Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986, trên cơ sở nhận định về đặc điểm nổi bật của thế giới là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang diễn ra nhằm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Chủ đề: “Phân tích bối cảnh, nội dung cơ bản và đánh giá đường lối đối
ngoại của Đảng từ năm 1986 đến nay”
Sinh viên thực hiện : Phạm Vũ Hoàng Nam
Lớp học phần : HIS1001 16 Giảng viên : TS GVC Dương Thị Kim Huệ
HÀ NỘI, THÁNG 12/2021
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 4
I Bối cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối 4
1 Bối cảnh lịch sử 4
2 Quá trình hình thành và phát triển đường lối 6
II Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế 9
1 Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo của Việt Nam 9
2 Chủ trương, chính sách lớn về mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế 11
III Đánh giá về đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng 13
1 Thành tựu và ý nghĩa 13
2 Hạn chế 14
3 Đánh giá chung 15
C KẾT LUẬN 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3A MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết chặng đường đổi mới không phải và cũng không thể là một lộ trình được tính trước tất cả Đó là sự chung đúc, trăn trở, những ý tưởng vủa nhiều bộ óc, là quá trình vừa đi, vừa tìm đường, vừa điều chỉnh, đấu tranh với cái
cũ và đấu tranh với chính mình để phát triển đất nước Trên lộ trình đó có những bộ
óc bứt phá, vươn lên trước, từng bước bứt phá và đạt được những thành quả quan trọng Sau gần 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một Đảng cầm quyền, đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối đúng đắn, góp phần đặc biệt quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển đồng hành cùng đất nước, trong số đó, nổi bật lên đường lối đối ngoại của Đảng, mang nhiều dấu ấn đậm nét
Trong những năm 1980, trên thế giới đã diễn ra những thay đổi Những thay đổi trong quan hệ chính trị quốc tế đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách đối ngoại của các nước, trong đó có Việt Nam Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 12 năm 1986 Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, “nói rõ sự thật”, “đổi mới tư duy”, Đảng ta đã đánh giá khách quan về tình hình đất nước lúc bấy giờ, nhận ra những sai sót trong xây dựng và phát triển là “chủ quan, duy ý chí” và đề ra chính sách đổi mới toàn diện Về ngoại giao, mục tiêu của chính sách đối ngoại mà hội nghị đã đề ra là phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phấn đấu giữ gìn hoà bình ở Đông Dương, góp phần giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới và tăng cường sự hợp tác với Liên Xô và các nước trong khu vực Trong bài tiểu luận này, em sẽ đi sâu vào nghiên cứu vấn đề “Phân tích bối cảnh, nội dung cơ bản và đánh giá đường lối đối ngoại của Đảng từ năm 1986 đến nay” để có thể thấy rõ được sự bổ sung đổi mới và phát triển của đường lối đối ngoại sáng suốt của Đảng ta trong suốt 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước
Trang 4B NỘI DUNG
I Bối cảnh lịch sử và quá trình hình thành đường lối
1 Bối cảnh lịch sử
a Trên thế giới
Từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục có bước phát triển đột phá và mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của nhân dân các nước trên thế giới Khi đó, các nước xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng sâu sắc Đến đầu những năm 1990, sự sụp đổ của chế
độ xã hội chủ nghĩa Liên Xô đã gây ra những thay đổi to lớn trong quan hệ quốc tế Trật tự thế giới được hình thành trên cơ sở giải thể của hai nhóm đối lập do Liên Xô
và Hoa Kỳ đứng đầu (trật tự thế giới hai cực) sau Chiến tranh thế giới thứ hai, mở
ra thời kỳ hình thành một trật tự quốc tế mới và một thế giới mới
Trên thế giới, các cuộc chiến tranh, xung đột, tranh chấp cục bộ vẫn tồn tại nhưng hoà bình và hợp tác phát triển là xu thế chung của thế giới Các quốc gia, tổ chức và lực lượng chính trị quốc tế thực hiện điều chỉnh chiến lược đối nội, đối ngoại và phương thức hành động cho phù hợp với đặc điểm của thế giới
Các quốc gia bắt nhịp xu thế chạy đua phát triển kinh tế, nhất là các nước đang phát triển, đều đổi mới tư duy đối ngoại, thực hiện chiến lược đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, các quốc gia còn đặc biệt mở rộng và tăng cường quan hệ, hợp tác với các nước phát triển nhằm phát huy lợi thế
về vốn, mở rộng thị trường, tiếp thu công nghệ mới và tích luỹ kinh nghiệm quản
lý, vận hành sản xuất kinh doanh Lúc bấy giờ trên thế giới, các nước đã đổi mới cách tư duy về sức mạnh, vị thế của quốc gia và thay thế cho cách đánh giá cũ, chủ yếu là dựa vào thế mạnh quân sự theo tiêu chí chung, trong đó có sức mạnh kinh tế được ưu tiên hàng đầu trong việc xây dựng và phát triển đường lối đối ngoại trong một quốc gia
Trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng vào tháng 1 năm 2011 đã nhận định: “Toàn cầu hoá và cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình hình thành xã hội thông tin và kinh tế tri thức” 1
1 Văn ki n Đ i h i đ i bi u toàn quốốc lầần th XI, 2011 ệ ạ ộ ạ ể ứ
Trang 5Tham gia thực hiện quá trình toàn cầu hoá, các quốc gia sẽ nhận được những
cơ hội mới để phát triển mặc dù vẫn còn tồn tại những mặt tiêu cực, nhưng với tình hình lúc bấy giờ, thực tiễn cho thấy, các nước muốn tránh nguy cơ bị cô lập, tụt hậu, kém phát triển thì phải tích cực tham gia vào quá tình toàn cầu hoá, đồng thời phải can đảm và cân nhắc kĩ càng những yếu tố then chốt cần phải khắc phục trên con đường phát triển xu thế toàn cầu hoá
Từ những năm 1990, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á tuy còn tồn tại những vấn đề bất bình ổn như vấn đề về hạt nhân, tranh chấp lãnh hải biển Đông và kể cả việc một số nước đang tăng cường vũ trang hay rơi vào khủng hoảng tài chính tiền tệ nhưng Châu Á – Thái Bình Dương vẫn được đánh giá
là khu vực ổn định, có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế, cũng tại thời điểm đó, một số quốc gia đã vươn lên trở thành những “con rồng”, “con hổ mới”
b Yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước tình hình thế giới
Từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỉ XX, việc chống phá, bao vây của các thế lực thù địch đối với đất nước ta đã tạo nên tình trạng mất ổn định, căng thẳng trong khu vực và cản trở sự phát triển của cách mạng Việt Nam Đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng ở nước ta Chính từ đó, việc phá vỡ sự cấm vận, bao vây của chủ nghĩa đế quốc, gỡ
bỏ tình trạng đối đầu cũng như bình thường hoá và mở rộng quan hệ với các quốc gia khác, tạo ra một môi trường quốc tế thuận lợi để tập trung xây dựng kinh tế là yêu cầu cực kì cấp bách và quan trọng đối với đất nước ta
Ở diễn biến khác, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và sự hạn chế về nguồn lực mà nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng nặng nề, có nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới Vì vậy, so với các nước khác, việc đương đầu với sự tụt hậu về kinh tế là một thách thức lớn
mà Việt Nam phải đối mặt Để có thể thu hẹp khoảng cách giữa nước ta với các quốc gia khác, không chỉ phải sử dụng các nguồn lực bên ngoài, mà Việt Nam còn cần mở rộng và tăng cường hợp tác kinh tế với các nước và tham gia vào cơ chế hợp tác đa phương có ý nghĩa, tầm quan trọng cực kì to lớn
Đối với những diễn biến xảy ra trên thế giới cũng như xu thế của quốc tế là toàn cầu hoá, đặc biệt là kinh tế, đổi mới tư duy đối ngoại, việc đặt ra những yêu
Trang 6cầu, nhiệm vụ cấp bách đối với cách mạng Việt Nam chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ mục tiêu, quan điểm và xây dựng chủ trương, chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới
2 Quá trình hình thành và phát triển đường lối
a Giai đoạn năm 1986 đến năm 1996
Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1996, Đảng ta đã xây dựng và xác lập nên đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá mở rộng quan
hệ quốc tế
Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng vào tháng 12 năm 1986, trên cơ sở nhận định về đặc điểm nổi bật của thế giới là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đang diễn ra nhằm thúc đẩy quá trình quốc tế hoá lực lượng sản xuất, Đảng nhận định: “Xu thế mở rộng phân công, hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế, xã hội khác nhau là điều kiện rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” Chính từ lí do đó, Đảng chủ trương kết2 hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới và đề xuất mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi giữa các nước Theo đó, phù hợp với chủ trương của Đảng, Việt Nam đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài vào tháng 12/1987, đặt nền tảng pháp lý cho đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Tiếp theo sau đó, đến tháng 5/1988, Bộ Chính trị đề ra nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chiến lược, chính sách đối ngoại trong tình hình mới, đồng thời, khẳng định mục tiêu chiến lược chính là phải củng cố và giữ vững hoà bình, độc lập Tổ Quốc, tập trung xây dựng sức mạnh và phát triển kinh tế Ngoài ra, Bộ Chính trị còn đề cập đến vấn đề kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh, hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình; lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học – kĩ thuật và xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới để có được vị trí lợi nhất trong phân công lao động quốc tế, ra sức tiến hành đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với nước ngoài, mở rộng hợp tác quốc tế giữa các quốc gia Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị được đưa ra đã đánh dấu mốc cho sự đổi mới về tư duy quan hệ quốc tế và đổi hướng toàn bộ chiến lược đối ngoại của Đảng
2 Văn ki n Đ i h i đ i bi u toàn quốốc lầần th VI, 1986 ệ ạ ộ ạ ể ứ
Trang 7ta Sự thay đổi về mặt chiến lược này đã đặt nền móng hình thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế Cũng
từ đó, trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại từ năm 1989, Trung Ương Đảng cũng chủ trương xoá bỏ độc quyền trong sản xuất và kinh doanh trên phương diện xuất, nhập khẩu Đây chính là bước tiến lớn, bước đổi mới đầu tiên được lập ra trên lĩnh vực kinh tế đối ngoại của Việt Nam, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
Đến tháng 6/1991, tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta đã sáng suốt đề
ra chủ trương “hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau, trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”, đi kèm với đó nổi bật lên phương châm đối ngoại “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”3
Cũng trong Đại hội VII, bản Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội đã được thông qua, xác định rõ quan hệ hữu nghị và hợp tác với quần chúng nhân dân trên toàn thế giới chính là một trong những đặc trưng cơ bản của tiến lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta muốn gây dựng
Các Hội nghị Trung ương khoá VII bao gồm Hội nghị lần thứ ba vào tháng 6/1992 và Hội nghị giữa nhiệm kỳ vào tháng 1/1994 đã tiếp tục vụ thể hoá quan điểm của Trung ương Đảng về lĩnh vực đối ngoại, đưa ra các chủ trương để triển khai mạnh mẽ và đồng bộ hoá đường lối đối ngoại độc lập tự chủ; đồng thời, mở rộng, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ đối ngoại giữa các nước với Việt Nam Như vậy, chủ trương đối ngoại mở rộng đã được đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI, sau đó được các nghị quyết Trung ương từ khoá VI đến khoá VII phát triển
và hình thành nên đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hoá và
đa dạng hoá quan hệ hợp tác quốc tế
b Giai đoạn 1996 đến nay
Từ các sửa đổi, mở rộng, hình thành đường lối đối ngoại trong giai đoạn 1986-1996 qua các Đại hội đại biểu toàn quốc, đến giai đoạn 1996 cho đến nay, Trung ương Đảng ta tập trung vào việc bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại
3 Văn ki n Đ i h i đ i bi u toàn quốốc lầần th VII, 1991 ệ ạ ộ ạ ể ứ
Trang 8theo phương châm chủ động, tích cực tiến lên hội nhập quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế quốc tế
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ VIII của Đảng diễn ra vào tháng 6/1996 đã khẳng định Đảng ta sẽ tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với các quốc gia, các trung tâm kinh tế, chính trị khu vực và quốc tế Song song với đó là chủ trương xây dựng nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới Trong phiên họp của Đại hội, Trung ương Đảng đã đề ra chủ trương mở rộng quan hệ với các Đảng cầm quyền; đồng thời mở rộng quan hệ đối ngoại với nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ và đưa ra chương trình thử nghiệm, tiến tới thực hiện đầu tư ra thị trường nước ngoài
Quá trình hình thành nên đường lối đối ngoại tiếp tục được bổ sung và mở rộng trong Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng vào tháng 4/2001 Lần đầu tiên, Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ quan điểm về xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ Sau 15 năm đổi mới, Đại hội IX đã phát triển phương châm đối ngoại của Đại hội VII (6/1991) cũng như sửa đổi, bổ sung quan điểm từ “Việt Nam muốn làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Đến năm 2006 khi diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Ban chấp hành Trung ương Đảng đề xuất quan điểm cần phải thực hiện thống nhất đường lối đối ngoại độc lập, hoà bình hợp tác và phát triển; mở rộng chính sách đối ngoại, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ quốc tế Đồng thời với đó là thực hiện chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”
Tại phiên họp của Đại hội toàn quốc lần thứ XI vào năm 2011 đã đưa ra chủ trương tích cực hội nhập quốc tế, làm nổi bật rõ quan điểm chính của Đảng ta là không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta còn cần phải hội nhập toàn diện và bao hàm được cả lĩnh vực chính trị, văn hoá, an ninh và quốc phòng, …
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Đảng tiếp tục nhấn mạnh chủ trương “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở giữ vững đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ vì lợi ích quốc gia dân tộc là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện nhiệm vụ thắng lợi và xây dựng bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã
Trang 9hội chủ nghĩa” Và gần đây, vào tháng 2/2021 đã diễn ra phiên họp của Đại hội đại4 biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tiếp tục chỉ đạo đổi mới những lĩnh vực trọng yếu trên tinh thần kế thừa và phát huy tinh thần đổi mới tư duy, phù hợp với thực tiễn đặt ra sau 35 năm đổi mới về đường lối đối ngoại qua quá trình từ năm 1986 đến nay
Như vậy, trong 10 năm đầu của thời kì đổi mới (1986 – 1996), Đảng ta đã phát triển đường lối đối ngoại theo hướng độc lập tự chủ, rộng mở và đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ hợp tác quốc tế Đến giai đoạn tiếp theo từ 1996 đến nay, Đảng vẫn giữ vững tinh thần phát triển theo đường lối, phương châm ban đầu, bổ sung phát triển thêm phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, toàn diện về các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, …
II Nội dung đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế
1 Mục tiêu, nhiệm vụ và tư tưởng chỉ đạo của Việt Nam
Trong các văn kiện liên quan đến chỉ thị của Đảng về lĩnh vực đối ngoại, Đảng
ta đều làm nổi bật lên những cơ hội chúng ta nhận được, đi kèm theo đó là những thách thức đối với Việt Nam trong việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế Trên cơ
sở đó, Đảng đã xác định được rõ mục tiêu, nhiệm vụ, tư tưởng chỉ đạo và công tác đối ngoại
a Cơ hội và thách thức: Cơ sở đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ, tư tưởng đối ngoại
Việc xác lập nên đường lối đối ngoại đi theo hướng hoà bình, hợp tác cùng phát triển và xu thế toàn cầu hoá đã cho Việt Nam cơ hội để mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác phát triển quan hệ quốc tế, làm bước đệm để Việt Nam tiến lên chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao tầm vị thế của Việt Nam trên thương trường quốc tế
Ở một diễn biến khác, những thách thức đặt ra cho chúng ta cũng vô cùng khó khăn, buộc Việt Nam phải có những quyết định lớn, đưa ra những chính sách, phương án tốt nhất trên con đường hội nhập Không chỉ gặp những vấn đề phân hoá giàu nghèo, tội phạm xuyên quốc gia, … khi hợp tác quốc tế mà nền kinh tế Việt Nam còn phải đối mặt với sức ép cạnh tranh gay gắp trên thị trường quốc tế, tiềm
ẩn nguy cơ khủng hoảng tài chính Ngoài ra, không thể không kể đến những thành
4 Văn ki n Đ i h i đ i bi u toàn quốốc lầần th XII, 2016 ệ ạ ộ ạ ể ứ
Trang 10phần thù địch, gây khó dễ và chống phá chế độ chính trị, ảnh hưởng đến sự ổn định
và phát triển của Việt Nam
Những cơ hội và thách thức đề ra như một tiền đề, làm cơ sở để Đảng ta có thể đưa ra những phương hướng, mục tiêu chung cũng như nhiệm vụ cấp bách và tư tưởng chỉ đạo của Đảng lúc bấy giờ
b Mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại và tư tưởng chỉ đạo
Trong hàng loạt các văn kiện của Đại hội, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã xác đinh rõ mục tiêu và nhiệm vụ đối ngoại là trước hết, cần phải lấy việc giữ vững môi trường hoà bình ổn định của đất nước, đi kèm với đó là tạo ra các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới để phát triển kinh tế - xã hội làm lợi ích trước nhất của Tổ Quốc Đồng thời, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế tạo ra nguồn lực mạnh mẽ để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát huy vai trò đúng đắn và nâng cao tầm vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, góp phần tích cực vào sự ổn định, hợp tác và phát triển toàn thế giới
Từ mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, Đảng đề xuất và thực hiện tư tưởng chỉ đạo đồng nhất trong quan hệ đối ngoại, quán triệt rõ ràng và sâu sắc các quan điểm nổi bật trong lĩnh vực đối ngoại:
Thứ nhất, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã
hội chủ nghĩa; song song với đó là thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo khả năng của Việt Nam
Thứ hai, giữ vững được tinh thần độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng, đa dạng
hoá và đa phương hoá quan hệ đối ngoại
Thứ ba, nắm vững hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế, cố gắng phát
triển mặt hợp tác; mặt khác, cũng vẫn cần phải đấu tranh dưới mức độ và hình thức phù hợp với từng đối tác quốc tế, đấu tranh để hợp tác, tránh để bị đẩy vào cô lập với các quốc gia khác
Thứ tư, kết hợp đường lối đối ngoại của Đảng đề ra cùng với đối ngoại Nhà
nước và đối ngoại nhân dân Xác định hội nhập kinh tế quốc tế là công việc của toàn thể quần chúng nhân dân Việt Nam chung tay góp sức