84 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH NGUYỄN ĐỨC THẮNG NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO HỌC VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC BẮC NINH 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH NGUYỄN ĐỨC THẮNG NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO HỌC VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÒNG C.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
NGUYỄN ĐỨC THẮNG
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN BÀI TẬP PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHUNG CHO HỌC VIÊN NĂM THỨ NHẤT TRƯỜNG ĐẠI
HỌC PHÒNG CHÁY CHỮA CHÁY
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
BẮC NINH - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỂ DỤC THỂ THAO BẮC NINH
Trang 3Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Thắng Học viên lớp CH K28
Trang 4THƯỜNG DÙNG TRONG LUẬN VĂN
Số lần
Trang 51.5 Chuẩn bị thể lực với sự hình thành kỹ năng vận động và TCTL 24
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 38
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
2.1.2 Phương pháp phỏng vấn
3838
3.1 Thực trạng công tác Giáo dục thể chất cho học viên năm thứ nhất
3.1.1 Thực trạng về nội dung chương trình môn học Giáo dục thể chất cho
3.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện thể dục thể thao của
3.1.3 Thực trạng việc sử dụng để phát triển thể lực chung cho học viên
3.1.4 Thực trạng thể lực chung và kết quả học tập môn GDTC của học
3.2 Lựa chọn và ứng dụng bài tập phát triển thể lực chung cho học
viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy 53
3.2.1 Lựa chọn bài tập nhằm phát triển TLC cho học viên năm thứ nhất
3.2.2 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn nhằm phát
triển thể lực chung cho học viên năm thứ nhất Trường Đại học Phòng cháy
Chữa cháy
57
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang 73.4
Thực trạng thể lực chung của nữ học viên năm thứ nhấttrường Đại học Phòng cháy Chữa cháy lứatuổi 19(n=59)
49
3.5 Kết quả học môn Điền kinh của học viên khóa D36Trường Đại học Phòng cháy Chữa (n=291) 513.6 Kết quả học môn Bơi của học viên khóa D36 TrườngĐại học Phòng cháy Chữa (n=291) 523.7 Kết quả học môn Võ thuật của học viên khóa D36Trường Đại học Phòng cháy Chữa (n=291) 523.8
Kết quả phỏng vấn lựa bài tập phát triển thể lực chungcho học viên năm thứ nhất Trường Đại học Phòng cháyChữa cháy (n= 25)
62
3.11
Kết quả kiểm tra thể lực chung trước thực nghiệm của
nữ học viên năm thứ nhất khóa D36 lớp A-B trườngĐại học Phòng cháy Chữa cháy lứa tuổi 19 (Ntn =30)
62
3.12
Kết quả kiểm tra thể lực chung trước thực nghiệm củanam học viên năm thứ nhất khóa D36 lớp C-D trườngĐại học Phòng cháy Chữa cháy lứa tuổi 19 (Nđc =115)
63
3.13
Kết quả kiểm tra thể lực chung trước thực nghiệm của
nữ học viên năm thứ nhất khóa D36 lớp A-B trườngĐại học Phòng cháy Chữa cháy lứa tuổi 19 (Nđc =29)
63
3.14
Kết quả học môn GDTC trước thực nghiệm của họcviên khóa D36 lớp A-B Trường ĐH Phòng cháy Chữa(NTN n=147)
67
3.15 Kết quả học môn GDTC trước thực nghiệm của học
viên khóa D36 lớp C-D Trường ĐH Phòng cháy Chữa(NĐC n=144)
67
Trang 83.16 nam học viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy
Chữa cháy lứa tuổi 19 (Ntn =117)
69
3.17
Kết quả kiểm tra thể lực chung sau thực nghiệm của nữ
học viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy
Chữa cháy lứatuổi 19 (Ntn =30)
70
3.18
Kết quả học môn môn GDTC sau thực nghiệm của học
viên khóa D36 lớp A-B Trường ĐH Phòng cháy Chữa
(NTN n=147)
74
3.19
Kết quả học môn môn GDTC sau thực nghiệm của học
viên khóa D36 lớp C-D Trường ĐH Phòng cháy Chữa
(NĐC n=144)
75
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Tính cấp thiết: Nhiệm vụ chữa cháy và cứu nạn cứu hộ là công việc
hết sức nguy hiểm và nặng nhọc.Quá trình tiến hành chữa cháy và cứu nạn cứu
hộ không chỉ yêu cầu người chiến sĩ phải dũng cảm, mưu trí, có kỹ năng thànhthạo các động tác sử dụng trang thiết bị chữa cháy, mà điều quan trọng nhất,quyết định nhất tới hiệu quả của công tác chữa cháy và cứu nạn cứu hộ là trình
độ thể lực của người chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ này Người chiến sĩ thực hiệncông tác chữa cháy và cứu nạn cứu hộ trong điều kiện hết sức bất lợi về môitrường sống, bản thân môi trường của hiện trường chữa cháy cũng đã đòi hỏitrình độ thể lực của người chiến sĩ rất cao, lại cộng thêm họ phải thực hành các
kỹ năng sử dụng các thiết bị chữa cháy và cứu nạn cứu hộ để dập lửa và cứu tínhmạng cũng như tài sản của người dân thì việc có trình độ thể lực đối với chiến sĩlàm công tác chữa cháy và cứu nạn cứu hộ lại càng cao và công việc phải đòihỏi họ có những tố chất, trình độ thể lực đặc biệt và đặc thù với chuyên ngànhcông việc chữa cháy
Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy (ĐH PCCC) thuộc hệ thốngcác trường Công an nhân dân và là cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứukhoa học về phòng cháy và chữa cháy duy nhất ở Việt Nam Một yêu cầu bắtbuộc đầu tiên đối với học viên là phải có sức khỏe tốt để có thể phục vụ cho họctập, ngoài việc học các môn học đại cương học viên còn phải tham gia học tậpcác môn học đòi hỏi có thể lực như: Võ thuật công an nhân dân, Giáo dục quốcphòng, Giáo dục thể chất, các môn học chuyên ngành mang tính đặc thù như:
Kỹ thuật chữa cháy cá nhân, chiến thuật chữa cháy nhà cao tầng, chiến thuậtchữa cháy khu công nghiệp, cứu hộ nạn nhân mắc kẹt trong đám cháy, mắc kẹttrên nhà cao tầng Vì vậy việc thường xuyên rèn luyện thể lực đối với học viên
có vai trò đặc biệt quan trọng Mục đích của môn học giáo dục thể chất (GDTC)trong trường ĐH PCCC nhằm trang bị cho học viên những điều kiện căn bản củamột chiến sĩ PCCC và cứu nạn cứu hộ (CNCH) là các tố chất sức nhanh, sức
Trang 10mạnh, sức bền và sự khéo léo có như vậy sau khi tốt nghiêp học viên sẽ nhanhchóng hòa nhập với thực tế công tác và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận văn:
“Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chung cho học viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy ”.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, luận văn
tiến hành lựa chọn các bài tập phát triển thể lục chung cho học viên có hiệu quả,phù hợp với đối tượng đưa vào huấn luyện, từ đó góp phần nâng cao thể lựcchung cho học viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra, luận văn giải quyết 2 nhiệm vụsau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng công tác Giáo dục thể chất cho học viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy.
- Thực trạng về nội dung chương trình môn học Giáo dục thể chất cho họcviên trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
- Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ tập luyện thể dục thể thao của TrườngĐại học Phòng cháy Chữa cháy
- Thực trạng các bài tập được sử dụng để phát triển thể lực chung cho họcviên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
- Các nguyên nhân ảnh hưởng tới sự phát triển thể lực chung của học viênnăm thứ nhất Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng bài tập phát triển thể lực chung cho học viên năm thứ nhất trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy.
- Lựa chọn các Test đánh giá trình độ TLC cho học viên năm thứ nhấtTrường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
- Lựa chọn các dạng bài tập nhằm nâng cao TLC cho học viên năm thứnhất trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
- Lựa chọn bài tập nhằm phát triển TLC cho học viên năm thứ nhất trường
Trang 11Đại học Phòng cháy Chữa cháy
- Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn nhằm triển thểlực chung cho nam học viên năm thứ nhất Trường Đại học Phòng cháy Chữacháy
+ Xây dựng tiến trình thực nghiệm các bài tập phát triển thể lực cho namhọc viên năm thứ nhất Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
+ Tổ chức thực nghiệm bài tập phát triển thể lực cho nam học viên nămthứ nhất Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy
+ Đánh giá thực trạng thể lực chung của học viên trước thực nghiệm theotiêu chuẩn RLTT
+ Đánh giá kết quả học tập môn GDTC của học viên trước thực nghiệmtheo tiêu chuẩn RLTT
+ Đánh giá nhịp tăng trưởng thể lực chung của học viên sau thực nghiệmtheo tiêu chuẩn RLTT
+ Đánh giá kết quả học tập môn GDTC của học viên sau thực nghiệmtheo tiêu chuẩn RLTT
Giả thuyết khoa học
Thông qua quan sát sư phạm, nghiên cứu thực trạng hiệu quả sử dụng bàitập phát triển thể lực chung cho học viên năm thứ nhất trường Đại học Phòngcháy Chữa cháy cho thấy chưa đạt được kết quả cao Giả thuyết đặt ra rằng nếulựa chọn được các bài tập phát triển thể lực chung phù hợp ứng dụng vào thựctiễn sẽ nâng cao được thể lực chung cho học viên năm thứ nhất trường Đại họcPhòng cháy Chữa cháy
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát chung về công tác GDTC trong trường học
1.1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về công tác GDTC
GDTC trong trường học là một trong những mặt hữu cơ của quá trình giáodục (quá trình giáo dục bao gồm: Giáo dục trí tuệ, giáo dục kỹ thuật và GDTC).Đánh giá GDTC có vị trí ngang hàng với các mặt giáo dục khác Sự kết hợpgiữa chúng không chỉ là phương tiện nâng cao sản xuất xã hội, mà còn làphương thức để tạo nên con người phát triển toàn diện Muốn đa dạng công tácGDTC trong nhà trường, để chúng trở thành một mặt giáo dục quan trọng củaquá trình giáo dục, trước hết trong các cấp nhà trường, GDTC phải được triểnkhai đồng bộ cùng các mặt giáo dục khác như: Giáo dục nhân cách, giáo dục trithức của học sinh từ lớp nhỏ cho tới lớn
Trong lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 3 năm 1946, Bác viết:
“Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, xây đời sống mới, việc gì cũng cần cósức khoẻ mới thành công Mỗi người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớtmột phần; mỗi người dân mạnh khoẻ, tức là góp phần cho cả nước mạnh khoẻ.Vậy nên tập thể dục, bồi dưỡng sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêunước…” Quan điểm đó của Người, đã được Đảng và nhà nước ta thực hiệntrong suốt những năm qua, nó trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động TDTT,nâng cao thể chất con người
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định đường lối đó thông qua các chỉ thị,nghị quyết về công tác TDTT Đảng ta khẳng định: TDTT là một công tác cáchmạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sựnghiệp toàn dân, do dân và vì dân, góp phần cải tạo nòi giống Việt Nam, làmcho dân cường nước thịnh
Năm 2006, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã tổng hợp: “Mởrộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa việc
Trang 13rèn luyện thân thể (RLTT) trở thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhândân, trước hết là thế hệ trẻ Nâng cao chất lượng GDTC trong trường học…”.Hay “Bảo vệ nâng cao sức khoẻ và thể chất nhân dân, chống suy dinh dưỡngcho trẻ em, tăng chiều cao, cân nặng của thế hệ trẻ, tăng tuổi thọ trung bình củangười Việt Nam” [13].
Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước đã giao trách nhiệm cho BộGD&ĐT và Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch thường xuyên phối hợp chỉ đạo,tổng kết công tác GDTC, cải tiến chương trình giảng dạy, đào tạo đội ngũ giáoviên, giảng viên, hướng dẫn viên TDTT cho các cấp học, tạo điều kiện về cơ sởvật chất để thực hiện chế độ GDTC trong nhà trường
Bước vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, vấn đề đặt ra
là làm thế nào để nâng cao thể chất người Việt Nam Vấn đề này đòi hỏi phảinâng cao chất lượng GDTC trong các trường học, các cấp học Muốn thực hiệnđược như vậy, cần cải tiến nội dung giảng dạy, quy định về tiêu chuẩn RLTTcho HSSV các cấp và quy chế GDTC bắt buộc trong các trường học … Quy chếchỉ rõ: “Học sinh, sinh viên có trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập mônthể dục Sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng phải có chứng chỉ GDTCmới đủ điều kiện tốt nghiệp HSSV phải thường xuyên tham gia tập luyện vàkiểm tra tiêu chuẩn RLTT (đối với học sinh phổ thông) và tiêu chuẩn đánh giáthể lực (đối với học sinh, sinh viên Đại học và Chuyên nghiệp) HSSV đạt tiêuchuẩn được cấp giấy chứng nhận…”
Qua đây thấy được việc quan tâm chăm lo sức khoẻ và phát triển thể chấtnhân dân là vấn đề được Đảng và Nhà nước thực hiện xuyên suốt những nămqua, trong đó GDTC cho thanh thiếu niên, học sinh các cấp luôn được coi trọng.Đây cũng là mục tiêu cơ bản nhất trong giáo dục con người phát triển toàn diện
về đức, trí, thể, mỹ nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đấtnước Đặc biệt trong trường học, thể lực có ý nghĩa trong việc duy trì sức khoẻcủa con người Khi thể lực tốt thì sức khoẻ luôn ổn định giúp cho con người laođộng, học tập, sinh hoạt đạt kết quả cao Nhất là đối với sinh viên các trường
Trang 14Đại học, trong giai đoạn học tập nhiều môn học chuyên ngành, do vậy cần có đủthể lực để tiếp thu và hiểu sâu được những kiến thức đã học, vận dụng chúngvào thực tiễn sản xuất và đời sống sau khi ra trường bài tập tạo điều kiện thuậnlợi cho các kỳ thi hết cấp và kỳ thi đại học Muốn có sức khoẻ tốt, chỉ có conđường tập luyện các bài tập thể chất một cách nghiêm túc và có hệ thống [14]
1.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung GDTC trong trường đại học
1.1.2.1 Mục tiêu:
- Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính
trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hànhnghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn nhất quán về mục tiêu công tác GDTC vàthể thao trường học là nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộkhoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá xã hội, phát triển hài hoà, có thểchất cường tráng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nghề nghiệp và có khả năngtiếp cận với thực tiễn lao động sản xuất của nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Căn cứ vào mục tiêu nêu trên, GDTC và thể thaotrường học phải giải quyết 3 nhiệm vụ:
- Góp phần giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, rèn luyện tinh thần tậpthể, ý thức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực lành mạnh,tinh thần tự giác rèn luyện thân thể, sẵn sàng phục vụ lao động sản xuất vàbảo vệ nước nhà
- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung vàphương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản một số mônthể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phương tiện
để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức cáchoạt động TDTT của nhà trường và xã hội
- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ, nâng cao trình độ thể lực chosinh viên, phát triển cơ thể hài hoà, cân đối, RLTT, đạt những tiêu chuẩn thể lực
Trang 15quy định [13], [18]
Dễ nhận thấy rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản quan trọng của GDTC
là không ngừng nâng cao sức khoẻ, nâng cao trình độ chuẩn bị thể lực cho sinhviên Các nhà khoa học người Nga: Nôvicốp A.D; Mátvêép L.P (1993); khẳngđịnh: “…Thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quảhoạt động của con người, trong đó có TDTT Hơn nữa, rèn luyện (phát triển) thểlực, lại là một trong những đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình GDTC ”
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình GDTC trong các trườngđại học theo quyết định số 203/QĐ - TDTT, ngày 23 tháng 1 năm 1989, có nộidung khái quát như sau [17]
+ Chương trình gồm 150 tiết Với 5 học phần, tương ứng với 5 đơn vịhọc trình TDTT (5 tín chỉ) Mỗi đơn vị học trình TDTT được học trong mộthọc kỳ, như vậy, chương trình GDTC được tiến hành trong hai năm rưỡi đầucủa chương trình học tập
+ Chương trình bao gồm hai phần: Phần Lý luận 14 tiết, phần thực hành
136 tiết Phần lý luận, được học xen kỹ vào trong các học kỳ của giai đoạn 1.Phần thực hành, ngoài kiểm tra kỹ, chiến thuật, còn phải kiểm tra lý thuyết củamôn học
+ Cuối mỗi năm học, ngoài kiểm tra lý thuyết, kỹ chiến thuật môn thể thao
đã học, sinh viên còn phải kiểm tra tiêu chuẩn RLTL theo quy định của BộGD&ĐT hay tiêu chuẩn của từng Trường Sinh viên tích lũy đủ điểm của 5 họcphần, trong đó có điểm “đạt” tiêu chuẩn RLTL mới được cấp chứng chỉ môn học
+ Ngoại khoá là nội dung học tập bắt buộc trong chương trình GDTC chosinh viên và được cán bộ giảng dạy TDTT quản lý
Có thể tóm lược chương trình GDTC trong các trường đại học hiện nayqua phân bổ thời gian (khung chương trình) cho các nội dung học tập như sau:
Trang 16Bảng 1.1 Phân phối nội dung và thời gian học tập trong chương
150
320
8
162016
60
60
6
161622
60
60
68
14
100
610
Có thể nhận thấy: Nội dung học tập chính khoá phong phú, song thời gianhọc 2 tiết thể dục/ một tuần lại quá ít Do đó, muốn đạt hiệu quả giáo dục cao,cần phải phối hợp tốt các hình thức GDTC với nhau, đặc biệt cần có nhiều biệnpháp hữu hiệu để nâng cao trình độ chuẩn bị thể lực cho sinh viên
1.1.2.2 Nhiệm vụ:
Nhiệm vụ và quyền hạn của trường đại học trong hoạt động khoa học vàcông nghệ được quy định tại Điều 40 Điều lệ trường Đại học ban hành kèm theoQuyết định 70/2014/QĐ-TTg như sau:
Trường đại học thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn về hoạt động khoa học
và công nghệ theo quy định tại Điều 41 của Luật Giáo dục đại học và một sốnhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
1 Thực hiện nội dung hoạt động khoa học và công nghệ được quy địnhtại Điều 40 của Luật Giáo dục đại học phù hợp với điều kiện của nhà trường,
Trang 17đáp ứng mục tiêu hoạt động khoa học và công nghệ theo quy định tại Điều 39của Luật Giáo đục đại học và theo quy định của pháp luật.
2 Tham gia đề xuất, tuyển chọn, tư vấn, phản biện các nhiệm vụ khoa học
và công nghệ; hỗ trợ xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thương mại vàchuyển giao quyền sở hữu trí tuệ theo quy định hiện hành
3 Xây dựng và triển khai thực hiện các dự án đầu tư phát triển khoa học
và công nghệ, dự án tăng cường năng lực nghiên cứu, các phòng thí nghiệmtrọng điểm, liên ngành và chuyên ngành
4 Xây dựng các nhóm nghiên cứu đa ngành, liên ngành; xây dựng cácnhóm nghiên cứu - giảng dạy kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học vớihoạt động đào tạo; đảm bảo các điều kiện cần thiết để giảng viên thực hiệnnghiên cứu khoa học; tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học cho người học
5 Thiết lập các hoạt động hợp tác trong và ngoài nước về khoa học vàcông nghệ
6 Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin về hoạt động khoa học vàcông nghệ; trao đổi thông tin khoa học và công nghệ với các cơ sở đào tạo,nghiên cứu khác ở trong và ngoài nước
7 Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học các cấp,các chương trình, dự án nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ được nhànước đặt hàng
1.2 Đặc điểm chung của Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy.
Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy trực thuộc Bộ Công an quản lýtrực tiếp, chịu quản lý về chương trình, kế hoạch, nội dung đào tạo của BộGD&ĐT, nên trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, huấn luyện có
sự khác biệt lớn so với các trường dân sự khác trong hệ thống giáo dục quốcdân Đào tạo ở Trường có nhiều hình thức khác nhau như: Đào tạo chính qui, tạichức, chuyên tu, ngắn hạn, cử tuyển, đào tạo sau đại học và nghiên cứu sinh.Thời gian đào tạo với hệ chính qui là 4 năm và phải theo quy chế huấn luyện từnăm đầu và cả khoá
Trang 18Học viên khi vào Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy đều phải qua
sơ tuyển khám sức khoẻ, đủ về chiều cao, cân nặng mới được tuyển vào trườnghọc tập
Yêu cầu về cán bộ giáo viên TDTT còn thiếu, các tài liệu, giáo trình huấnluyện TDTT còn hạn chế, chưa được chuẩn hoá
Mọi hoạt động giảng dạy và phong trào TDTT còn dựa vào ngân sách baocấp là chính Các tổ chức đoàn thể, xã hội trong nhà trường đã có tinh thần ýthức cao nhưng ít đổi mới, ít có sự giao lưu về văn hoá, thể thao Đặc biệt, côngtác TDTT còn gặp khó khăn do cơ chế điều hành chưa thực sự thuận lợi cho việctriển khai công việc Bước đầu, Trường xây dựng được một số văn bản quy định
về công tác quản lý, nhiệm vụ, chức năng hoạt động phong trào TDTT, GDTC
và RLTT cho cán bộ, chiến sĩ theo quy định của Bộ GD&ĐT và Bộ Công An
Chất lượng giáo dục trong Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy đòi hỏihọc viên phải hình thành được những năng lực cơ bản như: Năng lực thích ứngnhững thay đổi, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn
đề, năng lực lựa chọn và ra quyết định, năng lực tự học và tự đánh giá Nộidung, chương trình các môn GDTC trong Trường Đại học Phòng cháy Chữacháy được xây dựng theo hướng đặc thù nghề nghiệp của công tác nghiệp vụ,bao gồm : Quân sự, Võ thuật, TDTT, đây là những môn học cơ bản nhằm rènluyện sức dẻo dai và kỹ năng chiến đấu thành thạo cho mỗi trường Đại họcPhòng cháy Chữa cháy trong thực tiễn công tác
Học viên các trường CAND nói chung và học viên Trường Đại họcPhòng cháy Chữa cháy nói riêng là những cán bộ Công an tương lai sẽ phục vụtrong sự nghiệp bảo vệ an ninh Quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đây làlực lượng chuyên trách có nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh làm thất bại mọi
âm mưu, hoạt động làm tổn hại tới nền an ninh Quốc gia, các vi phạm pháp luật
về trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ Chính quyền, bảo vệ chế độXHCN, bảo vệ cuộc sống tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam Vì vậy, việcRLTT, phát triển thể lực của mỗi học viên Công an nói chung và học viên
Trang 19Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy nói riêng ngay từ khi còn ngồi trên ghếnhà trường sẽ giúp họ khi tốt nghiệp ra trường sẽ nhanh chóng hoà nhập vớithực tế công tác và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao Thấy rõ tầm quantrọng của sức khoẻ, vai trò của công tác RLTT trong công tác đào tạo và côngtác sau này, Trường Đại học Phòng cháy Chữa cháy luôn tuyển chọn những họcviên có đủ các điều kiện về sức khoẻ, ngoại hình, trí lực …trong quá trình đàotạo cũng rất chú ý tới việc phát triển thể lực, RLTT cho học viên, coi đó là mônhọc không thể thiếu được bên cạnh các môn học chính trị, pháp luật, nghiệp vụ.Điều đó được thể hiện trong mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Phòng cháyChữa cháy : “…Giúp cho người học nắm vững kiến thức và có kỹ năng thựchành kỹ thuật, chiến thuật theo qui định của pháp luật và yêu cầu chính trị,nghiệp vụ của ngành công an… biết sử dụng các động tác kỹ thuật, chiến thuật
võ thuật CAND , sử dụng các phương tiện nghiệp vụ được trang bị trong côngtác đấu tranh chống tội phạm xâm phạm ANQG… chú trọng công tác RLTT,nâng cao thể lực đáp ứng yêu cầu ,nhiệm vụ công tác, chiến đấu trong mọi tìnhhuống”
Chất lượng của công tác RLTT của học viên Trường Đại học Phòng cháyChữa cháy trước hết phụ thuộc vào quan điểm, chủ trương, đường lối của NgànhCông an nói chung và quan điểm của lãnh đạo Trường Đại học Phòng cháyChữa cháy nói riêng về công tác RLTT Ngoài ra, các yếu tố đảm bảo như côngtác cán bộ, điều kiện cơ sở vật chất, tổ chức quản lý công tác TDTT… là nhữngyếu tố quan trọng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng RLTT trong Trường Đại họcPhòng cháy Chữa cháy Bên cạnh đó, hiệu quả của công tác RLTT còn phụthuộc vào hiệu quả của việc học tập các giờ học thể chất chính khoá và tập luyệnngoại khoá Hay nói cách khác là quyết định bởi chất lượng công tác giáo dụcTDTT trong Trường, ở đây, quá trình dạy học TDTT đóng vai trò then chốt.Theo giáo sư Lê Khánh Bằng thì: “Quá trình dạy học là truyền thụ chủ động,sáng tạo của người thầy và quá trình tự đào tạo của người trò …”
Trang 20Rõ ràng, hiệu quả giáo dục nói chung và giáo dục thể thao nói riêng phụthuộc vào cả thày và trò Song, ở mỗi đối tượng lại cần phải có những yêu cầumang tính điều kiện nhất định của mình để phát huy tính năng động, sáng tạonhằm đạt hiệu quả dạy và học tốt.
Với người trò, yếu tố quan trọng đó là :
- Trình độ chuẩn bị về tri thức
- Trình độ chuẩn bị về thể chất (năng lực )
Trong quá trình học tập, phải phát huy được ý thức, động cơ, mục đíchhọc tập của người học mới phát huy được hiệu quả trong học tập Động cơ, mụcđích học tập chỉ có được khi nào học sinh hiểu đúng đắn được vai trò, tác dụng
và ý nghĩa của môn học
Với người thầy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ, cần có điều kiện sau :
- Có trình độ giác ngộ chính trị và phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp
- Có trình độ và năng lực chuyên môn tốt
- Có dụng cụ, sân bãi, chương trình, giáo trình giảng dạy tốt
- Có chế độ đãi ngộ hợp lý
Do vậy, khi khảo sát về thực trạng công tác RLTT của học viên ởTrường Đại học Phòng cháy Chữa cháy, cần dựa vào quan điểm, chủ trương,đường lối của Ngành Công an và của lãnh đạo Trường về công tác RLTT, bêncạnh đó, các yếu tố như công tác cán bộ, điều kiện cơ sở vật chất, tổ chức quản
lý TDTT, những yếu tố chi phối công tác giáo dục TDTT nội, ngoại khoá để tiếnhành phân tích đánh giá
1.2.1 Thực trạng tổ chức quản lý công tác GDTC:
Bộ môn QSVT – TDTT là Bộ môn trực thuộc Ban Giám đốc, nằm trong
tổ chức của Trường, chịu sự chỉ đạo chuyên môn của Ban Giám đốc Trường Đạihọc Phòng cháy Chữa cháy
Bộ môn có chức năng giúp Ban Giám đốc chỉ đạo, thực hiện công tácGDTC cho học viên và có nhiệm vụ giảng dạy TDTT nội khoá và hướng dẫnngoại khoá theo chương trình qui định, đồng thời tổ chức phong trào thể thao
Trang 21quần chúng cho cán bộ, học viên, phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo nâng caothành tích thể thao Bộ môn đã phối hợp cùng với các đơn vị chức năng trongTrường đặc biệt là phòng Tổ chức cán bộ, phòng Quản lý học viên, Đoàn thanhniên và nữ công để tổ chức các giải TDTT trong Trường Tuy nhiên, sự phối kếthợp giữa các đơn vị chưa có sự gắn kết, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợpcủa các thành viên Sự phân công, phân cấp trong việc thực hiện nhiệm vụ chưa
rõ ràng, đôi khi còn chồng chéo
Sự phối kết hợp giữa Bộ môn QSVT - TDTT với phòng Y tế của Trường
để phân loại, đánh giá tình trạng sức khoẻ của học viên trong quá trình học tập
và rèn luyện ở trường chưa được làm tốt, đôi khi còn coi nhẹ
Phong trào thể dục buổi sáng giao cho phòng Quản lý học viên, trongthực tế chưa phát huy được tác dụng, phong trào vẫn mang tính hình thức, đốiphó, chưa tạo thành phong trào sâu rộng trong học viên
1.3 Đặc điểm của các bài tập thể lực (BTTL)
BTTL là những hoạt động vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ramột cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với quy lụât GDTC Người ta dùngchúng để giải quyết những nhiệm vụ GDTC và tinh thần của con người Khôngphải bất cứ hoạt động nào cũng được coi là BTTL Trong đời sống hàng ngày,
sự vận động của cơ thể con người rất đa dạng: Đi, chạy, nhảy, mang vác vậtnặng và rất nhiều loại hình lao động chân tay khác nhau Có thể nói rằng, BTTLdựa trên những kỹ năng vận động cơ bản của con người và những động tác tronglao động mà con người gọi là những bài tập vận động tự nhiên (đi, chạy, nhảy,ném, leo trèo), nhưng có những hình thức và nội dung hoàn toàn khác so với laođộng chân tay và được sử dụng một cách có ý thức, chủ yếu nhằm hoàn thiện thểchất con người để chuẩn bị cho lao động và đời sống [26],[27]
Các BTTL được xây dựng phải phù hợp với mục đích, nhiệm vụ của quátrình huấn luyện, giảng dạy Tính mục đích của các bài tập trong huấn luyện thểhiện ở chỗ, chúng có tác dụng nhằm phát triển thành tích của người tập CácBTTL được sử dụng một cách thích hợp để phát triển các tiền đề thành tích cần
Trang 22thiết cho thi đấu, hoặc kỹ thuật phải phù hợp với yêu cầu của cấu trúc bài tập,khả năng chịu đựng LVĐ phải được nâng cao một cách liên tục Các chỉ số thểlực được phát triển một cách nhanh chóng, tối ưu qua quá trình hồi phục nhanh.Thông qua việc xây dựng hợp lý từng BTTL, cũng như việc phân chia tối ưukhối LVĐ của từng bài tập, hoặc nhóm bài tập Từ đó, có thể đảm bảo cho ngườitập phát triển đầy đủ những năng lực cần thiết của họ trong lứa tuổi đạt thànhtích cao nhất [30],
Sự khác nhau của các BTTL được sử dụng trong huấn luyện không chỉ căn
cứ vào hình thức của quá trình vận động, mà cần phải quan tâm đến sự khácnhau trong các đặc điểm Các bài tập riêng lẻ khác với các điều kiện thi đấuchuyên môn ít hoặc nhiều, không chỉ ở hình thức của quá trình vận động, màcòn phụ thuộc ở đặc điểm lượng vận động và những đặc điểm riêng khác, Ví dụ:Tính liên hợp và tính phức tạp trong khối lượng vận động Vì vậy, mỗi bài tậpchỉ giải quyết được một số nhiệm vụ nhất định trong phát triển thể lực và một sốnăng lực khác cho người tập Từ đó, có thể nhận thấy các BTTL có vai trò quantrọng mang tính quyết định đối với yêu cầu của LVĐ và rất có ý nghĩa với cácyêu cầu BTTL được tạo thành bởi các động tác cụ thể để tăng cường thể chất,nâng cao trình độ thể thao hoặc vui chơi giải trí, nhưng không phải động tác nàocũng trở thành BTTL Chỉ có những động tác trong phương tiện được dùng đểthực hiện các mục đích và nhiệm vụ của GDTC mới được gọi là BTTL, nhữngđộng tác đó phải phù hợp với yêu cầu và có lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụGDTC [ 28] [30],
Trong điều kiện hợp lý, BTTL có thể giúp tăng cường quá trình trao đổi cơ
sở (đồng hoá và dị hoá) trong cơ thể cũng như thúc đẩy quá trình hồi phục vànăng lực thích ứng Đồng thời qua đó, chúng còn phát triển các kỹ năng và nănglực vận động nhất định, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức, ý chí…, đó chính là đặcđiểm, tác dụng cơ bản của BTTL
BTTL được sử dụng để giải quyết nhiệm vụ GDTC đáp ứng nhu cầu thểchất và tinh thần của con người Vì vậy, có thể nói, BTTL chuyên môn là những
Trang 23động tác vận động đặc thù, được lựa chọn và sắp xếp theo một trình tự hợp lýnhằm phát triển một số TCTL nào đó Những động tác này được các nhà chuyênmôn sáng tạo ra một cách có chọn lọc, phù hợp với các nguyên tắc của công táchuấn luyện thể lực (HLTL) cho người tập, nhờ đó mà nhiệm vụ HLTL trongcông tác huấn luyện được giải quyết một cách tốt nhất
Để có thể điều khiển tốt việc sử dụng một cách có trọng điểm các bài tập,phải xác định rõ nhiệm vụ cơ bản trong từng giai đoạn huấn luyện và phải chú ýtới thời gian ảnh hưởng tối ưu của từng bài tập Muốn làm được điều đó, trongquá trình HLTL cho người tập cần phải nắm vững các vấn đề sau đây
1.3.1 Nội dung bài tập thể lực
Nội dung BTTL bao gồm các thành phần tạo nên các bài tập đó và các quátrình cơ bản xảy ra trong cơ thể do việc thực hiện bài tập đó tạo nên Các quátrình này quyết định tác dụng đối với người tập Các quá trình xảy ra trong cơchế rất phức tạp và đa dạng, có thể được xem xét từ các góc độ khác nhau như:tâm lý, sinh lý, sinh hoá… Về mặt sinh lý học nội dung BTTL là biến đổi tronghoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài tập làm cho cơ thể chuyểnsang một chức năng hoạt động cao hơn so với lúc yên tĩnh Nhờ vậy, mà có thểhoàn thiện được những khả năng chức phận của cơ thể Người ta còn tính cảnhững biến đổi trước và sau khi thực hiện bài tập, tuỳ theo đặc điểm bài tập,những biến đổi sinh lý có thể đạt mục đích khá lớn, Ví dụ: thông khí phổi có thểtăng lên 30 lần, lượng ôxy tăng lên 20 lần, lưu lượng phút của máu tăng lên 10lần, kèm theo các quá trình hồi phục và thích nghi của cơ thể trong và sau lúcthực hiện bài tập Vì vậy, bài tập thể chất được coi là nhân tố có tác dụng mạnh
mẽ, làm tăng khả năng chức phận và hoàn thiện những đặc điểm cấu trúc của cơthể [20];[21]
Khi xem xét nội dung BTTL từ góc độ sư phạm, điều quan trọng là xemxét tác dụng tổng hợp của bài tập đó đối với việc phát triển những năng lực vậnđộng của cơ thể và sự hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động, cũng như sự tácđộng đến hành vi, nhân cách người tập Để nắm được nội dung của BTTL nào
Trang 24đó, nhà sư phạm không những cần hiểu những biến đổi sinh lý, sinh hoá vànhững biến đổi khác xảy ra trong cơ thể do ảnh hưởng của bài tập, mà điều chủyếu là hiểu được phương hướng tác dụng của bài tập đối với việc thực hiệnnhững nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đặt ra [18]
Không nên chỉ xem xét bản thân của BTTL đơn thuần từ góc độ sinh vậthọc, có tác dụng đối với năng lực vận động của cơ thể, mà bỏ qua hay xem nhẹnhững tác dụng rất quan trọng về tâm lý và sự hình thành nhân cách Một đặctrưng quan trọng của BTTL là nó được xây dựng trên cơ sở những hoạt động có
ý thức, tức là được điều khiển từ các trung tâm thần kinh ở vỏ não Đó là nhữnghành vi vận động có chủ đích, liên quan đến nhiều quá trình tâm lý Sự biểutượng về động tác, hoạt động tư duy, cảm xúc… có ảnh hưởng đối với sự biểuhiện ý chí tình cảm, tính cách BTTL có thể được coi là những hành vi vận động
có ý thức, trong đó thể hiện sự thống nhất giữa hoạt động thân thể với ý thức
Nó không chỉ tác động đến cơ thể, mà cả đến nhân cách và tâm lý người tập.Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp và hình thức tổchức thực hiện bài tập và những tác động từ phía nhà sư phạm , sao cho có thểtạo nên bầu không khí tâm lý thuận lợi (gây hứng thú, tích cực, chủ động củangười tập), tạo được những điều kiện và tình huống thích hợp cho sự biểu hiện ý chí,
ý thức tập thể, tinh thần đồng đội tính trung thực…
1.3.2 Hình thức của BTTL
Là cấu trúc bên trong và bên ngoài của nó Hình thức bài tập phụ thuộc
vào đặc điểm nội dung của nó
Cấu trúc bên trong của BTTL: Thể hiện ở mối quan hệ và sự phối hợp,
tác động lẫn nhau giữa các quá trình phối hợp thần kinh - cơ, sự phối hợp và tácđộng lẫn nhau giữa hoạt động của hệ vận động và hệ thực vật, cấu trúc của quátrình chuyển hoá năng lượng (tương quan giữa quá trình có ôxy và không cóôxy)…
Cấu trúc bên ngoài của BTTL: Là hình dáng có thể nhìn thấy của nó, thể
hiện đặc trưng ở mối quan hệ giữa các thông số không gian và thời gian và lực
Trang 25của các động tác tạo thành bài tập [26]
Hình thức và nội dung của BTTL: Có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó
nội dung là một yếu tố quyết định Điều đó, có nghĩa là để thực hiện được mộthoạt động vận động quy định nào đó cao hơn khả năng hiện có, trước hết phảithay đổi một cách tương ứng mặt nội dung của nó, tức là phải nâng cao khả năngchức phận của cơ thể, các năng lực vận động, tố chất thể lực (TCTL) chủ yếutương ứng với mức hoạt động vận động đó đòi hỏi [28]
Nội dung thay đổi thì hình thức bài tập cũng thay đổi, ví dụ: Sức mạnhhoặc sức bền thay đổi thì biên độ và tần số động tác cũng có thể thay đổi
Hình thức có ảnh hưởng đến nội dung Hình thức chưa hoàn thiện của bàitập sẽ cản trở sự biểu hiện các khả năng tối đa của cơ thể, ngược lại, hình thứchoàn thiện sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả các năng lực thể chất Tính độclập tương đối của hình thức bài tập thể hiện ở chỗ, các bài tập có nội dung khácnhau, có thể hình thức bên ngoài tương tự như nhau đồng thời các bài tập có nộidung về cơ bản giống nhau lại có thể có những hình thức khác nhau [20]
1.3.3 Chất lượng BTTL
Chất lượng BTTL là yếu tố đánh giá một cách khách quan yêu cầu củalượng vận động Việc duy trì các thông số vận động quyết định ảnh hưởng củamỗi bài tập Bởi vậy cần phải tìm các thông số vận động tối ưu và thường xuyênkiểm tra sự duy trì các thông so đó trong tập luyện Mỗi bài tập phải thực hiệnvới chất lượng tốt nhất trong điều kiện cho phép, nhằm thực hiện triệt để cácnhiệm vụ được đặt ra Nếu không như vậy sẽ không đạt được mục đích đặt ratrong quá trình huấn luyện thể lực cho người tập, cũng như trong quá trình giáodưỡng nhằm hoàn thiện các kỹ xảo vận động Ngoài ra, phải thường xuyên thựchiện đầy đủ khối LVĐ với các hình thức thực hiện khối lượng vận động khácnhau, mà trong đó có chứa các thông số vận động thi đấu
1.3.4 Cường độ của LVĐ
Cường độ vận động được xác định thông qua độ lớn của từng kích thích,
hoặc thông qua công sản sinh ra khi thực hiện một loạt các bài tập nhất định trên
Trang 26đơn vị thời gian Việc quy định cường độ vận động trong thực tế huấn luyện rấtkhó khăn phức tạp, trước hết chúng ta cần phân biệt cường độ vận động và mật
độ vận động [26]
Cường độ vận động liên quan tới các bài tập Trong đa số các môn thểthao có thể thực hiện với mức độ dùng sức, tần số động tác và các tốc độ thựchiện động tác khác nhau Độ lớn của cường độ quyết định phương hướng ảnhhưởng của bài tập đối với người tập
Một BTTL có thể thực hiện với các cường độ khác nhau Bởi vậy, đểthuận lợi cho lập kế hoạch và đánh giá quá trình huấn luyện cần phải phân biệtgiữa các vùng cường độ khác nhau Ở các bài tập sức mạnh, sức mạnh tốc độ vàtốc độ, cường độ được phân chia thành: Cường độ tới hạn (100% cường độ tốiđa) và từ đó dẫn ra các vùng cường độ khác Khối lượng của lượng vận độngtrong từng cường độ cũng cần được ghi riêng trong biên bản tập luyện
Cường độ nhằm phát triển các TCTL khác nhau phải vượt qua một giớihạn nhất định, đó là vấn đề mà các huấn luyện viên phải quan tâm trong quátrình huấn luyện Ngoài ra, cường độ vận động không chỉ ảnh hưởng tới nhịp độphát triển mà còn ảnh hưởng đến mức độ thành tích và các TCTL, các kỹ xảovận động riêng lẻ
Việc lựa chọn cường độ vận động không cho phép chỉ căn cứ vào nhữngthích ứng về hình thái chức năng mà còn cần chú ý đến trình độ kỹ thuật
Mật độ vận động, mật độ của LVĐ là tỷ lệ thời gian giữa các giai đoạn vậnđộng và nghỉ ngơi trong một buổi tập Thông qua mật độ vận động LVĐ và nghỉngơi trong một buổi tập được xác định chặt chẽ Mật độ vận động tối ưu mộtmặt đảm bảo cho việc thực hiện một khối LVĐ lớn cũng như hiệu quả của LVĐ.Mặt khác, tránh được hiện tượng mệt mỏi quá sức của người tập Chỉ tiêu cơ bản
để xác định mật độ vận động là khả năng duy trì các thông số vận động đặt ratrước bài tập (chất lượng bài tập) và các yêu cầu về cường độ vận động Bởi vậy,phải xác định mật độ vận động trong sự thống nhất với tất cả các yếu tố kháccủa LVĐ [27]
Trang 271.3.5 Khối lượng của LVĐ
Khối lượng của LVĐ thể hiện ở số lượng các yêu cầu của LVĐ Các đơn
vị sử dụng để xác định khối lượng của LVĐ trong huấn luyện sức nhanh và cácmôn thể thao mang tính chất kỹ thuật là số lần lặp lại động tác Khối lượng củaLVĐ là một trong những yếu tố cơ bản nhất của LVĐ Nó phải được nâng lên từnăm này qua năm khác trong quá trình phát triển năng lực thể chất, từ người mớitập đến người tập có trình độ cao Khối lượng của LVĐ quyết định mức độ ảnhhưởng của các yêu cầu LVĐ trong các buổi tập nhằm phát triển thể lực Tronghuấn luyện kỹ, chiến thuật, khối lượng LVĐ tác động vào việc phát triển thànhtích trong sự thống nhất với chất lượng thực hiện bài tập [28], [30]
Một LVĐ với một cường độ vận động nhất định chỉ mang lại hiệu quảđầy đủ nếu nó đạt được một khối LVĐ phù hợp Điều đó, không những chỉ
có ý nghĩa đối với việc phát triển các TCTL và các phẩm chất tâm lý, màcòn vì nguyên tắc cũng có giá trị đối với việc học và hoàn thiện kỹ xảo kỹthuật thể thao
Khối lượng LVĐ trong buổi tập thể thao phải được điều chỉnh sao cho cóthể duy trì được LVĐ hiệu quả Vì vậy, LVĐ có cường độ thấp hơn về cơ bảnphải lớn hơn LVĐ có cường độ cao Một LVĐ có hiệu quả trong một giáo ánhuấn luyện là phải thực hiện khi các yếu tố mệt mỏi xuất hiện và mệt mỏi đó cònduy trì trong một thời gian nhất định tới sau khi kết thúc buổi tập Trong giáo ánhuấn luyện chủ yếu nhằm phát triển kỹ thuật, thì mức độ tối ưu của LVĐ chỉ đạtđược khi người tập không còn thực hiện một cách chính xác quá trình vận động.Mức độ của LVĐ trong một buổi tập cần phải biết sắp xếp thống nhất với sốlượng buổi tập Sự hồi phục sau buổi tập có cùng cường độ và mật độ sẽ còn kéodài nếu khối lượng LVĐ càng lớn về nguyên tắc khả năng làm việc của cơ thểcần được hồi phục trước khi bắt đầu một buổi tập luyện mới Như vậy, khốilượng của LVĐ trong một buổi tập được xác định dựa theo nhịp độ hồi phục cábiệt và khoảng thời gian cần thiết để nghỉ ngơi Điều này, cần đặc biệt chú ýtrong quá trình tập luyện hàng ngày đối với người mới tập Những "nhảy vọt"
Trang 28của LVĐ sẽ được coi là đúng, chừng nào chúng được chuẩn bị bằng sự tăng dầnnhững yêu cầu tập luyện Nếu không được chuẩn bị như vậy, thì những nhảy vọt
đó sẽ mâu thuẫn với sự tăng cường sức khoẻ, hạn chế thành tích thể thao Mặtkhác, tính chất nâng dần nếu không kết hợp với một nhịp độ tăng LVĐ cao đếnmức đầy đủ, sẽ dẫn đến sự phát triển chậm chạp và sau đó đến cả dừng lại củatrình độ tập luyện [18], [21], [28]
1.3.6 Thời hạn của LVĐ
Các đơn vị khối lượng dưới hình thức thời hạn các kích thích của LVĐ
đơn lẻ hoặc mỗi đợt lặp lại LVĐ cùng tác động đến phương hướng và mức độcác yêu cầu của LVĐ trong huấn luyện nhằm phát triển sức nhanh và phát triểntối ưu sức mạnh tối đa, không những phải tạo sự căng cơ lớn, mà còn phải tạonên cơ sở kéo dài cần thiết ở các động tác đơn lẻ Trong huấn luyện sức mạnhbền, về nguyên tắc các đợt phải đạt được mức lặp lại tối đa vì tập luyện mệt mỏikhông làm giảm sút thành tích một cách cơ bản và người tập ở trạng thái sẵnsàng Như vậy, các yếu tố của LVĐ là cơ sở cho việc phát triển thành tích Song,tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng môn thể thao chuyên sâu, tuỳ thuộc vào trình
độ tập luyện, đặc điểm của đối tượng tập luyện mà sử dụng cho phù hợp mới đạtđược mục đích đặt ra của quá trình huấn luyện Mặt khác, khi chúng ta xác địnhđược các yếu tố của LVĐ thì người giáo viên huấn luyện phải xác định các yếu
tố cơ bản của phương pháp thực hiện LVĐ [21], [26], [28]
1.3.7 Các phương pháp thực hiện LVĐ
Nhằm điều khiển chính xác việc tập luyện cần hạn chế tính đa dạng
về phương pháp thực hiện LVĐ, chúng cũng còn được gọi là các hình thứccủa LVĐ
Các hình thức của LVĐ tiêu chuẩn bao gồm: Các loại bài tập với các loạidụng cụ tập luyện và các thông số vận động đòi hỏi; Phương pháp tập; Khốilượng và cường độ của LVĐ; Các hình thức tổ chức thực hiện các phương pháp;Đặc điểm điều kiện bên ngoài
Cần phải phân chia các hình thức của LVĐ theo việc giải quyết các nhiệm
Trang 29vụ trong tập luyện Việc sử dụng các hình thức của LVĐ phải phù hợp với mụcđích và nhiệm vụ của từng giai đoạn Theo quy luật của quá trình thích nghi, thìhiệu quả của LVĐ có thể bị giảm đi sau một thời gian dài sử dụng nó Do vậy,
sự thay đổi các hình thức của LVĐ có cấu trúc khác và yêu cầu cao hơn cầnđược thực hiện theo yêu cầu khoa học [21], [26], [28]
- Huấn luyện thể lực, huấn luyện kỹ thuật và huấn luyện chiến thuật
Trên cơ sở thống nhất của các yếu tố và hình thức của LVĐ, cấu trúc nộidung yêu cầu của LVĐ chủ yếu quyết định mặt chất lượng của tập luyện Cấutrúc của LVĐ xuất phát từ các yêu cầu cụ thể của tính chất, yêu cầu hoạt động,các thời kỳ và các giai đoạn tập luyện Cấu trúc LVĐ không cho phép phân chiahoặc sử dụng một cách cứng nhắc Nó phải được thay đổi một cách linh hoạtphù hợp với các quy luật phát triển thành tích và sự phát triển thành tích cá biệtcủa từng người tập Trong cấu trúc của LVĐ, cũng cần quan tâm đến sử dụngluân phiên hợp lý giữa LVĐ và quãng nghỉ Đặc biệt, trong huấn luyện thì sựphát triển năng lực thể thao và khả năng chịu đựng một LVĐ của người tập cònphụ thuộc vào số lượng buổi tập Nhưng đến điều kiện là LVĐ trong từng buổitập phải tạo "dấu vết" có lợi cho quá trình huấn luyện vì thông qua nghỉ ngơithúc đẩy quá trình hồi phục và thông qua quá trình hồi phục phát triển năng lựcthể thao cho người Hiện nay, tuỳ theo trình độ tập luyện mà số buổi trong mộttuần tập luyện có thể từ 6 - 12 buổi
Tập luyện thể lực không những chỉ diễn ra nhiều năm, quanh năm mà còndiễn ra hàng ngày, mỗi ngày không chỉ có một bài tập Do đó, tập luyện đã trởthành quá trình không ngừng, nhưng trong quá trình đó việc sử dụng các bài tập
Trang 30nào là cần thiết và phù hợp [21], [26], [28].
1.4 Đặc điểm về tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên
1.4.1 Đặc điểm tâm lý
Trong môi trường sống, con người luôn luôn chịu mọi tác động của điều
kiện ngoại cảnh như nắng, mưa, yếu tố xã hội, hoàn cảnh sống bất lợi… đòi hỏicon người phải có sức chịu đựng nhất định Trong quá trình sống, con ngườiđược cải tạo, phát triển và hoàn thiện Về tính thống nhất trong mỗi con người,được tác giả Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên và một số tác giả khác cho rằng,
cơ thể con người là một thể hoàn chỉnh, thể hiện ở hai mặt [21]
Thứ nhất, giữa các cơ quan, hệ cơ quan hoặc các chức năng của cơ thể
luôn luôn có sự tác động qua lại với nhau Sự biến đổi ở một cơ quan, nhất thiết
sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan khác và đến toàn bộ cơ thể nói
chung Hoạt động của cơ thể bao gồm sự phối hợp của hoạt động tâm lý, hoạtđộng dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt….và thường diễn ra trong mối liên hệ chặtchẽ với môi trường xung quanh
Thứ hai, cơ thể luôn tiến hành trao đổi chất với môi trường xung quanh
và chịu sự tác động của môi trường Sự thay đổi của môi trường, bao gồm cảmôi trường tự nhiên và môi trường xã hội, sẽ dẫn đến những thay đổi tươngứng của cơ thể
Con người là một hệ sinh học thống nhất, quá trình trao đổi chất và nănglượng – trao đổi chất với môi trường xung quanh và chịu tác động của môitrường Do đó, sự phát triển và hoàn thiện thể chất nói chung và thể lực nóiriêng của con người phụ thuộc vào các yếu tố: Điều kiện tự nhiên của môitrường bên ngoài: Ánh nắng mặt trời, không khí, nhiệt độ, độ ẩm; Điều kiện xãhội: Chế độ giáo dục và những nhân tố tâm lý; Điều kiện vệ sinh; Điều kiện dinhdưỡng, chế độ làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi; Phong tục tập quán; Chế độRLTT
Trong các yếu tố nói trên, thì yếu tố RLTT là quan trọng để phát triển thểlực chung cho con người Quá trình rèn luyện đúng hướng sẽ dẫn đến quá trình
Trang 31thích nghi, hay nói cách khác khả năng thích nghi, chính là kết quả của quá trìnhrèn luyện Con người có khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh, điều kiệnkinh tế, xã hội bất lợi hay các tác nhân strees gây nên.
1.4.2 Đặc điểm sinh lý
Lứa tuổi sinh viên, xương và khớp bắt đầu ổn định, sau lứa tuổi 20 – 25xương có thể cốt hoá hoàn toàn và không thể phát triển thêm nữa Ở lứa tuổisinh viên, chiều cao đứng cơ thể có thể tăng thêm được vài cm, do sự phát triểncủa các sụn đệm giữa các khớp xương Các tổ chức sụn đệm này dần dần xẹp lại
ở vào sau tuổi 40 và cũng làm cho chiều cao đứng của cơ thể giảm đi vàicentimét Như vậy, có thể nói lứa tuổi 20 -25 là “Thời điểm chiều cao đứng của
cơ thể cao nhất” của cuộc đời con người Các bài tập thể chất có thể làm tăngkhả năng phát triển chiều cao đứng của cơ thể, song phải được bắt đầu tập luyện
ở lứa tuổi sớm hơn lứa tuổi sinh viên [21]
Sự phát triển của cơ có quy luật nhất định, cơ bắt đầu phát triển khoảng từlứa tuổi 8 - 9, đến lứa tuổi 15 - 18 cơ thân mình phát triển nhanh nhất, sau khikết thúc thời kỳ tăng trưởng cơ thể, chiều cao đứng của cơ thể phát triển chậmlại thì độ dày cơ bắt đầu phát triển nhanh Thời kỳ sợi cơ dày lên rõ rệt Namkhoảng tuổi 18 - 19, nữ sớm hơn một vài năm so với nam, thời kỳ này, trọnglượng cơ thể tăng lên, các chỉ số về tiết diện ngang của cơ thể cũng tăng lên
rõ rệt
Trong quãng đời con người, tần số mạch đập không giống nhau, ở lứa tuổinhỏ, tần số mạch đập tương đối nhanh, đến tuổi 20 (nghĩa là ở lứa tuổi thanhniên trong đó có sinh viên) tần số mạch đập bắt đầu ổn định Huyết áp phụ thuộcvào trương lực thành mạch, ở lứa tuổi nhỏ huyết áp chưa ổn định, tuy nhiên sựthay đổi không rõ ràng, sau tuổi 16 huyết áp bắt đầu ổn định
Đặc điểm sinh lý lứa tuổi ảnh hưởng rõ rệt đến chức năng hô hấp ,như chu kỳ hô hấp, độ sâu hô hấp, tần số hô hấp Tần số hô hấp, dung tíchphổi là các thông số hô hấp, dung tích sống là chỉ số tĩnh của hô hấp Dungtích sống trẻ em nhỏ hơn của người lớn, nhưng dung tích sống tương đối thì
Trang 32lại lớn hơn Dung tích sống thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó cóyếu tố rèn luyện Sự hoàn thiện của dung tích sống xảy ra muộn, kéo dài đếnlứa tuổi 24 - 25 Lứa tuổi sinh viên là lứa tuổi tương đối thuận lợi để pháttriển chức năng hô hấp
Hệ thần kinh là cơ quan phát triển sớm, đến tuổi 7 - 8, sự phân hoá tế bàothần kinh cơ bản đã hoàn thành Hoạt động vận động cũng như mọi hành vi khácđều chịu sự điều khiển của thần kinh và thể dịch, trong đó điều khiển của thầnkinh chiếm vị trí chủ đạo
Tóm lại, lứa tuổi sinh viên là lứa tuổi trưởng thành, là lứa tuổi bắt đầu “làmngười lớn” Các đặc điểm sinh lý - giải phẫu nói chung là thuộc đặc điểm sinh lý -giải phẫu của lứa tuổi trưởng thành Tuy vậy, do lứa tuổi sinh viên là lứa tuổithuộc thời kỳ đầu lứa tuổi thanh niên nên cần phải đặc biệt chú ý, cụ thể là :
- Phải được tiếp tục GDTC một cách khoa học, để nâng cao thể lực, gópphần hoàn thiện các cơ quan và hệ cơ quan trong cơ thể
- Phát triển đầy đủ các TCTL, làm tiền đề phát triển TLC rộng rãi và pháttriển thể lực chuyên môn cần thiết sau này cho sinh viên
1.5 Chuẩn bị thể lực với sự hình thành kỹ năng vận động và TCTL Chuẩn bị thể lực cho sinh viên không thể không gắn liền với quá trình rèn
luyện để hình thành và hoàn thiện các khả năng, kỹ xảo vận động và phát triểncác tố chất thể lực, nhất là các khả năng thực dụng và các TCTL cơ bản nhanh,mạnh, bền [26],[27],[30]
Con người khi mới sinh ra, có khả năng vận động rất hạn chế về số lượng
và độ phức tạp của động tác Hầu hết các hoạt động vận động của con người cóđược, là nhờ được rèn luyện trong quá trình sống Trong quá trình rèn luyện, các
kỹ năng kỹ xảo mới được hình thành, các kỹ năng thừa hưởng nhờ bẩm sinh ditruyền cũng được củng cố Nhờ luyện tập, con người dần dần lĩnh hội được cácđộng tác đơn lẻ hoặc các hành động toàn vẹn Các động tác đó được thực hiệntheo thói quen một cách tự động và trở thành kỹ năng vận động Về mặt sinh lývận động, quá trình hình thành các kỹ năng vận động, là một quá trình phức tạp,
Trang 33gắn liền với quá trình hình thành và củng cố các phản xạ có điều kiện, song quátrình này lại liên quan chặt chẽ với sự phát triển của TCTL.
Trong hoạt động TDTT, cơ chế sinh lý của các TCTL rất đa dạng và phứctạp, hiệu quả phụ thuộc vào công suất hoạt động, cơ cấu động tác, thời giandùng sức, sự hiểu biết Khả năng hoạt động thể lực có thể biểu hiện ở nhiều khíacạnh khác nhau, các mặt khác nhau của khả năng hoạt động thể lực đó được gọi
là tố chất vận động (TCTL) Các nhà lý luận và phương pháp TDTT cho rằng:
có 5 loại tố chất thể lực cơ bản: “ Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng phốihợp động tác và độ dẻo ” Các nhà sinh lý TDTT lại có quan điểm rằng: “TCTL
cơ bản của con người gồm 4 loại : sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khéo léo”
Rõ ràng, sự phân chia các TCTL cũng mang tính tương đối, vì trong bất
kỳ hoạt động thể lực nào, các TCTL cũng không biểu hiện một cách riêng lẻ, màbao giờ cũng phối hợp hữu cơ với nhau Do đó, ngoài các TCTL cơ bản đặctrưng, còn có nhiều TCTL phức hợp đan xen nhau như: sức mạnh - tốc độ, sứcbền - tốc độ, sức mạnh - bền… Tuy nhiên, trong một hoạt động vận động nào đóhay một môn thể thao nào đó, một hay vài TCTL lại quyết định hiệu quả hoạtđộng của chúng
Các TCTL có liên quan chặt chẽ với kỹ năng vận động Sự hình thành kỹnăng vận động, phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển các TCTL và ngược lại,trong quá trình hình thành kỹ năng vận động, các TCTL cũng được hoàn thiệnthêm Trong GDTC, việc dạy học động tác (Quá trình giáo dưỡng), cũng gópphần nâng cao các TCTL và ngược lại khi tập các BTTL (giáo dục các TCTL)tuy việc nâng cao các TCTL chiếm ưu thế, song cả kỹ năng vận động, khả nănghình thành động tác, khả năng phối hợp vận động cũng được hình thành Mức độphát triển các TCTL phụ thuộc vào trạng thái cấu tạo và chức năng của nhiều cơquan, hệ cơ quan trong cơ thể Quá trình tập luyện để hoàn thiện kỹ năng, kỹxảo vận động và nâng cao các TCTL, cũng chính là quá trình phát triển và hoànthiện các cơ quan trong cơ thể Đây là hai mặt của một quá trình mà công tácchuẩn bị thể lực phải hướng tới, để điều khiển các quá trình đó
Trang 34TLC bao hàm các TCTL như sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo vàmềm dẻo Phát triển TLC phải đảm bảo phát triển đồng bộ các TCTL đặc trưng
và được tiến hành trong suốt cả quá trình tập luyện Phát triển TLC chính là tạo
cơ sở ban đầu thật tốt để chuẩn bị cho các quá trình phát triển thể chất, thể trạngcho người tập
Qua nghiên cứu, đúc kết từ thực tiễn, các nhà lý luận đã khẳng định TCTLchung gồm: Sức bền chung, sức mạnh (sức mạnh tuyệt đối, sức mạnh bền, sứcmạnh nhanh), sức nhanh (sức nhanh động tác đơn, sức nhanh phản ứng động tác,tần số động tác (tốc độ chạy), mềm dẻo và linh hoạt khéo léo (khả năng phốihợp vận động)
Quá trình tập luyện để nâng cao sức mạnh có ý nghĩa quan trọng đối vớicon người tập luyện để phát triển sức mạnh, là tập để tăng thiết diện ngang sinh
lý sợi cơ, nhờ sợi cơ dày lên mà sức mạnh cũng tăng lên, các cơ quan trong cơthể cũng được phát triển Nhờ có sức mạnh mà sức nhanh, sức bền, khả năngphối hợp vận động cũng được phát huy mạnh mẽ [26]
Một trong những phương pháp để phát triển sức mạnh cho sinh viên là sửdụng những bài tập nhằm huy động tối đa những nhóm cơ, đặc biệt là các nhóm
cơ lớn, tham gia và phát triển năng lực sử dụng hợp lý sức mạnh trong các điềukiện khác nhau Các bài tập với trọng lượng nhỏ và trung bình, như bài tập vớilực đàn hồi, bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể, bài tập với lực đối kháng củamôi trường bên ngoài, bài tập cử tạ nhỏ… có hiệu quả tốt đến phát triển sứcmạnh động lực.Trong quá trình tập luyện, phải chú ý đến các yếu tố, như trình
độ thể lực, sức khoẻ, đặc điểm sinh lý của sinh viên để phát triển tính tích cực
Trang 35trong giáo dục sức mạnh.
Để phát triển sức mạnh tốc độ, người ta tập các bài tập tay không, các bàitập với trọng lượng nhỏ và vừa Để phát triển sức mạnh tối đa người ta tập cácbài tập với trọng lượng gần tới hạn và tới hạn Phát triển sức mạnh - bền, có thể
áp dụng với các bài tập trên các dụng cụ khác nhau, với phương pháp liên hoàntrong khoảng thời gian 10” – 15” Trong một tuần, chỉ áp dụng bài tập phát triểnsức mạnh từ 1 đến 2 lần [23], [24], [26]
1.5.2 Sức nhanh và phương pháp phát triển sức nhanh
Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gianngắn nhất
Sức nhanh biểu hiện ở dạng đơn giản, như thời gian phản ứng, thời giancủa động tác đơn lẻ, tần số của hoạt động cục bộ Sức nhanh biểu hiện ở dạngphức tạp, đó là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao, các hoạt động vậnđộng khác như chạy 100m, tốc độ dẫn bóng Sức nhanh là một tố chất tổng hợpcủa các yếu tố cấu thành: thời gian phản ứng, tốc độ động tác đơn lẻ và tần sốhoạt động
Để giáo dục sức nhanh, có thể dùng các bài tập chuyền bắt bóng với cáchướng thay đổi đột ngột, các trò chơi vận động để phát triển sức nhanh và phảnứng động tác Các bài tập để phát triển tần số hoạt động, là những bài tập vớiquãng đường ngắn và đạt tốc độ tối đa; chạy xuất phát hoặc chạy tốc độ cao 20m
- 30m, 40m -60m, chạy xuống dốc Trong một buổi tập, thường áp dụng bài tập
để phát triển sức nhanh vào đầu phần cơ bản
Phương pháp cơ bản để giáo dục sức nhanh, là phương pháp lặp lại, song
để tránh sự đơn điệu và “Hàng rào tốc độ” người ta có thể sử dụng các trò chơinhư chạy tiếp sức, các trò chơi với bóng
Trong giáo dục sức nhanh, thường để phá vỡ “Hàng rào tốc độ”, có thể ápdụng các bài tập; chạy xuống dốc, chạy theo người có tốc độ nhanh hơn, chạytheo người đạp xe [23], [24], [26]
Trang 361.5.3 Sức bền và phương pháp phát triển sức bền
Sức bền là khả năng thực hiện lâu dài một hoạt động nào đó mà không
xuất hiện mệt mỏi
Trong hoạt động TDTT, sức bền thường thể hiện ở các dạng: sức bềnchung Sức bền chuyên môn, sức bền - tốc độ, sức bền - mạnh Sức bền làmột tố chất thể lực quan trọng, là cơ sở để phát triển năng lực thể chất củacon người Hay nói cách khác, sức bền là một tố chất thể lực quan trọng đểphát triển TLC cho con người Có một số tác giả cho rằng, đánh giá trình độphát triển thể lực chung cho mỗi người, chỉ cần đánh giá sức bền là đủ, tiêubiểu là Cooper (Mỹ, 1950)
Sự phát triển của sức bền phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện của sự phốihợp giữa chức năng vận động và chức năng dinh dưỡng, vào độ bền vững chắcnăng của các cơ quan nội tạng, đặc biệt ở hệ hô hấp và tim mạch, là những hệđảm bảo cung cấp ôxy cho cơ thể hoạt động
Những biện pháp chủ yếu để phát triển sức bền chung cho sinh viên lànhững bài tập gắng sức, nhất là các bài tập có chu kỳ, với thời gian dài (từ 2 - 3phút trở lên), nhằm nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể, khắc phục mệt mỏi vàduy trì hoạt động vận động với hiệu quả cao nhất Đó là những bài tập chạy việt dã,bài tập chạy với quãng đường từ 1000m -5000m, với cường độ không lớn Đối vớisinh viên, để phát triển sức bền thường tiến hành các bài tập trên khoảng 1 lầntrong 1 tuần và tuân theo nguyên tắc tăng dần LVĐ [20], [24], [26]
1.5.4 Mềm dẻo và phát triển tố chất mềm dẻo
Mềm dẻo là năng lực sử dụng độ linh hoạt của các khớp với biên độ lớn
khi thực hiện các hoạt động vận động khác nhau
Trong phát triển TLC, việc tập luyện khả năng mềm dẻo là rất cần thiết cho việcthực hiện mỗi hoạt động với tính nhịp điệu và yêu cầu chất lượng thả lỏng của
cơ tốt Có được như vậy, cần phải phát triển khả năng mềm dẻo cho mỗi ngườitập một cách hợp lý, thường vận dụng vào thời kỳ đầu của giai đoạn tập luyệncho người tập còn trẻ Bởi ở thời điểm này, cơ thể trẻ đang phát triển các cơ
Trang 37quan hệ thống trong cơ thể, tiêu biểu là cơ còn yếu và đang phát triển về chiềudài Trong khi đó, xương mềm nhưng lại giòn, các bao khớp còn lỏng lẻo, nếuchúng ta không phát triển kịp thời dẫn đến thực hiện động tác cứng và khả năngcảm giác vận động kém Khi vận dụng các bài tập, chủ yếu là các bài tập thể dụcmềm dẻo trong Thể dục dụng cụ, sau đó chúng ta sử dụng các bài tập mềm dẻovới tư thế như: các bài tập ngồi tư thế vuông đùi, duỗi chân thẳng và chếch, các
tư thế động tác xoạc dọc – ngang Tất cả các bài tập phát triển mềm dẻo phải cókhả năng phối hợp vận động cao, có chất lượng thả lỏng cơ tốt và có tư thế gậpsâu tối đa Những bài tập sử dụng đó không gây ức chế thần kinh và gây đượchưng phấn cho người tập và thực hiện thời gian không kéo dài quá, quãng nghỉbằng các động tác thực hiện luân phiên hoặc ngắn [20], [23], [26], [30]
1.5.5 Khéo léo và phát triển tố chất linh hoạt khéo léo
Năng lực linh hoạt khéo léo là tiền đề để tiếp thu và hoàn thiện nhanh
chóng kỹ thuật động tác, nhằm đạt được thành tích thi đấu cao Tính linh hoạt
khéo léo được thể hiện dưới hình thức: Sự chuẩn xác của động tác thực hiện về
không gian; Sự chuẩn xác của động tác khi thời gian thực hiện các tư thế bị hạnchế; Khả năng giải quyết nhanh và đúng những tình huống bất ngờ trong vậnđộng; Khả năng thực hiện động tác với biên độ lớn
Đối với các TCTL sức nhanh, sức mạnh, sức bền dựa trên cơ sở của hệthống thích ứng về mặt năng lượng thì khả năng linh hoạt khéo léo lại phụ thuộcchủ yếu vào quá trình điều khiển hành động vận động Năng lực này được xácđịnh trước tiên thông qua quá trình điều khiển và được hình thành cũng như pháttriển trong tập luyện, đồng thời nó có mối quan hệ chặt chẽ với các tố chất thểlực trên
Năng lực linh hoạt khéo léo được thể hiện ở mức độ tiếp thu kỹ thuậtđộng tác nhanh và có chất lượng cao đến quá trình hình thành cũng như củng cố
kỹ năng, kỹ xảo vận động Mức độ phát triển khả năng linh hoạt khéo léo liênquan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thống thần kinh trung ương Đó làkhả năng dẫn truyền nhanh chóng và thực hiện các phản ứng vận động một cách
Trang 38hợp lý với những tín hiệu đơn giản và phức tạp Cơ quan cảm thụ và xử lý thôngtin chính là phân tích thị giác và thính giác Nhờ phát triển tốt tính linh hoạtkhéo léo, mà khi thực hiện kỹ thuật động tác chuẩn xác cao, cảm giác được cácthời điểm di chuyển của các bộ phận cơ thể trong không gian Trên cơ sở đó, cókhả năng giải quyết nhanh thay đổi về tình huống hoặc có thể dự đoán trước đ-ược các thay đổi xảy ra Do vậy, cần huấn luyện khả năng linh hoạt khéo léongay từ khi mới tập và trình độ tập luyện còn thấp cũng như cơ thể đang pháttriển Khi vận dụng các bài tập nhằm phát triển năng lực linh hoạt khéo léo cần
Khi sử dụng các bài tập nhằm tăng khả năng linh hoạt khéo léo, cần vậndụng những biện pháp: Đa dạng hoá việc thực hiện động tác; Thay đổi điều kiệnbên ngoài; Thực hiện động tác yêu cầu về thời gian; Thay đổi việc thu nhậnthông tin [20], [23], [26], [30]
Tóm lại: Qua thực tiễn nghiên cứu, các nhà khoa học chứng minh rằng
các TCTL có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng hỗ trợ nhau phát triển, nếutách rời một trong những TCTL, đều không có ý nghĩa phát triển Thật vậy,TCTL chung bao gồm 5 tố chất cơ bản: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền chung,mềm dẻo và linh hoạt khéo léo Trong 5 tố chất mỗi tố chất có tác dụng và ýnghĩa phát triển thể chất, thể trạng khác nhau, như:
- Tố chất sức nhanh: Có tác dụng giúp cho người tập hoạt động dưới cáctrạng thái nhanh, phát triển tốt khả năng linh hoạt của hệ thống thần kinh-cơ bắp
Trang 39- Tố chất sức mạnh: Giúp cho các hoạt động của người tập với sự nỗ lực ýchí cao để khắc phục được lực cản bên ngoài lớn.
- Sức bền chung: Tạo điều kiện phát triển tốt các cơ quan hệ thống trong
cơ thể như đối với tim thì buồng tim to hơn (khoang tim rộng chứa được nhiềumáu), thành cơ tim dầy hơn, đàn tính cơ tim tốt hơn Đối với hệ tuần hoàn giúp
nó hoạt động đàn tính của mạch tốt hơn làm cho máu lưu chuyển dễ dàng hơn vàmạch đập cũng như huyết áp ổn định tốt hơn Đối với hệ cơ bắp-dây chằng đàntính hơn, giúp cho con người vận động tốt hơn
- Tố chất mềm dẻo và linh hoạt khéo léo: Làm cho các cơ quan tổ chứclàm việc có hiệu quả hơn nhờ sự thả lỏng và dùng sức đúng thời điểm, thực hiệncác hoạt động với biên độ của khớp lớn
Để phát triển tốt mỗi TCTL trên, thì việc sử dụng các hệ thống bài tập chomỗi tố chất cần phù hợp với đối tượng tập luyện Tố chất sức bền chung có tácdụng hỗ trợ cho việc phát triển tố chất sức nhanh và sức mạnh tốt hơn, mềm dẻo
và linh hoạt khéo léo có tác dụng nâng cao hiệu quả việc phát triển sức bềnchung, sức nhanh, sức mạnh
1.6 Đánh giá trình độ thể lực (TĐTL)
1.6.1 Các quan điểm đánh giá TĐTL
Quan điểm đánh giá TĐTL bằng các chỉ tiêu chức năng vận động, được ápdụng chủ yếu là các nhà sư phạm Các tác giả thường sử dụng các chỉ tiêu đánhgiá năng lực vận động và TCTL để đánh giá TĐTL của các đối tượng nghiêncứu, như đánh giá sức nhanh, sức mạnh, sức bền Một số tác giả sử dụng mộttest để đánh giá TĐTL như Cooper (test Cooper), test PWC 170, Step testHarvard,Cooper K>(1950) cho rằng: sức bền chung trong hoạt động TDTT đãđồng thời phản ánh trình độ TLC của con người
Nhiều tác giả đã sử dụng từ 3 đến 5 chỉ tiêu để đánh giá TĐTL thườngtheo hình thức mỗi một TCTL, thì sử dụng một chỉ tiêu để đánh giá Vôncốp V.I
Trang 40(1987) sử dụng chỉ tiêu chạy 100m, chạy 1000m và bật xa tại chỗ (đối với nam);chạy 100m, chạy 500m và bật xa tại chỗ ( đối với nữ) để đánh giá trình độ TLCcủa nam và nữ lứa tuổi 17 Ở Tiệp Khắc (1987), đã sử dụng 4 test để đánh giátrình độ thể lực của nhân dân từ 6 – 60 tuổi bao gồm: nằm ngửa ngồi dậy, bật xatại chỗ, nằm sấp co duỗi tay và test Cooper ở Nhật Bản (1993) đã quy định testkiểm tra thể lực cho mọi người từ 4 đến 64 tuổi bao gồm: Bật xa tại chỗ, ngồigập thân trong 30 giây, nằm sấp co duỗi tay, chạy con thoi cự ly 5 m trong 15giây và chạy 5 phút tính quãng đường [18], [19], [29].
Đa phần tác giả sử dụng tổ hợp test từ 4 chỉ tiêu trở lên để đánh giá TĐTLcho các đối tượng Theo các tác giả, sử dụng hai hay nhiều test đánh giá mộtTCTL, theo hình thức sử dụng test tương đương, cho phép đánh giá chính xác,khách quan TĐTL của đối tượng nghiên cứu Hình thức sử dụng hai hay nhiềutest đánh giá một TCTL thì hầu như đều sử dụng hai test đánh giá sức mạnh:Một test đánh giá sức mạnh của hai tay, test đánh giá sức mạnh của hai chân
Ở nước ta, các nhà sư phạm đã nghiên cứu đánh giá TĐTL bằng các tổhợp test sư phạm như Lê Định Du và cộng sự (1973), Phạm Khắc Học, Vũ BíchHuệ, Đỗ Trọng Xanh 1978 – 1980), Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Hồng Minh(1984), Trần Đồng Lâm, Vũ Đào Hùng, Vũ Bích Huệ (1984)…
Vũ Đức Thu (1989) đã tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễnnhằm cải tiến chương trình GDTC trong các Trường đại học, đã xây dựng được
tổ hợp chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá TĐTL của sinh viên Trên cơ sở cácchuẩn mực được nghiên cứu, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã banhành tiêu chuẩn RLTL cho học sinh các trường đại học và cao đẳng trong cảnước, theo quyết định 203/QĐ - TDTT ngày 23/1/1989
Tập thể tác giả (BGD&ĐT, Tổng cục TDTT) (1973 – 1975), Vũ Đức Thu(1989), Nguyễn Xuân Sinh (1993), Đỗ Đình Kháng (1994), Nguyễn Mạnh Dần(1997), Nguyễn Đại Dương(1999), Lưu Quang Hiệp (2000) đã có những côngtrình nghiên cứu đánh giá TĐTL của học sinh, sinh viên nước ta và đã phát hiện