Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên,Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã thực tập theo chươn
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành Quản lí đất đai :
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành Quản lí đất đai :
Giảng viên hướng dẫn TS Vũ Thị Thanh Thủy :
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của một sinh viên trước khi hoàn thành chương trình đào tạo Thực tập giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, có cơ hội tiếp cận và thực hành với công việc trong thực tế, qua đó giúp sinh viên tích lũy thêm kỹ năng và kinh nghiệm với công việc trong tương lai
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên,Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã thực tập theo chương trình thực tập sinh của Trung tâm đào tạo
và phát triển quốc tế ITC tại trang trại: Mashahito Shinohara Nhật Bản từ ngày
15/4/2017 đến ngày 10/11/2017 với tên đề tài : “HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA MỘT
SỐ MÔ HÌNH SẢN XUẤT KINH TẾ TẠI LÀNG KAWAKAMI MURA NHẬT
BẢN”
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, nay em đã hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Để có được kết quả này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa, và đặc biệt là sự tận tình giúp đỡ của cô giáo TS Vũ Thị Thanh Thủy đã trực tiếp hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp, cũng như sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của ông chủ và người lao động Nhật Bản; các thầy giáo,cô giáo đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ em tiếp cận công việc thực tế, hoàn thành tốt kỳ thực tập và khóa luận tốt nghiệp
Trong suốt thời gian thực tập và làm khóa luận em đã cố gắng hết mình nhưng
do kinh nghiệm thực tế chưa có nhiều, kiến thức và thời gian thực tập có hạn; bước đầu tiếp cận, làm quen công việc thực tế và phương pháp nghiên cứu nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và bạn bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 12 năm 2017
Sinh viên
Nông Văn Kiên
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Số dân năm 2016 36
Bảng 4.2 Số dân sản xuất nông nghiệp năm 2016 36
Bảng 4.3 Thu nhập của người dân làng Kawakami 36
Bảng 4.4 Cơ cấu diện tích đất canh tác của làng Kawakami năm 2016 37
Bảng 4.5 Số lượng xuất khẩu rau của làng Kawakami năm 2016 38
Bảng 4.6 Giá trị kinh tế thu được sản lượng rau bán ra năm 2016 39
Bảng 4.7 Tổng thu và tiêu thụ sản lượng sản xuất rau làng Kawakami qua 3 cơ sở 39 Bảng 4.8 Tỷ lệ chiếm (%) qua 3 cơ sở về sản lượng sản xuất rau
của làng Kawakami 40
Bảng 4.9 Lượng phân bón để trộn với đất trước khi lên luống trồng rau 45
Bảng 4.10 Lượng xuất khẩu rau của trang trại MASHAHITO SHINOHARA 50
Bảng 4.11 Tổng chi phí và tổng doanh thu cho một vụ mùa sản xuất
của trang trại MASHAHITO SHINOHARA 50
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ về đất nước Nhật Bản 4
Hình 1.2: Biểu đồ thể hiện đặc trưng khí hậu tại một số thành phố lớn
theo Cục Khí Tượng Thủy Văn Nhật Bản 9
Hình 1.3: Biểu đồ tuổi thọ dân số và giới tính Nhật Bản năm (2010)
Hình 1.4: Hệ thồng nhà kính 18
Hình 1.5: Máy móc sản xuất phân bón 19
Hình 1.6: Máy móc trong sản xuất nông nghiệp 20
Hình 1.7: Thu hoạch và sau thu hoạch 22
Hình 4.1: Con đường đi từ thủ đô Tokyo đến làng Kawakami 34
Hình 4.2.: Hai loại rau xà lách xanh và xà lách tía được trồng
xen kẽ nhau trên một quy mô diện tích 41
Hình 4.3: Lựa chọn hạt giống 42
Hình 4.4: Phân tích mẫu đất 43
Hình 4.5: Phủ bạt nilon giữ ẩm cho đất 43
Hình 4.6: Hạt giống được chăm sóc trong tủ nhiệt độ khoảng 1-2 ngày 44
Hình 4.7: Ươm giống để cây phát tiển trong nhà kính 45
Hình 4.8 Quản lý câu trồng 47
Hình 4.9: Thu hoạch rau lúc 6h sáng 48
Hình 4.10: Thu hoạch rau lúc 2h đêm 49
Hình 4.11: Rau được trở đi sau thu hoạch để cho vào kho chứa 49
Trang 6MỤC LỤC
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về đất nước Nhật Bản 4
2.1.1 Giới thiệu chung 4
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 5
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 10
2.2 Tổng quan về nền nông nghiệp Nhật Bản 16
2.3 Cơ sở khoa học của đánh giá hiệu quả sử dụng đất 22
2.3.1 Cơ sở lý luận 22
2.3.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân 23
2.4 Quan điểm về hiệu qủa sử dụng đất nông nghiệp 25
2.4.1 Quan điểm sử dụng đất bền vững 25
2.4.2 Vấn đề hiệu quả sử dụng đất và các nhân tố ảnh hưởng
đến hiệu quả sử dụng đất 26
2.5 Những nghiên cứu trên thế giới về hiệu quả sử dụng đất 30
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng nghiên cứu 32
3.2 Thời gian nghiên cứu 32
3.3 Nội dung nghiên cứu 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
3.4.1 Thu thập số liệu thứ cấp 32
3.4.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu 34
Trang 74.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 35
4.2 Thực trạng sản xuất, xuất khẩu và giá trị kinh tế rau của làng Kawakami 36
4.2.1 Khái quát chung về làng Kawakami 36
4.2.2 Thực trạng xuất khẩu rau 37
4.3 Đánh giá hiệu quả sản xuất rau của trang trại MASHAHITO SHINOHARA 40
4.3.1 Quy mô, diện tích 40
4.3.2 Loại cây trồng trong trang trại 41
4.4 Những thuận lợi và khó khăn về giải pháp khi áp dụng mô hình
sản xuất rau ở Nhật Bản vào Việt Nam 51
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
Trang 8Phần 1: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Đất là tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người,
là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và tất cả các sinh vật khác trên trái đất; là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Đất đai đóng vai trò quan trọng trong mọi quá trình sản xuất của các ngành kinh tế và hoạt động của con người Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp đất là tư liệu sản xuất không thể thay thế được Hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm cơ sở cho sự phát triển của các ngành khác
Song đất đai lại là nguồn tài nguyên không thể tái tạo được, nó cố định về
vị trí, hạn chế về số lượng và giới hạn về diện tích Thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa con người chỉ chú trọng phát triển các ngành công – dịch vụ mà quên mất ngành nông nghiệp truyền thống, ngành tạo ra lương thực thực phẩm nuôi sống con người Việc phát triển cơ sở hạ tầng, các khu dự án, nhà máy công nghiệp đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp cùng với sự tác động của thiên tai và quá trình canh tác của con người đã làm cho đất ngày càng suy thoái Do đó, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý đầy đủ và đem lại hiệu quả cao theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết của xã hội
Mỗi quốc gia, mỗi địa phương có một quỹ đất đai khác nhau, vị trí địa lý, địa hình, khí hậu khác nhau; vì vậy tính chất ở mỗi nơi là không giống nhau, điều đó đã tạo sự khác nhau cũng như đặc trưng về nền nông nghiệp cho từng vùng, từng quốc gia “sự phát triển thần kỳ” về nông nghiệp Bất chấp điều kiện địa lý khá phức tạp cho nông nghiệp, Nhật Bản là một nhà xuất khẩu lớn của
Trang 9thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp nông nghiệp đã cung cấp 70% lượng nông sản xuất khẩu cho Nhật Bản.Sự phát triển thần kỳ của đất nước Nhật Bản như một bài học quý, tạo động lực mạnh mẽ để sinh viên, thế hệ trẻ của Việt Nam không ngừng quyết tâm rèn luyện, học tập nhiều hơn nữa đặc biệt là ở tại những quốc gia tiên tiến trên thế giới, áp dụng những kỹ thuật hiện đại vào phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp
Được sự đồng ý của khoa Quản lý đất đai trường đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Ts Vũ Thị Thanh
Thủy, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiệu quả kinh tế của một số mô hình
sản xuất kinh tế tại làng Kawakami mura Nhật Bản”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Thực trạng sản xuất rau xà lách tại làng Kawakami
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội tại trang trại Mashahito Shinohara
- Tìm ra các giải pháp trong sử dụng đất nông nghiệp ứng dụng được ở Việt Nam
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường làm quen với thực tế
- Nâng cao kiến thức thực tế
- Tích luỹ được kinh nghiệm phục vụ cho công việc sau này
- Bổ sung tư liệu cho học tập
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Để góp phần bảo vệ bền vững và hiệu quả đất nông nghiệp thì công tác xây dựng báo cáo hiện trạng đất sản xuất là rất cần thiết, nhằm giúp cho chủ trang trại, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách về kinh tế, về đất đai chủ động nắm vững diễn biến đất nông nghiệp tại từng nơi, từng khu vực
Trang 10- Biết được mặt mạnh, mặt yếu kém, những khó khăn và tồn tại trong công tác quản lý, sử dụng tài đất nông nghiệp ở trang trại
- Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất hợp lí, hiệu quả sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của trang trại trên cơ sở phát triển bền vững
Trang 11Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về đất nước Nhật Bản
2.1.1 Giới thiệu chung
Hình 1.1: Sơ đồ về đất nước Nhật Bản
Dân số: 127 triệu người (năm 2010), xếp thứ 10 trên thế giới
Thể chế: quân chủ lập hiến và cộng hoà đại nghị
Thủ đô: Tokyo
Các thành phố lớn: thủ đô Tokyo, Nagoya, Osaka, Fukuoka, Hiroshima,
Sapporo, Kyoto, Naha
Đơn vị tiền tệ: đồng Yên Nhật (JPY), 1JPY ~ 270 VND
GDP bình quân: đứng thứ 2 trên thế giới
Quốc kỳ: có tên là Nisshoki hay còn được gọi là Hinomaru (vầng mặt trời)
Trang 12Quốc ca: tên gọi là Kimi Ga Yo
Quốc hoa: Hoa anh đào (sakura) được mệnh danh là “hồn hoa xứ Phù Tang”) Bốn hòn đảo chính: Hokkaido, Honshu, Kyushu và Okinawa
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
2.1.2.1 Vị trí địa lí
Nhật Bản nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương, do bốn quần đảo độc lập hợp thành Bốn quần đảo đó là: quần đảo Kuril (Nhật Bản
gọi là quần đảo Chishima), quần đảo Nhật Bản, quần đảo Ryukyu, và quần
đảo Izu-Ogasawara Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana
Vì là một đảo quốc, nên xung quanh Nhật Bản toàn là biển Nhật Bản không tiếp giáp quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền Tuy nhiên, bán đảo
Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo
lý Đường bờ biển của Nhật Bản có tổng chiều dài là 33.889 km
Trang 13Nhật Bản có vị trí nằm ở phía Đông của châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương Phần chính của Nhật Bản được cấu thành từ bốn đảo lớn là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu
・ Diện tích: 377.944 km², đứng hàng 62 trên thế giới
・ Lãnh hải: 3.091 km²
・ Biển của Nhật Bản có tổng chiều dài là 33.889 km
Nhật Bản là một đảo quốc hoàn toàn không tiếp giáp với quốc gia hay lãnh thổ nào trên đất liền Tuy nhiên, bán đảo Triều Tiên và bán đảo Sakhalin (Nhật Bản gọi là Karafuto) chỉ cách các đảo chính của Nhật Bản vài chục km Xung quanh Nhật Bản là một loạt các biển thông nhau
+ Phía Đông và phía Nam: Thái Bình Dương
+ Phía Tây Bắc: Biển Nhật Bản
+ Phía Tây: Biển Đông Hải
+ Phía Đông Bắc: Biển Okhotsk
+ Vùng biển xung quanh các quần đảo Izu, Ogasawara, Nansei: biển Philippines theo cách gọi của thế giới, song các văn kiện của chính phủ Nhật Bản vẫn chỉ gọi đó là Thái Bình Dương
+ Vùng biển nằm giữa Honshu và Shikoku gọi là biển Seito Naikai
Những quốc gia và lãnh thổ lân cận ở vùng biển Nhật Bản là Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc; ở vùng biển Đông Hải là Trung Quốc, Đài Loan; đi xa hơn về phía Nam là Philippines và quần đảo Bắc Mariana
Xét theo kinh độ và vĩ độ, các điểm cực của Nhật Bản như sau:
+ Điểm cực Đông: Đảo Minami Tori-shima
+ Điểm cực Tây: Mũi Irizaki
+ Điểm cực Nam: Đảo Okino Tori-shima
+ Điểm cực Bắc: Mũi Kamoiwakka (hiện đang trong tình trạng tranh chấp,
vì cả Nhật và Nga đều tuyên bố chủ quyền với đảo Iturup (trong tiếng Nhật là Etorofu-to)
Trang 14+ Nơi cao nhất Nhật Bản: Núi Phú Sĩ (cao 3.776m)
+ Thấp nhất Nhật Bản: Hachinohe mine (sâu 160m do nhân tạo) và hồ Hachirogata (sâu 4m một cách tự nhiên)
Các quần đảo của Nhật Bản hình thành do các đợt vận động tạo núi và có
từ cách đây lâu nhất là 2,4 triệu năm nên xét về mặt địa chất học, như vậy là rất trẻ Do đó, Nhật Bản có đặc trưng tự nhiên là nhiều núi lửa và động đất Mỗi năm Nhật Bản chịu khoảng 1.000 trận động đất Các hoạt động địa chấn này đặc biệt tập trung vào vùng Kanto Động đất cấp 3, 4 xảy ra thường xuyên và cấp 7 - 8 cũng đã từng xảy ra
Động đất là mối đe dọa lớn nhất đối với Nhật Bản nên chính phủ Nhật mỗi năm đã phải bỏ ra hàng tỉ Yên Nhật để tìm kiếm một hệ thống báo động sớm về động đất, và khoa học địa chấn tại Nhật Bản được coi là tiến bộ nhất trên thế giới
Nhật Bản có 186 núi lửa còn hoạt động trong đó có núi Phú Sĩ Đi kèm với
núi lửa là các suối nước nóng cũng có rất nhiều ở Nhật Bản
2.1.2.2 Địa hình, địa mạo
Có thể gọi Nhật là một Sơn quốc nghĩa là một quốc gia của núi Dù nhỏ hơn bang California của Mỹ, 67% địa hình của Nhật là núi, chỉ có 13% địa hình
là đồng bằng Các dòng sông bắt nguồn từ những địa hình núi đó tạo ra nhiều thung lũng và làm cho địa hình biến đổi rất phong phú Ở các cửa sông, các đồng bằng hình cánh quạt được tạo ra nhưng trừ các đồng bằng Kanto (Quan Đông), đồng bằng Osaka, đồng bằng Nobi ra, tất cả đều là đồng bằng nhỏ Bờ biển Nhật Bản cực kì dài, khoảng 34 nghìn km Sự phức tạp trong việc hình thành bờ biển làm cho phong cảnh trở nên đẹp một cách hùng vĩ từ vùng này
Trang 15bao gồm Okinawa, là một chuỗi các hòn đảo phía nam Kyūshū Cùng với nhau,
nó thường được biết đến với tên gọi "Quần đảo Nhật Bản"
Khoảng 70%-80% diện tích Nhật Bản là núi, loại hình địa lý không hợp cho nông nghiệp, công nghiệp và cư trú Có điều này là do độ cao dốc so với mặt nước biển, khí hậu và hiểm họa lở đất gây ra bởi những cơn động đất, đất mềm và mưa nặng Điều này đã dẫn đến một nền mật độ dân số rất cao tại các vùng có thể sinh sống được, chủ yếu nằm ở các vùng eo biển Nhật Bản là quốc gia có mật độ dân số lớn thứ 30 trên thế giới
Vị trí nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương, nằm ở điểm nối của ba vùng kiến tạo địa chất đã khiến Nhật Bản thường xuyên phải chịu các dư trấn động đất nhẹ cũng như các hoạt động của núi lửa Các cơn động đất có sức tàn phá, thường dẫn đến sóng thần, diễn ra vài lần trong một thế kỷ Những cơn động đất lớn gần đây nhất là động đất Chūetsu năm 2004 và đại động đất Hanshin năm 1995 Vì các hoạt động núi lửa diễn ra thường xuyên nên quốc gia này có vô số suối nước nóng và các suối này đã và đang được phát triển thành các khu nghỉ dưỡng
Khí hậu Nhật Bản phần lớn là ôn hòa, nhưng biến đổi từ Bắc vào Nam Đặc điểm địa lý Nhật Bản có thể phân chia thành 6 vùng khí hậu chủ yếu:
Hokkaidō: Vùng cực bắc có khí hậu ôn hòa với mùa đông dài và lạnh, mùa hè mát mẻ Lượng mưa không dày đặc, nhưng các đảo thường xuyên
bị ngập bởi những đống tuyết lớn vào mùa đông
Biển Nhật Bản: Trên bờ biển phía tây đảo Honshū', gió Tây Bắc vào thời điểm mùa đông mang theo tuyết nặng Vào mùa hè, vùng này mát mẻ hơn vùng Thái Bình Dương dù đôi khi cũng trải qua những đợt thời tiết rất nóng bức do hiện tượng gió Phơn
Cao nguyên trung tâm: Một kiểu khí hậu đất liền điển hình, với sự khác biệt lớn về khí hậu giữa mùa hè và mùa đông, giữa ngày và đêm Lượng mưa nhẹ
Biển nội địa Seto: Các ngọn núi của vùng Chūgoku và Shikoku chắn cho vùng khỏi các cơn gió mùa, mang đến khí hậu dịu mát cả năm
Trang 16 Biển Thái Bình Dương: Bờ biển phía đông có mùa đông lạnh với ít tuyết, mùa hè thì nóng và ẩm ướt do gió mùa Tây Nam
Quần đảo Tây Nam: Quần đảo Ryukyu có khí hậu cận nhiệt đới, với mùa đông ấm và mùa hè nóng Lượng mưa nặng, đặc biệt là vào mùa mưa Bão ở mức bình thường
Nhiệt độ nóng nhất đo được ở Nhật Bản là 40,9 °C - đo được vào 16 tháng
8 năm 2007
Mùa mưa chính bắt đầu từ đầu tháng 5 tại Okinawa; trên phần lớn đảo Honshū, mùa mưa bắt đầu từ trước giữa tháng 6 và kéo dài 6 tuần Vào cuối hè
và đầu thu, các cơn bão thường mang theo mưa nặng
Nhật Bản là quê hương của chín loại sinh thái rừng, phản ánh khí hậu và địa lý của các hòn đảo Nó trải dài từ những rừng mưa nhiệt đới trên quần đảo Ryukyu và Bonin tới các rừng hỗn hợp và rừng ôn đới lá rụng trên các vùng khí hậu ôn hòa của các đảo chính, tới rừng ôn đới lá kim vào mùa đông lạnh trên các phần phía bắc các đảo
Hình 1.2:Biểu đồ thể hiện đặc trưng khí hậu tại một số thành phố lớn theo Cục Khí Tượng Thủy Văn Nhật Bản
Trang 17Thủy văn
Sông Tone (kanji: 利根川, rōmaji: Tonegawa, phiên âm Hán-Việt: Lợi Căn
Xuyên) là một dòng sông ở Nhật Bản, bắt nguồn từ núi Ōminakami, chảy
từ phía Bắc sang phía Đông của vùng Kantō, đổ ra Thái Bình Dương ở địa phận thành phố Chōshi tỉnh Chiba, riêng phân lưu Edo của nó chảy qua Tōkyō và đổ vào vịnh Tōkyō ở địa phần thành phố Ichikawa tỉnh Chiba Đây là sông có chiều dài hàng thứ hai và lưu vực rộng lớn hàng thứ nhất ở Nhật Bản, đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh tế của vùng thủ đô Tōkyō, nhất là thủ đô Tōkyō Tone là một trong những sông tiêu biểu ở Nhật Bản
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Kinh tế
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu Tuy nhiên, nhờ công cuộc Minh Trị duy tân cũng như việc chiếm được một số thuộc địa, vào trước Thế Chiến thứ Hai, quy mô kinh tế Nhật Bản đã đạt mức tương đương với các cường quốc châu Âu Năm 1940, tổng sản lượng kinh tế (GDP) của Nhật bản (quy đổi theo thời giá USD năm 1990) đã đạt 192 tỷ USD, so với Anh là 316 tỷ USD, Pháp là 164 tỷ USD, Italy là 147 tỷ USD, Đức là 387
tỷ USD, Liên Xô là 417 tỷ USD
Sau Thế Chiến 2, kinh tế Nhật bản bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954) và triển cao độ (1955-1973) làm thế giới phải kinh ngạc Người ta gọi đó là "Thần kì Nhật Bản" Tuy nhiên, từ năm 1974 tới 1989, kinh tế tăng trưởng chậm lại, và đến năm 1990 thì lâm vào khủng hoảng trong suốt 10 năm Người Nhật gọi đây là Thập niên mất mát
Nhật Bản đang xúc tiến 6 chương trình cải cách lớn trong đó có cải cách
cơ cấu kinh tế, giảm thâm hụt ngân sách, cải cách khu vực tài chính và sắp xếp lại cơ cấu chính phủ, Cải cách hành chính của Nhật được thực hiện từ tháng 1
Trang 18năm 2001 Dù diễn ra chậm chạp nhưng cải cách đang đi dần vào quỹ đạo, trở thành xu thế không thể đảo ngược ở Nhật Bản và gần đây đã đem lại kết quả đáng khích lệ, nền kinh tế Nhật đã phục hồi và tăng trưởng trở lại, tuy nhiên trong giai đoạn 2001-2015, kinh tế Nhật vẫn chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng rất chậm, trung bình chỉ dưới 1% mỗi năm
Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp tục là một nước có nền kinh tế lớn đứng thứ ba trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Trung Quốc) Trong 20 năm (từ 1990 tới 2010), Nhật Bản luôn giành vị trí thứ hai về kinh tế nhưng đã bị Trung Quốc vượt qua từ đầu năm 2010 Tổng sản phẩm nội địa (GDP) tính đến năm 2016 là 4.730 tỷ USD, GDP trên đầu người
là 40,090 USD (2017), đứng thứ 3 thế giới và đứng thứ hai châu Á (sau Trung Quốc) Cán cân thương mại thặng dư và dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư của Nhật bản ra nước ngoài rất nhiều, là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới Đơn vị tiền tệ là: đồng yên Nhật Dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản, bán lẻ, giao thông, viễn thông tất cả đều là ngành công nghiệp lớn của Nhật Bản, Nhật Bản có năng lực rất lớn về công nghiệp, và đây là trụ sở của nhiều nhà sản xuất công nghệ tiên tiến bậc nhất thế giới về các sản phẩm xe có động cơ, trang thiết bị điện tử, công cụ máy móc, thép, phi kim loại, công nghiệp tàu thủy, hóa học, dệt may, thức ăn chế biến Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn đa quốc gia và nhiều mặt hàng thương mại trong lĩnh vực công nghệ và máy móc Xây dựng từ lâu đã trở thành một trong những nền công nghiệp lớn nhất của Nhật Bản
Nhật Bản là trụ sở của một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới, tập đoàn tài chính Mitsubishi UFJ (Mitsubishi UFJ Financial Group) với số vốn ước tính lên đến 3.500 tỉ Yên (2013) Nhật Bản cũng là nơi có thị trường chứng khoán lớn thứ hai thế giới - thị trường chứng khoán Tokyo với khoảng 549.7 nghìn tỉ yên vào tháng 12/2006 Đây cũng là trụ sở của một số công ty dịch vụ
Trang 19tài chính, những tập đoàn kinh doanh và những ngân hàng lớn nhất thế giới Ví
dụ như những tập đoàn kinh doanh và công ty đa quốc gia như Sony, Sumitomo, Mitsubishivà Toyota sở hữu hàng tỉ và hàng nghìn tỷ đô
la đang hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, nhóm các nhà đầu tư hoặc dịch vụ tài chính như ngân hàng Sumitomo, ngân hàng Fuji, ngân hàng Mitsubishi, các định chế tài chính của Toyota và Sony
Những đối tác xuất khẩu chính của Nhật là Hoa Kỳ 22.9%, Trung Quốc 13.4%, Hàn Quốc 7.8%, Đài Loan 7.3% và Hồng Kông 6.1% (2005) Những mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật là thiết bị giao thông vận tải, xe cơ giới, hàng điện tử, máy móc điện tử và hóa chất Do hạn chế về tài nguyên thiên nhiên để duy trì sự phát triển của nền kinh tế, Nhật Bản phải phụ thuộc vào các quốc gia khác về phần nguyên liệu vì vậy đất nước này nhập khẩu rất nhiều loại hàng hóa đa dạng Đối tác nhập khẩu chính của Nhật là Trung Quốc 21%[55], Hoa Kỳ 12.7%, A Rập Xê Út 5.5%, UAE 4.9%, Australia 4.7%, Hàn Quốc 4.7% và Indonesia 4% (số liệu 2005) Những mặt hàng nhập khẩu chính của Nhật Bản là máy móc, thiết bị, chất đốt, thực phẩm (đặc biệt là thịt bò), hóa chất, nguyên liệu dệt may và những nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của đất nước Nhìn chung, Đối tác buôn bán tổng thể lớn nhất của Nhật Bản là Trung Quốc
Từ giai đoạn 1960 đến 1980, tốc độ phát triển kinh tế Nhật Bản được gọi là
"sự thần kì": tốc độ phát triển kinh tế trung bình 10% giai đoạn 1960, trung bình 5% giai đoạn 1970 và 4% giai đoạn 1980 Giá trị tổng sản lượng công nghiệp tăng từ 4,1 tỷ USD năm 1950 lên 56,4 tỷ USD năm 1969 So với năm
1950, năm 1973 giá trị tổng sản phẩm GDP của Nhật tăng hơn 20 lần, từ 20 tỷ USD lên 402 tỷ USD, vượt Anh, Pháp, CHLB Đức, chỉ kém hơn Hoa
Kỳ và Liên Xô
Sự phát triển rất nhanh của nền kinh tế Nhật Bản trong giai đoạn
1952-1973 bắt nguồn từ một số nguyên nhân cơ bản sau:
Trang 20Nhân tố lịch sử: Kể từ Minh Trị duy tân đến trước Thế Chiến thứ 2, Nhật Bản đã có 70 năm phát triển đất nước theo mô hình hiện đại và đã trở thành cường quốc số 1 châu Átrong thập niên 1930 Dù bị tàn phá nặng nề trong Thế Chiến, nhưng những nhân tố và kinh nghiệm quý báu của Nhật Bản vẫn còn nguyên vẹn, họ có thể tận dụng kinh nghiệm này để nhanh chóng xây dựng lại nền kinh tế
Nhân tố con người: trước Thế Chiến thứ 2, Nhật Bản đã có đội ngũ chuyên gia khoa học và quản lý khá đông đảo, có chất lượng cao Dù bại trận trong Thế Chiến 2 nhưng lực lượng nhân sự chất lượng cao của Nhật vẫn còn khá nguyên vẹn, họ đã góp phần đắc lực vào bước phát triển nhảy vọt về kỹ thuật và công nghệ của đất nước Người Nhật được giáo dục theo những luân lý của Nho giáo với những đức tính cần kiệm, kiên trì, lòng trung thành, tính phục tùng… vẫn được đề cao Nhờ đó, giới quản lý Nhật Bản đã đặc biệt thành công trong việc củng cố kỷ luật lao động, khai thác sự tận tụy và trung thành của người lao động
Mức tích lũy cao thường xuyên, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả cao: những năm 1950, 1960, tiền lương nhân công ở Nhật rất thấp so với các nước phát triển khác (chỉ bằng 1/3 tiền lương của công nhân Anh và 1/7 tiền lương công nhân Mỹ), đó là nhân tố quan trọng nhất để đạt mức tích lũy vốn cao và
hạ giá thành sản phẩm Ngoài ra, Nhật Bản đã chú ý khai thác và sử dụng tốt nguồn tiết kiệm cá nhân Từ 1961-1967, tỷ lệ gửi tiết kiệm trong thu nhập quốc dân là 18,6% cao gấp hơn hai lần của Mỹ (6,2%) và Anh (7,7%)
Nhật Bản không có quân đội nên có thể giảm chi phí quân sự xuống mức dưới 1% tổng sản phẩm quốc dân, nguồn lực đó có thể chuyển sang phát triển kinh tế
Tiếp cận và ứng dụng nhanh chóng những tiến bộ khoa học-kỹ thuật: trước Thế Chiến thứ 2, Nhật Bản đã là một cường quốc về khoa học, công nghệ Sau chiến tranh, nhân tố này tiếp tục được phát huy
Trang 21Tình hình quốc tế có nhiều thuận lợi: Trong các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam, Chính phủ Mỹ đã có hàng loạt đơn đặt hàng với các công ty của Nhật Bản về trang bị, khí tài và các đồ quân dụng khác Từ năm 1950 đến
1969, Nhật Bản đã thu được 10,2 tỷ USD các đơn đặt hàng của Mỹ (tương đương 70 tỷ USD theo thời giá 2015) Trong giai đoạn này, 34% tổng giá trị hàng xuất khẩu sang Mỹ và 30% giá trị hàng nhập của Nhật là từ thị trường
Mỹ Có thể nói nhu cầu về hàng hóa của Mỹ cho các cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam là hai “ngọn gió thần” đối với nền kinh tế Nhật Bản
Tuy nhiên, nền kinh tế Nhật Bản cũng đã phải đối mặt với những mâu thuẫn gay gắt:
Sự phát triển của nền kinh tế Nhật Bản phụ thuộc nhiều vào bên ngoài cả
về thị trường tiêu thụ hàng hóa và nguồn cung cấp nguyên liệu Khi giá nguyên liệu tăng, kinh tế bị tác động mạnh
Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt do các công ty vì chạy theo lợi nhuận nên đã hạn chế những chi phí cho phúc lợi xã hội, duy trì lề lối làm việc khắc nghiệt khiến người làm công bị áp lực nặng nề, dẫn tới nạn tự sát và thanh niên ngại kết hôn và sinh con Về lâu dài, mâu thuẫn này sẽ phát tác làm kinh tế dần trì trệ đi (tới cuối thế kỷ XX, tình trạng lão hóa dân số đã thực sự trở thành vấn đề nghiêm trọng tại Nhật Bản)
Dấu hiệu tăng trưởng có phần chững lại vào thập niên 1980, và đến những năm 1990 thì lâm vào trì trệ, tăng trưởng trung bình chỉ đạt 1.7%, chủ yếu do những tác động của việc đầu tư không hiệu quả và do dư chấn của bong bóng bất động sản vào những năm 1980 đã làm cho các cơ sở sản xuất và kinh doanh mất một thời gian dài tái cơ cấu về nợ quá hạn, vốn tư bản và lực lượng lao động Tháng 11/2007, nền kinh tế Nhật đã chấm dứt đà tăng trưởng kéo dài liên tục 69 tháng kể từ năm 2001 và chính thức suy thoái vào năm 2008 khi GDP giảm 3%, mức lãi suất ngân hàng trung ương hạ đến mức 0% vào đầu năm
2009 Chương trình tư nhân hóa 10 năm ngành bưu điện Nhật vốn không chỉ
Trang 22nhắm đến các hoạt động của hệ thống bưu chính quốc gia mà còn với các cơ sở ngân hàng và bảo hiểm trực thuộc đã hoàn tất vào tháng 10/2007, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tái cấu trúc ngành này của chính phủ
Không giống như tình hình ở các nước phương Tây, khu vực tài chính Nhật không chịu ảnh hưởng mạnh từ cuộc Khủng hoảng cho vay thế chấp nhưng do đối mặt với sự sụt giảm mạnh về khối lượng đầu tư cũng như nhu cầu trước các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của Nhật ở nước ngoài vào cuối năm 2008, đã đẩy nước này vào vòng suy thoái nhanh hơn Tình trạng nợ công quá lớn (chiếm 229% GDP theo số liệu của năm 2015) và tỉ lệ dân số có tuổi quá cao là hai vấn đề đầy thách thức với Nhật Bản về dài hạn Hiện tại những tranh cãi xung quanh vai trò và hiệu quả của các chính sách vực dậy nền kinh tế
là mối quan tâm lớn của người dân lẫn chính phủ nước này Nhìn chung, trong giai đoạn 2005-2015, kinh tế Nhật chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng rất chậm, trung bình 1% mỗi năm Kinh tế Nhật đã bị Trung Quốc vượt qua trong giai đoạn này, và nếu tiếp tục tăng trưởng chậm như vậy thì trong 10 năm tới, Indonesia và Nga sẽ vượt qua Nhật về tổng GDP theo sức mua tương đương
Giao thông
2.1.3.2 Giao thông
Tại các thành phố lớn tại Nhật Bản, phương tiện giao thông phổ biến nhất
là tàu điện và tàu điện ngầm Tàu điện và tàu điện ngầm rất thuận tiện và đúng giờ
Bên cạnh đó, một số người cũng sử dụng xe buýt Tuy nhiên xe buýt không tiện lợi so với các phương tiện trên do có số lượng chuyến không nhiều
và có khả năng không đúng giờ vào những giờ cao điểm
Giá dịch vụ taxi ở Nhật tương đối đắt Cước phí được tính theo km và thay đổi theo giờ; buổi tối đắt hơn giá ban ngày Ngoài ra, xe đạp là phương tiện khá tiện lợi và kinh tế
Trang 232.1.3.3 Xã hội
Với tỷ lệ sinh thấp và tuổi thọ cao, tình trạng lão hóa dân số một cách nhanh chóng thời gian gần đây trở thành vấn đề nghiêm trọng với Nhật Dân số giảm liên tiếp kể từ năm 2007, trong khi số người cao tuổi lần đầu tiên chiếm 1/4 tổng dân số Tới ngày 1-10-2013, dân số Nhật Bản đã giảm 0,17% (khoảng 217.000 người) xuống còn 127.298.000 người, trong đó tính cả người nước ngoài cư trú lâu dài tại Nhật Bản Nhóm người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) tăng thêm 1,1 triệu người lên 31,9 triệu người, chiếm 25,1% dân số Nhật Bản Trong khi đó, năm 2013, số ca sinh mới ở nước này giảm khoảng 6.000 ca so với 1 năm trước đó Năm 2014, số lượng người già trên 65 tuổi đã cao gấp đôi so với
số lượng trẻ em dưới 14 tuổi
Trước thực trạng lão hóa dân số đáng báo động, Chính phủ Nhật Bản đưa
ra cảnh báo, vào năm 2060 gần 40% dân số nước này là người cao tuổi Tình trạng dân số lão hóa không chỉ kéo theo gánh nặng về trợ cấp an sinh xã hội khi
số người nhận lương hưu ngày một tăng, mà còn là trở ngại lớn với đà phục hồi tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản khi mà lực lượng lao động trẻ ngày càng ít đi Nhật Bản là một trong những nước có tuổi thọ dân số cao nhất thế giới, trung bình là 81,25 tuổi cho năm 2006 Tuy nhiên, dân số nước này đang lão hóa do hậu quả của sự bùng nổ dân số sau Chiến tranh thế giới thứ hai Năm 2004, 19,5% dân số Nhật trên 65 tuổi
2.2 Tổng quan về nền nông nghiệp Nhật Bản
Là một nền kinh tế thị trường phát triển Năm 2016, quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP danh nghĩa lớn hàng thứ ba trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua thì lớn thứ
tư sau Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ
Trải qua nhiều biến động trong suốt lịch sử, cuối cùng, kinh tế Nhật Bản
đã và đang tăng trưởng, nhưng cũng nảy sinh không ít vấn đề Vào thế kỉ 16 -
17, kinh tế Nhật Bản chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước và đánh bắt cá đầu
Trang 24thế kỉ 20, các ngành công nghiệp được ưa chuộng và phát triển nhất
là sắt thép, đóng tàu, chế tạo vũ khí, sản xuất xe cộ Do nhu cầu tài nguyên để phục vụ các ngành này, quân đội Nhật Bản bắt đầu bành trướng và xâm chiếm nước ngoài Trong số những vùng mà Nhật chiếm được, đáng chú ý nhất
là Mãn Châu Lý của Trung Quốc và Triều Tiên
Trong thế chiến 2, mặc dù ưu thế ban đầu nghiêng về Nhật Bản Tuy nhiên, đến năm 1945, nước này nằm trong tầm ném bom của đối phương Máy bay ném bom của quân Đồng minh đã tàn phá nhiều thành phố Đáng chú ý nhất là vụ ném bom nguyên tử Hiroshima và Nagasaki đã gây ra sức tàn phá lớn trên quy
mô rộng
Sau chiến tranh, các thành phố và nhà máy bắt đầu tái thiết lại, nhưng khá chậm do thiếu vốn Vận mệnh của Nhật thay đổi sau khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra vào năm 1950 Mỹ muốn Nhật sản xuất vũ khí để cung cấp cho lực lượng Mỹ ở Nam Triều Tiên Sản lượng công nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực như sắt thép và đóng tàu, tăng nhanh chóng Nhờ nguồn tài chính từ các đơn hàng của Mỹ và quyết tâm khôi phục lại đất nước, đến khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc vào năm 1953, nhiều nhà máy mới đã được xây dựng Sau
sự bùng nổ kinh tế, các hang điện tử xuất hiện như Sony , Panasonic, Toshibahay Honda
Nền kinh tế của Nhật Bản phát triển nhanh chóng trong thập niên 1960-1970, nhưng đến năm 1990 thì lâm vào suy thoái Trong những năm gần đây, rất nhiều công ty bị phá sản - hơn 17.000 công ty Đây cũng là điều dẫn đến tỉ lệ thất nghiệp tăng So với các nước phương Tây thì tỉ lệ thất nghiệp của Nhật ít hơn nhiều, nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn Nhật Bản thì con số đó lại cao - 5,2% vào năm 2003 Trong số những người bị thất nghiệp, rất nhiều người đã phải ngủ ngoài đường vì không có nhà, hay thậm chí là tự tử Trước tình hình đó, Nhật Bản đang cố khắc phục để xây dựng lại nền kinh tế tốt hơn
Trang 251.Công nghệ nhà kính
Nhà kính trồng rau sạch là một trong những mô hình hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao Sử dụng nhà kính để trồng hoa, rau, cây cảnh và cây thuốc đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới, do ưu điểm chế ngự được các hạn chế của thiên nhiên như đất, khí hậu, nước, gió mạnh, bão… cho năng suất cao gấp 3 – 4 lần so với trồng ngoài trời theo phương thức cũ
Nhà kính phù hợp với yêu cầu để phát triển nông nghiệp bền vững, cho phép kiểm soát đầy đủ và chặt chẽ hầu hết các thông số của quá trình sản xuất như nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, khí carbonic, khí ôxy…, kể cả việc sử dụng tối ưu đất canh tác để đáp ứng cho sự sinh trưởng, phát triển tốt nhất của cây trồng và kiểm soát được sâu bệnh hại để đạt sản lượng cao nhất
Hình 1.3: Hệ thống nhà kính
Trang 26 Mẫu nhà kính trồng rau sạch phù hợp khí hậu nóng ẩm,đáp ứng đầy đủ
yêu cầu khắt khe của quy trình trồng rau sạch (lực treo,ánh sáng,ngăn côn trùng…)
Mái mở cố định 1 bên nhờ đó tăng được hiệu quả làm mát vào mùa hè,
kiểm soát tốt sự ngưng tụ của hơi nước
Đặc điểm thiết kế này có khả năng kết nối liên hoàn với các dạng nhà
kính khác Tạo thành một hế thống liên hoàn với mọi qui mô, diện tích trồng trọt rộng lớn Khi xây dựng nhà kính dạng này người trồng trọt cần phải chú đến hướng gió
Khung sườn nhà lưới trồng rau sạch được chế tạo bằng thép mạ kẽm bảo
đảm độ chịu lực cần thiết
Những ưu điểm của trồng rau theo mô hình nhà kính trồng rau sạch :
Khắc phục được điều kiện khí hậu và thời tiết
Mở rộng mùa vụ trồng trọt
Tăng năng suất cây trồng
Kiểm soát được khí hậu và sâu bệnh
1 Ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Hình1.4:Máy móc sản xuất phân bón
Trang 27Hình 1.5: Máy móc trong sản xuất nông nghiệp
Từ những năm 90, Chính phủ Nhật Bản đã không ngừng đầu tư mạnh để nông dân tiếp cận các ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật (KHKT) vào sản suất nông nghiệp Cho đến nay, hầu như toàn bộ các khâu từ canh tác đến thu hoạch, bảo quản, tiêu thụ hiện nay ở Nhật Bản đều được áp dụng công nghệ KHKT Chỉ một người và một máy có thể hoàn thành công việc trên 1ha canh tác chỉ trong 1h30 phút đồng hồ giúp nâng cao hiệu quả công việc và giảm thiểu sức lao động
chỉnh các chỉ tiêu nào và mọi hoạt động đều được điều khiển thông qua các thiết bị thông minh
Ngoài ra, để hỗ trợ nông dân xuất khẩu nông sản ra thị trường thế giới, Chính phủ nước này cũng chủ trương đẩy mạnh quảng cáo, tiếp thị trực tiếp sản phẩm sang các thị trường tiềm năng thông qua mạng Internet Do đó, đến nay, khoảng 70% tổng sản lượng sản xuất ra được bán trực tiếp từ nông dân cho các nhà đấu giá
Trang 283 Hạt giống chất lượng cao cho mùa vụ bội thu
Chính phủNhật Bản rất chú trọng đầu tư vào phát triển nghiên cứu khoa học nông nghiệp, các nhà khoa học nông nghiệp Nhật Bản đã phát triển công nghệ, một công nghệ cho phép cấy ghép vật liệu di truyền vào hạt giống mà không sửa đổi cấu trúc DNA gốc của chúng Phương pháp này đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng hạt giống cây trồng ngay trước khi chúng được gieo trồng Với công nghệ này, các nhà khoa học có thể đưa các đặc tính về kháng sâu bệnh, tăng cường các đặc điểm thích nghi với thổ nhưỡng và khí hậu vào các hạt giống để nâng cao chất lượng cây trồng về sau
Công nghệ này mở ra các cơ hội cho việc phát triển các giống cây trồng chuyên biệt cho từng vùng khí hậu, thổ nhưỡng nhằm tối đa hóa năng suất, đảm bảo chất lượng Điều này mang đến cơ hội cho các quốc gia đang phát triển trong việc nang cao năng suất và chất lượng cho các sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực và tạo ra lợi thế cạnh tranh
4 Kiểm soát côn trùng theo phương pháp sinh học
Các kỹ sư ở Nhật Bản đã lai tạo ra các giống có ích nhằm giải quyết vấn
đề kiểm soát sâu bệnh tuân theo các nguyên lý sinh thái học tự nhiên, đã giúp giảm thiểu 75% lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp đồng thời nâng cao chất lượng nông sản và môi trường
5 Công nghệ sau thu hoạch
Chính phủ Nhật Bản đã thành lập Viện nghiên cứu khoa học thực phẩm và sản phẩm sau thu hoạch, tại đây các nhà khoa học thực hiện các nghiên cứu và cho ra đời nhiều công nghệ bảo quản giúp nông sản được tươi ngon trong thời gian dài và vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng cao chẳng hạn như phương pháp bảo quản không sử dụng hóa chất để giảm đáng kể tỉ lệ nảy mầm trong quá trình lưu trữ tăng thời hạn sự dụng cho rau tới 1 tháng mà vẫn duy trì lượng dinh dưỡng, sử dụng các túi khí vi đục, hay các hệ thống làm lạnh giúp giải quyết vấn đề về hình thức cho rau tươi ngon
Trang 29Hình 1.6: Thu hoạch và sau thu hoạch
6 Nghiên cứu và phát triển (R&D)
Bất chấp các điều kiện khắc nghiệt về thời tiết, hạn chế về diện tích đất canh tác, sản lượng nông nghiệp củaNhật Bản liên tục tăng trưởng nhờ vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) Lĩnh vực nông nghiệp hiện nay củaNhật Bản hầu như gắn chặt với sự liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nông dân
và các doanh nghiệp) Tất cả phối hợp với nhau nhằm tìm kiếm các giải pháp
để giải quyết các vấn đề trong nông nghiệp mà nước này gặp phải Đối mặt với hàng loạt các vấn đề, từ giống di truyền, kiểm soát bệnh dịch tới canh tác trên đất cằn, R&D trong nông nghiệp của Nhật Bản đã phát triển các công nghệ để tạo ra sự biến chuyển ngoạn mục không chỉ trong số lượng mà cả chất lượng các sản phẩm nông nghiệp của đất nước
2.3 Cơ sở khoa học của đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Trang 30vậy đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người Nói cách khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính con người.
Đối với ngành phi nông nghiệp đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng
là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất Đối với ngành này, quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo
ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất cũng như chất lượng thảm thực vật và tính chất tự nhiên sẵn có trong đất
Đối với các ngành nông lâm nghiệp đất đai có vai trò vô cùng quan trọng Đất đai không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại mà còn là yếu tố tích cực của các quá trình sản xuất Điều này thể hiện ở chỗ đất luôn chịu tác động như: cày, bừa, làm đất nhưng cũng đồng thời là công cụ
sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi do đó nó là đối tượng lao động nhưng cũng lại là công cụ hay phương tiện lao động
Quá trình sản xuất nông lâm nghiệp luôn gắn bó chặt chẽ với đất và các sản phẩm làm ra được luôn phụ thuộc vào các đặc điểm của đất mà cụ thể là độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất
Tuy nhiên độ phì nhiêu của đất không phải là yếu tố vĩnh viễn và cố định
mà luôn thay đổi trong quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên Ngoài ra trong quá trình sản xuất dưới tác động của con người thì độ phì nhiêu ngày càng có sự biến động rất lớn Nếu tác động xấu thì độ phì nhiêu ngày càng cạn kiệt, ngược lại nếu tác động của con người có sáng tạo và khoa học thì độ phì nhiêu của đất ngày càng được nâng cao vì ngoài nhân tố tự nhiên còn có xã hội tham gia vào quá trình hình thành và phát triển của đất đai
2.3.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn xã hội
Thực tế cho thấy rằng xã hội càng phát triển thì yêu cầu về dinh dưỡng do lương thực và thực phẩm ( đặc biệt là thực phẩm ) ngày càng tăng nhanh Một đặc điểm quan trọng của hàng hóa lương thực, thực phẩm là không thể thay thế
Trang 31bằng bất kỳ một loại hàng hóa nào khác Những hàng hóa này dù cho trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định
sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những hàng hóa có chứa chất dinh dưỡng nuôi sống con người này chỉ có thể
có được thông qua hoạt động sống của cây trồng và vật nuôi hay nói cách khác
là thông qua quá trình sản xuất nông nghiệp
- Quyết định an ninh lương thực quốc gia, góp phần thúc đẩy sản xuất công nghiệp, các ngành kinh tế khác và phát triển đô thị
Nông nghiệp cung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến
Nông nghiệp là khu vực dự trữ và cung cấp nguồn lao động dồi dào cho phát triển công nghiệp, các ngành kinh tế khác và đô thị
Nông nghiệp nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng hóa công nghiệp và các ngành kinh tế khác
- Nguồn thu ngân sách quan trọng của nhà nước
Nông nghiệp là ngành kinh tế sản xuấtquan trọng của nhà nước Việc huy động một phần thu nhập từ nông nghiệp được thực hiện dưới nhiều hình thức: Thuế nông nghiệp, các loại thuế kinh doanh khác,
- Hoạt động sinh kế chủ yếu của đại bộ phận dân nghèo nông thôn
Dân cư tập trung ở nông thôn họ sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với hình thức sản xuất tự cấp tự túc đáp ứng nhu cầu cấp thiết hàng ngày
- Tái tạo tự nhiên
Nông nghiệp còn có tác dụng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Trong các ngành sản xuất chỉ có nông nghiệp mới có khả năng tái tạo
tự nhiên cao nhất mà các ngành khác không có được Tuy nhiên nông nghiệp lạc hậu và phát triển không có kế hoạch cũng dẫn đến đất rừng bị thu hẹp, độ