên là căn cứ quan trọng

để việc xã hội hoá giáo dục được ghi nhận và phát triển và trở thành một phần không thể thiếu trong bức tranh chung về phát triển giáo dục Việt Nam trong những năm qua

3 Lực lượng tham gia vào chính sách xã hội hóa giáo dục

Đối với giáo dục, có thể hiểu xã hội hóa giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước Đây là tư tưởng chiến lược, coi sức mạnh của toàn xã hội là điều kiện không thể thiếu để phát triển có chất lượng và hiệu quả sự nghiệp giáo dục, có giá trị chỉ đạo quá trình phát triển giáo dục một cách lâu dài, không phải là một ý đồ chiến thuật được vận dụng một cách nhất thời cho một giải pháp tình thế Đây được xem là con đường, là biện pháp tiên quyết để thực hiện trọn vẹn, lâu dài chức năng, nhiệm vụ của giáo dục theo đúng mục tiêu xác định Xã hội hóa giáo dục tạo ra nhiều nguồn để làm giáo dục, mở ra

Trang 8

một con đường để chúng ta làm giáo dục không thuần tuý ở trong nhà trường, phá thế đơn độc của nhà trường, thực hiện việc kết hợp giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường, kết hợp các lực lượng giáo dục: nhà trường, gia đính, xã hội, tạo

ra môi trường giáo dục tốt, thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Xã hội hóa các hoạt động giáo dục đòi hỏi phải huy động mọi nguồn lực của xã hội tham gia giải quyết các vấn đề của giáo dục

Bản chất của xã hội hóa giáo dục là giáo dục cho tất cả mọi người; tất cả mọi người cho sự nghiệp giáo dục Đây là một sự gắn kết giữa giáo dục với xã hội, với cộng đồng và giáo dục phục vụ cho mục tiêu xã hội, phục vụ cộng đồng Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục là động lực phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy, xã hội hóa giáo dục là thực hiện mối liên hệ phổ biến có tính quy luật giữa giáo dục và cộng đồng xã hội Do đó, mọi người phải làm giáo dục và cùng làm giáo dục để giáo dục cho mọi người Nói cách khác, xã hội hóa giáo dục phải đảm bảo hai vế: Mọi người có nghĩa vụ chăm lo cho giáo dục để giáo dục phục vụ cho mọi người Hai vế trên đã nêu rõ hai yêu cầu xã hội hóa giáo dục là xã hội hóa trách nhiệm, nghĩa vụ đối với giáo dục và xã hội hóa quyền lợi

về giáo dục Hai yêu cầu đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau Yêu cầu thứ hai là hệ quả và là biện pháp thúc đẩy yêu cầu thứ nhất Yêu cầu thứ hai là đỉnh điểm cao của xã hội hóa giáo dục để mọi người được hưởng quyền lợi từ xã hội

Trong giai đoạn hiện nay, chủ trương xã hội hóa giáo dục hoàn toàn không phải là ý đồ chiến thuật, được vận dụng một cách nhất thời như một giải pháp tình thế, mà là một chủ trương chiến lược có tính lâu dài kể cả khi đất nước trong giai đoạn thịnh vượng Huy động mọi lực lượng xã hội tham gia giải quyết những vấn đề về giáo dục là điều kiện không thể thiếu để phát triển nguồn nhân lực đủ sức thực hiện mục tiêu xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa

Thực tiễn hoạt động giáo dục cần làm rõ tính chất xã hội của giáo dục và xã hội hóa giáo dục Lâu nay vẫn còn một số người dân và ít cán bộ hiểu một cách đơn giản và phiến diện về xã hội hóa giáo dục là huy động sự đóng góp bằng tiền của dân vào sự nghiệp giáo dục, là tăng mức học phí ở các cấp học, bậc học,

là đa dạng hoá loại hình trường vv… Điều này đã khiến cho nhiều cuộc vận động góp sức cho sự nghiệp giáo dục đã bị lệch hướng Vì vậy, việc trình bày lại một cách có hệ thống và toàn diện nội dung của thuật ngữ thường bị hiểu sai lệch này là cần thiết Điều 12, Luật giáo dục sữa đổi, bổ sung năm 2009 có ghi: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước

Trang 9

và của toàn dân Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo

dục, xây dựng mội trường giáo lành mạnh và an toàn” Luật đã xác định rõ

vai trò của Nhà nước là vai trò chủ đạo, còn xã hội là bộ phận tham gia, trong

đó ngành giáo dục mà cụ thể là nhà trường có vai trò chủ động Từ đó cho thấy xã hội hóa giáo dục tạo ra sự kết hợp giữa ba yếu tố nhà nước, xã hội và giáo dục trong hoạt động của sự nghiệp giáo dục xã hội hóa giáo dục có các đặc điểm cơ bản là:

Như vậy, xã hội hóa giáo dục không chỉ là công việc của ngành giáo dục

mà là sự nghiệp của toàn dân, của mọi tổ chức kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Xã hội hóa giáo dục không là một giải pháp ngắn hạn trong lúc ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục còn hạn hẹp mà là một giải pháp lâu dài, mang tính chiến lược Xã hội hóa giáo dục nhằm đến thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nhằm làm cho không chỉ thế hệ trẻ mà là mọi người dân được hưởng quyền lợi mà giáo dục đem đến, đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người dân, mọi tổ chức chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội phát huy cao nhất trách nhiệm và năng lực của mình đóng góp cho

sự nghiệp giáo dục Xã hội hóa giáo dục còn nhằm đến mục tiêu xây dựng xã hội học tập, hình thành thói quen học suốt đời đối với mọi người

CHƯƠNG II: GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Để đào tạo nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước cần phải làm cho xã hội hóa giáo dục phát triển một cách lành mạnh, thực sự là phương tiện đắc lực để phát huy trí tuệ, nâng cao dân trí, bỗi dưỡng nhân tài, trang bị kiến thức nghề nghiệp cho người lao động Trong thời gian tới xã hội hóa giáo dục cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, đổi mới công tác quản lý giáo dục đáp ứng kịp thời những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và số lượng nguồn nhân lực

Trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện Nghị quyết 29, ngành Giáo dục chọn đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng là giải pháp đột phá, để thông qua đó điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp hơn Giải pháp này đã cơ bản hoàn thành trong giai đoạn vừa qua Giai đoạn 2021-2025, ngành

Trang 10

Giáo dục chọn đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và quản trị nhà trường là giải pháp đột phá, để tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách mới hiệu quả hơn, khắc phục căn bản các hạn chế, bất cập gây bức xúc xã hội Giải pháp này không cần nhiều nguồn lực nhưng tháo gỡ được những nút thắt, rào cản đổi mới giáo dục hiện nay

Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý trong giáo dục và quản trị nhà trường, coi trọng quản lý chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, gắn trách nhiệm quản

lý chuyên môn với quản trị nhân sự và tài chính; hoàn thiện cơ chế để cơ quan quản lý giáo dục được tham gia quyết định trong quản lý nhân sự và phân bổ, sử dụng nguồn tài chính dành cho giáo dục của địa phương

Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, ủy quyền, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục, đào tạo và các địa phương

Tiếp tục rà soát, đẩy nhanh kiện toàn Hội đồng trường đúng quy định về

số lượng, chất lượng, cơ cấu và thành phần, bảo đảm thực quyền theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học (Luật 34) và Nghị định 99 của Chính phủ

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý giáo dục, quản trị nhà trường Triển khai hiệu quả hệ thống quản lý - quản trị giáo dục trực tuyến trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên,cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới

Hai là, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản

lý giáo dục

Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố quyết định thành công

sự nghiệp đổi mới giáo dục Thời gian qua, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục các cấp đã được kiện toàn, nâng cao chất lượng một bước Tuy nhiên, số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ còn bấp cập, một bộ phận không nhỏ chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, cần tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng trong thời gian tới

Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế gắn với sắp xếp tổ chức bộ máy và

cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức trong ngành Giáo dục bảo đảm tinh gọn, hiệu quả; rà soát, sắp xếp và bố trí đủ số lượng giáo viên, giảng viên bảo đảm quy định về khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong

Ngày đăng: 14/06/2022, 15:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w