1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kỷ yếu Công ty TNHH Khai thác thủy lợi Bình Định

244 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công Ty TNHH Khai Thác Công Trình Thủy Lợi Bình Định – 35 Năm Xây Dựng, Phát Triển Và Trưởng Thành
Trường học Công Ty TNHH Khai Thác Công Trình Thủy Lợi Bình Định
Thể loại Kỷ Yếu
Năm xuất bản 2011
Thành phố Bình Định
Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 7,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cục Hải quan tỉnh Bình Định 1 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH CÔNG TY TNHH KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI BÌNH ĐỊNH XÂY DỰNG PHÁT TRIỂN TRƢỞNG THÀNH (1976 – 2011) Địa chỉ Thôn Huỳnh Kim, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định Điện thoại 056 3835274 – Fax 056 3835913 Email khaithacthuyloibdyahoo com vn 2 3 LỜI MỞ ĐẦU Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi Bình Định được thành lập từ năm 1976, đến nay vừa tròn 35 tuổi; Quá trình xây dựng và phát triển của đơn vị trải qua nhiều khó khăn, t.

Trang 1

TRƯỞNG THÀNH (1976 – 2011)

Địa chỉ: Thôn Huỳnh Kim, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định

Điện thoại: 056 3835274 – Fax: 056 3835913

Email: khaithacthuyloibd@yahoo.com.vn

Trang 3

3

LỜI MỞ ĐẦU

Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi Bình Định được thành lập từ năm 1976, đến nay vừa tròn 35 tuổi; Quá trình xây dựng và phát triển của đơn vị trải qua nhiều khó khăn, thử thách; Nhưng nhờ được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, của lãnh đạo Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn và sự quan tâm tạo điều kiện cuả các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đã góp phần xây dựng công ty ngày càng phát triển; Từ ngày thành lập đến nay, các thế hệ cán bộ, công nhân viên chức lao động của công ty luôn đoàn kết thi đua, đóng góp nhiều công sức, trí tuệ, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao là quản lý, bảo vệ và khai thác có hiệu quả các công trình thủy lợi trên địa bàn toàn tỉnh; đảm bảo nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống nhân dân; Cùng với toàn ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh nhà hoàn thành tốt nhiệm vụ xây dựng và phát triển nông thôn mới

Qua 35 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi Bình Định đã

nỗ lực phấn đấu vượt qua những khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân đã tin tưởng giao phó cho tập thể cán bộ, CNVCLĐ của công

ty Ôn lại lịch sử 35 năm thành lập công ty, để mỗi cán bộ, CNVCLĐ trong ngành càng thêm tự hào với truyền thống

và những kết quả đạt được của công ty qua các thời kỳ Trong 35 năm xây dựng và phát triển, đơn vị trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, thay đổi những tên gọi khác nhau; Với truyền thống đoàn kết vượt khó đi lên, tập thể cán bộ, CNVCLĐ của công ty qua từng thời kỳ vẫn luôn đứng vững,

Trang 4

son sắt một lòng, siết chặt tay nhau đoàn kết quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ, làm tròn nhiệm vụ của mình, xứng đáng là người chiến sỹ thủy lợi trên mặt trận kinh tế nông nghiệp, xứng đáng là con em của nhân dân lao động Với quyết tâm xây dựng công ty phát triển vững mạnh toàn diện, trong những năm gần đây, Đảng uỷ, Ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ, CNVCLĐ công ty đã triển khai thực hiện Kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành; Bước đầu đã gặt hái được những kết quả rất đáng khích lệ, được Sở Nông nghiệp phát triển nông thôn, chính quyền địa phương các xã, huyện và đông đảo bà con nông dân trên địa bàn toàn tỉnh ghi nhận và đánh giá tốt trong công tác quản lý, bảo vệ, khai thác có hiệu quả các công trình thủy lợi

Nhằm để ghi lại những chặng đường lịch sử xây dựng

và phát triển của đơn vị, những cống hiến, đóng góp của các thế hệ cán bộ, CNVCLĐ công ty qua các thời kỳ; Đảng

ủy, Ban giám đốc công ty thống nhất tổ chức sưu tầm tài liệu, biên soạn và xuất bản tập sách Kỷ yếu “Công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi Bình Định – 35 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành” Hy vọng nội dung tập sách sẽ đáp ứng tinh thần, tình cảm của các thế hệ cán bộ, CNVCLĐ công ty qua các thời kỳ; đồng thời đem đến cho các bạn đọc, cho cán bộ, nhân dân trong và ngoài tỉnh những thông tin về hoạt động của công ty TNHH Khai thác công trình thủy lợi Bình Định trong 35 năm qua

Việc biên soạn kỷ yếu được thực hiện trên cơ sở thu thập các tài liệu về quá trình hình thành và hoạt động của đơn vị; có sự tham gia góp ý của các đồng chí nguyên là lãnh đạo của công ty nay đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác và của cán bộ, CNVCLĐ trong toàn công ty đã cung cấp nhiều tư liệu, thông tin, hình ảnh qúy báu về quá trình

Trang 5

5

xây dựng và phát triển của công ty, đã góp phần cho nội dung tập sách phong phú và sinh động Công ty xin trân trọng cảm ơn sự đóng góp qúy báu đó của các đồng chí Tuy nhiên do trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, tài liệu thu thập chưa thật sự đầy đủ; hơn nữa trong quá trình biên soạn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế về cả nội dung và hình thức Ban biên soạn rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các đồng chí và các bạn để góp phần bổ sung, hoàn thiện nội dung Tập sách trong kỳ tái bản lần sau

Trang 6

VÀI NÉT VỀ NGÀNH THỦY LỢI VIỆT NAM

(28/8/1945 – 28/8/2011)

Lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam gắn liền với sự hình thành của ngành thủy lợi từ hệ thống chống lũ, kênh rạch tưới tiêu; trải qua nhiều đời cha ông ta đã biết phát huy những mặt lợi của nước và cũng cố gắng khắc phục những mặt hại của nước trong đời sống và sản xuất; hình thành nên nền văn minh lúa nước từ hàng ngàn năm nay

Khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, thủy lợi mới thực sự trở thành một ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được ưu tiên đầu tư và đóng vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân

Nước ta có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 9 hệ thống sông lớn với lưu vực từ 10.000 km2 trở lên như: sông Hồng, sông Cửu Long, sông Đồng Nai Tổng lượng nước mặt chảy qua lãnh thổ Việt Nam trung bình nhiều năm là 835 tỷ m3, trong đó phát sinh trong nước là 313 tỷ m3, từ các nước

đổ vào là 522 tỷ m3 Bên cạnh đó có lượng nước ngầm dồi dào gần 50 tỷ m3 hằng năm Tuy nhiên nguồn nước lại phân

bổ không đều theo thời gian và không gian, mùa khô kéo dài 7 – 8 tháng, lượng mưa ít; trong khi mùa mưa chỉ có 4 – 5 tháng

mà lượng nước chiếm đến 70 – 80% tổng lượng nước trong năm đã gây nên khô hạn và ngập úng thường xuyên làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất của nhân dân cả nước

ta

Khi cách mạng tháng Tám mới thành công (1945), công trình thủy lợi trong cả nước chỉ có 13 hệ thống thủy lợi tưới được 30 vạn hécta, tiêu úng 8 vạn hécta

Trang 7

7

Từ nhận thức được vai trò quan trọng của công tác thủy lợi trong việc bảo vệ và phát triển đất nước, Đảng và Chính phủ đã có những quyết định đúng đắn về chủ trương,

kế hoạch, chính sách đầu tư phát triển tài nguyên nước Nhờ vậy đến nay ngành thủy lợi đã có 75 hệ thống thủy nông lớn

và vừa, 750 hồ chưa lớn và vừa, trên 10.000 hồ chứa nhỏ, 2.000 trạm bơm điện lớn và vừa,… đã cung cấp nước sinh hoạt cho hàng chục triệu dân cư ở các khu đô thị, nông thôn, khu công nghiệp và đáp ứng trên 80% diện tích trồng lúa

Hệ thống đê điều đã từng bước phát triển, đã hình thành 7.700 km, trong đó có 5.700 km đê sông, 2.000 km đê biển và gần 3.000 km đê bao ngăn lũ ở đồng bằng sông Cửu Long Hệ thống đê điều Việt Nam có vị trí sống còn trong việc bảo vệ dân sinh và kinh tế của đất nước

Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm coi trọng công tác đầu tư cho ngành thủy lợi, để xây dựng hệ thống thủy lợi ở nước ta ngày càng hoàn chỉnh, đạt hiệu quả cao, đáp ứng nhiệm vụ tưới, tiêu để đảm bảo đời sống và sản xuất của nhân dân cả nước

Phát huy những thành quả đã đạt được và tiếp tục hướng đến tương lai; hằng năm vào ngày 28/8, những người làm công tác trong ngành thủy lợi, những người đã làm công tác trong ngành thủy lợi, những trường thủy lợi, những học sinh, sinh viên đang học ngành thủy lợi, cùng nhân dân và cán

bộ lãnh đạo các cấp trong cả nước hân hoan kỷ niệm ngày thành lập ngành thủy lợi Việt Nam; và năm 2011 kỷ niệm ngành Thủy lợi Việt Nam vừa tròn 66 tuổi (28/8/1945 – 28/8/2011)

Trang 8

NHỮNG PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ

Năm 2001 Công ty vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng

Huân chương Lao động hạng 3

Năm 2008 Công ty được UBND tỉnh tặng

Cờ đơn vị dẫn đầu ngành Nông nghiệp & PTNT

Năm 2010 Công ty được UBND tỉnh tặng

Cờ đơn vị dẫn đầu ngành Nông nghiệp & PTNT

Trang 10

Năm 2009 khánh thành Công trình Hồ Định Bình, UBND tỉnh giao cho Công ty trực tiếp quản lý

Công ty tổ chức hoạt động kinh doanh du lịch tại

Hồ Núi Một

Trang 11

11

Hồ thủy lợi Hội Sơn – trên địa bàn huyện Phù Cát

Công trình Đập Lại Giang - trên địa bàn huyện Hoài Nhơn

Trang 12

CÁC ĐỒNG CHÍ NGUYÊN LÀ LÃNH ĐẠO CÔNG TY

QUA CÁC THỜI KỲ Ông Nguyễn Văn Bằng

-Trưởng Ban quản lý sông Kôn:1976-1981

-Chủ nhiệm Công ty quản lý thủy nông

phía nam tỉnh: 1981-1983

-Giám đốc Xí nghiệp quản lý thủy nông

phía nam: 1983-1988

Ông Nguyễn Sum

-Phó Chủ nhiệm Công ty quản lý thủy nông

phía nam tỉnh: 1981-1983

-Phó Giám đốc Xí nghiệp quản lý thủy nông

phía nam: 1983-1988

Ông Lê Văn An

-Giám đốc Xí nghiệp quản lý thủy nông

phía nam: 1988 - 6/1989

-Giám đốc Công ty Quản lý KTCT thủy lợi

Bình Định: 1989- 1993

-Bí thư Chi bộ: 1991 – 1993

Ông Lê Công Quán

-Phó Giám đốc Công ty Quản lý KTCTTL

Bình Định: 1993

-Phó Giám đốc phụ trách Công ty Quản lý

KTCTTL Bình Định: 1994

Trang 13

Ông Ngô Văn Tương

-Phó Giám đốc Công ty Quản lý thủy nông

Bình Định: 3/1991 – 8/1996

-Giám đốc Công ty Quản lý KTCTTL

Bình Định: 9/1996 – 02/2003

-Bí thư Đảng ủy: 1998 – 2003

Ông Phan Văn Trình

-Phó Giám đốc Công ty Quản lý thủy nông

Trang 14

BAN LÃNH ĐẠO CÔNG TY HIỆN NAY

Ông Nguyễn văn Phú

-Giám đốc Công ty Khai thác công trình

Thủy lợi Bình Định: 11/2006 đến nay

Ông Nguyễn Văn Sáu

-Kiểm soát viên Công ty TNHH

KTCTTL Bình Định:

12/2008 đến nay

Trang 15

Đ/c Nguyễn Trọng Phủ

Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công ty

Trang 16

BAN THƯỜNG VỤ CĐCS CÔNG TY HIỆN NAY

Đ/c Đinh Văn Dậu Chủ tịch CĐCS Công ty

Đ/c Nguyễn Ngọc Sáu Phó Chủ tịch CĐCS Công ty

Trang 17

17

BAN CHẤP HÀNH CHI ĐOÀN THANH NIÊN CÔNG TY

Đ/c Phan Thị Mỹ Hiếu

Bí thư Đoàn thanh niên công ty

Đ/c Lê Bá Tưởng Đ/c Đinh Xuân Việt

Trang 18

BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ CÔNG TY

Đ/c Nguyễn Văn Phú Chỉ huy trưởng

Đ/c Nguyễn Ngọc Sáu Chính trị viên

Đ/c Tôn Tăng Xuân Phó chỉ huy trưởng

Trang 19

19

CÁC TRƯỞNG PHÒNG CÔNG TY HIỆN NAY

Ông Nguyễn Ngọc Sáu Bà Bùi Thị Hạnh

Trang 20

GIÁM ĐỐC CÁC XÍ NGHIỆP TRỰC THUỘC

Xí nghiệp Thủy lợi I Xí nghiệp Thủy lợi II

Ông Nguyễn Văn Thiên Ông Nguyễn Thanh Thiên

Xí nghiệp Thủy lợi III Xí nghiệp Thủy lợi IV

Trang 21

21

Xí nghiệp Thủy lợi V Xí nghiệp Dịch vụ Thủy Lợi

Ông Lê Văn Quế Ông Phan Văn Chánh

Xí nghiệp Thủy lợi Định Bình Xí nghiệp KSTK Thủy lợi

Trang 22

MỘT SỐ NÉT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI

VÀ TRUYỀN THỐNG LỊCH SỬ BÌNH ĐỊNH

I- ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1 Vị trí:

Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung

bộ, nằm ở vị trí toạ độ địa lý được xác định trong khoảng từ

13036’33” đến 14042’10” vĩ độ Bắc và từ 108055’4” đến

109021’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông với 134 km bờ biển, chiều dài địa bàn tỉnh 110 km, chiều rộng trung bình 55 km, diện tích 6.039

km2, nằm cách thủ độ Hà Nội 1.065 km về phía Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 649 km về phía Nam

Bình Định có hệ thống giao thông khá đồng bộ, có đường sắt Bắc-Nam xuyên Việt (qua tỉnh 150 km); có Quốc

lộ 1A (qua tỉnh 118 km); có Quốc lộ 1D dài 33 km; có Quốc

lộ 19 nối cảng Quy Nhơn lên Tây Nguyên (qua tỉnh 70 km) là trục đường hành lang Đông – Tây: Quy Nhơn – Kon Tum – Ap-tơ-pư – Pắc xế (Lào) – Ubon Ratcha Thani (Thái Lan); có cảng biển nước sâu Quy Nhơn – Nhơn Hội là một trong 10 cảng biển lớn của cả nước, có thể đón tàu 3 vạn tấn ra vào cảng an toàn; có sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn

30 km về phía Bắc thường xuyên đưa đón hành khách đi và đến Bình Định Toàn tỉnh có 465 km đường tỉnh lộ, đáng chú

ý có tuyến đường ven biển nối từ Nhơn Hội, thành phố Quy Nhơn đến Tam Quan, Hoài Nhơn và hầu hết các xã đều có đường ôtô đến trung tâm

Trang 23

23

Xuất phát từ vị trí địa lý và điều kiện giao thông như vậy, Bình Định có những lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đồng thời còn có vai trò chiến lược hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của vùng trọng điểm kinh tế miền Trung - Tây nguyên và các tỉnh cực Nam Trung

bộ cũng như khu vực tiểu vùng sông Mê Kông, mà còn là nơi trung chuyển, liên kết, giao lưu kinh tế và văn hoá ở trong nước và Quốc tế, là cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây nguyên

và vùng Nam Lào

2 Địa hình:

Địa hình Bình Định tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông Phía Tây là vùng núi rìa phía Đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển, hải đảo Dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp có độ cao trên dưới 100 mét xen lẫn thung lũng hẹp, hướng vuông góc với dãy Trường sơn; các đồng bằng lòng chảo, đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các dãy núi đâm ra biển Ngoài cùng là cồn cát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn Đông và Tây

Vùng rừng núi Bình Định có diện tích khoảng 249.866

ha chiếm 70% diện tích của tỉnh; vùng đồi có diện tích khoảng 159.276 ha chiếm 10% diện tích của tỉnh; còn vùng đồng bằng diện tích khoảng 1000 km2

chiếm 20% diện tích của tỉnh

Trang 24

lại là đất ở, đất nuôi trồng thuỷ hải sản, đất gò đồi, đất chưa sử dụng…

4 Khí hậu:

Bình Định có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt đới Nhiệt độ trung bình cả năm 28,60C, lượng mưa trung bình cả năm 2.595,6 mm, độ ẩm trung bình cả năm 79% Mùa mưa thường trùng với mùa bão, cộng với địa hình dốc nên thường gây ra nạn lũ lụt nghiêm trọng

5 Sông ngòi:

Do mưa nhiều, địa hình triền dốc, phía Tây có nhiều thung lũng, phía Đông có nhiều đầm phá nên sông ngòi ở Bình Định khá dày đặc Bình Định hiện có các sông lớn như: Sông Kôn, Lại Giang, La tinh, Hà Thanh, cùng hệ thống sông suối thuận lợi cho phát triển thuỷ lợi, thuỷ điện và cung cấp nước sinh hoạt…

6 Hồ đầm:

Bình Định có nhiều hồ nhân tạo được xây dựng với quy mô lớn, tiêu biểu như: Hồ Định Bình, Hồ Núi Một, Hồ Hội Sơn, v.v… để đảm bảo nước tưới phục vụ nông nghiệp, nước sinh hoạt cho nhân dân và để phục vụ cho việc tưới tiêu trong mùa khô Ngoài ra, còn có một đầm nước ngọt khá rộng

là đầm Trà ổ (Phù Mỹ) và 2 đầm nước lợ là Đề Gi (Phù Phù Cát), đầm Thị Nại (Tuy Phước, Quy Nhơn) Hệ thống hồ đầm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ hải sản, đặc biệt đầm Thị Nại là đầm lớn rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cỡ quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội, đầm còn được biết đến với cây cầu Thị Nại vượt biển dài nhất Việt Nam hiện nay

Trang 25

Mỹ-25

7 Hải đảo:

Bình Định có 32 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc 01 đảo riêng Trong đó đảo Cù Lao Xanh là có dân

cư sinh sống, các đảo còn lại là những đảo nhỏ, một số đảo chỉ toàn đá và cát, những đảo có vách đá hang động là nơi di trú lý tưởng của các loài chim yến đi về làm tổ, tạo nên nguồn lợi quý về đặc sản yến sào của tỉnh

8 Tài nguyên khoáng sản:

Qua điều tra khảo sát, Bình Định có nhiều điểm khoáng sản, trong đó có một số khoáng sản có giá trị như: Đá granite, quặng titan, bauxit, cao lanh, cát trắng, nước khoáng thiên nhiên…

II- DÂN CƯ VÀ HÀNH CHÍNH

1 Dân cư:

- Theo số liệu thống kê 2008 dân số Bình Định là 1.578.900 người Hiện dân số Bình Định đang có xu hướng giảm cơ học như theo kết quả điều tra chính thức ngày 01.4.2009 thì dân số Bình Định chỉ còn 1.485.943 người

Xét về kết cấu dân số theo nhóm tuổi, Bình Định thuộc dạng kết cấu dân số trẻ, dưới 30 tuổi chiếm 62,8%, hiện toàn tỉnh có khoảng 838.400 lao động Đây là nguồn lao động dồi dào cung cấp cho các ngành kinh tế

Về kết cấu dân cư, Bình Định có nhiều dân tộc chung sống, đoàn kết trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm và xây dựng đất nước Trong đó dân tộc kinh chiếm 98%, 3 dân tộc thiểu số là Bana, H’re, Chăm chiếm 2%, ở 113 làng/22 xã của

3 huyện miền núi như: An lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh và 2 huyện Trung du như: Hoài Ân, Tây Sơn Địa bàn dân cư phân

bổ không đều, trong đó thành phố Quy Nhơn cao nhất 937,1

Trang 26

người/km2, thấp nhất là huyện Vân Canh 32,1 người/ km2, mật độ dân số bình quân toàn tỉnh 264,1 người/km2

Về kinh tế, dân cư Bình Định phần lớn chủ yếu sống bằng nghề nông, trồng lúa nước, các loại cây trồng khác…nhưng do các vùng đồng bằng ở tỉnh Bình Định diện tích không lớn nên người dân còn có nhiều nghề phụ khác như: Rèn, mộc, thủ công mỹ nghệ, khai thác vật liệu xây dựng, làm gạch ngói, làm nón, gốm sứ…, nhiều vùng dân cự

ở ven biển, đầm phá sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản

2 Hành chính:

Bình Định xưa là đất thuộc Việt Thường Thị và nền văn hoá Sa huỳnh, sau đó người Chăm đã tới chiếm lĩnh vùng đất này Đến đời nhà Tần xứ này là huyện Lâm Ấp thuộc Tương Quận Đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam Đời nhà Tuỳ (605) dẹp Lâm Ấp đặt tên là Xung Châu sau đó lại lấy tên cũ là Lâm Ấp Đời nhà Đường (627) đổi tên là Lâm Châu Năm 803, nhà Đường bỏ đất này và nước Chiêm Thành của người Chăm ra đời, đất này đổi là Đồ Bàn, Thị Nại Đời nhà Lê, năm Hồng Đức 2 (1471) vua Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành tới núi Thạch Bi chiếm đất này và chia thành 3 huyện: Bồng Sơn, Phù Ly, Tuy Viễn của phủ Hoài Nhơn thuộc thừa tuyên Quảng Nam Từ năm 1602 đến 1744 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Khoát cho đổi phủ Hoài Nhơn là phủ Quy Nhơn rồi phủ Quy Ninh, sau đó cho lấy lại tên cũ là phủ Quy Nhơn, thuộc dinh Quảng Nam, phủ lỵ đóng tại phía Bắc thành Đồ Bàn thuộc thôn Châu Thành nay là xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn

Từ năm 1773 đến 1797 nhà Tây Sơn chiếm cứ đất này

và cho đổi tên thành Đồ Bàn là thành Hoàng đế và sau đó đổi

Trang 27

27

lại là phủ Quy Nhơn Từ năm 1799 đến 1802 phủ Quy Nhơn

bị quân Nguyễn Ánh chiếm đóng và đổi thành dinh Bình Định rồi trấn Bình Định, phủ Quy Nhơn, phủ Hoài Nhơn

Năm 1832 tách huyện Tuy Viễn thành 2 huyện: Tuy Viễn và Tuy Phước; tách huyện Phù Ly thành 2 huyện: Phù

Mỹ và Phù Cát Năm 1885, Bình Định là một tỉnh lớn, nhiều vùng đất của Gia Lai-Kom Tum còn thuộc về Bình Định Năm 1888 cho đặt thêm huyện Bình Khê

Năm 1890 thực dân Pháp sáp nhập Phú Yên, Bình Định thành tỉnh Bình Phú, tỉnh lỵ đóng tại Quy Nhơn, cho đến năm 1899 Phú Yên tách ra khỏi Bình Phú Ngày 4.7.1905 cho thành lập tỉnh tự trị PleiKou Derr tách ra khỏi tỉnh Bình Định Đến năm 1913 lại sáp nhập Phú Yên, Bình Định thành tỉnh Bình Phú và cho thành lập tỉnh Kon Tum Năm 1921 lại tách Phú Yên ra khỏi Bình Phú và kéo dài đến 1945

Dưới thời Mỹ-nguỵ các huyện được đổi thành Quận, tỉnh Bình Định có 11 Quận, 01 thị xã, trong đó có 4 Quận miền núi

Từ 1976-1989, Bình Định hợp nhất với Quảng Ngãi thành tỉnh Nghĩa Bình, đến cuối năm 1989 tỉnh Bình Định được tái lập trở lại từ đó cho đến nay

Hiện nay tỉnh Bình Định được chia làm 11 đơn vị hành chính, gồm: 01 thành phố loại I thuộc tỉnh (thành phố Quy Nhơn), 5 huyện đồng bằng (An Nhơn, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước), 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh) và 2 huyện trung du (Hoài Ân, Tây Sơn) Số đơn

vị hành chính cấp phường, xã gồm: 14 thị trấn, 16 phường,

129 xã Theo số liệu thống kê diện tích, dân số và đơn vị hành chính năm 2008 như sau:

Trang 28

Diện tích (km 2 )

Bình Định là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn

hoá Sa Huỳnh, từng là cố đô của Vương quốc Chămpa mà di

sản còn lưu giữ là thành Đồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ

thuật kiến trúc độc đáo Đây cũng là nơi xuất phát phong trào

nông dân khởi nghĩa vào thế kỷ XVIII với tên tuổi của anh

hùng Nguyễn Huệ; là quê hương của các danh nhân như Trần

Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Đào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân

Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan…Bình Định còn nổi tiếng bởi

truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú

với các loại hình nghệ thuật như: Bài chòi, hát bội (tuồng),

nhạc võ Tây Sơn, chèo bá trạo của ngư dân vùng biển…cùng

Trang 29

29

với các lễ hội như: Lễ hội Đống Đa, lễ hội cầu ngư, lễ hội của các dân tộc miền núi

2 Truyền thống chống giặc ngoại xâm:

Bình Định từ xưa đến nay là vùng đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm, đã trải qua biết bao nhiêu thời kỳ trước đây nhân dân Bình Định vẫn luôn giữ vững truyền thống đó, nét nổi bật là dấu ấn lịch sử của cuộc kháng chiến chống quân Minh, tiếp đến là cuộc kháng chiến chống giặc Thanh vào cuối thế kỷ XVIII, khi vua Càn Long sai tướng Tôn Sỹ Nghị chỉ huy 29 vạn quân sang đánh nước

ta, chúng đánh chiếm Thăng Long trước tết Kỷ Dậu (1789) và

có kế hoạch ngày mồng 6 tết Âm lịch đánh vào Phú Xuân và tiến vào Đàng trong nhưng vua Quang Trung đã chủ động đưa quân ra Thăng Long với kế hoạch hành quân thần tốc, táo bạo,

bí mật, bất ngờ nên đã đánh bại quân Thanh vào ngày mồng 5 tết

Với chiến thắng oanh liệt nói trên, Bình Định không chỉ với vị thế là nơi khởi đầu cuộc khởi nghĩa của 3 anh em nhà Tây Sơn, nơi chuẩn bị cho mọi điều kiện của cuộc kháng chiến mà còn là nơi đóng góp nhiều nhân lực, vật lực cho cuộc kháng chiến lúc đó

Kế tục truyền thống chống giặc ngoại xâm, trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Bình Định dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đã tích cực góp công, góp của, góp sức người cùng cả nước đánh thắng 2 đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; ra sức xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới phát triển kinh tế - xã hội đất nước hiện

nay

Trang 30

Lễ dâng hoa dâng hương tại Bảo tàng Quang Tr ung

Thành phố Quy Nhơn vào xuân

Trang 31

31

Cầu Thị Nại (Thành phố Quy Nhơn)

Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền tại Bình Định

Trang 32

Hồ thủy lợi Định Bình (Vĩnh Thạnh)

Được mùa (Tuy Phước)

Trang 33

33

Hồ Định Bình xả nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp

Hệ thống kênh mương ở Vĩnh Thạnh

Trang 34

CÔNG TY TNHH KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI BÌNH ĐỊNH 35 NĂM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN & TRƯỞNG THÀNH

(1976 – 2011)

PHẦN THỨ NHẤT

LỊCH SỬ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY GIAI ĐOẠN (1976 – 1989)

I- Đặc điểm tình hình của đất nước và tỉnh Bình Định sau ngày giải phóng 30/4/1975:

Chiến thắng mùa xuân năm 1975 đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ - cứu nước của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn, đã mở ra kỷ nguyên mới của cách mạng Việt Nam Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đứng trước những nhiệm vụ mới đầy thử thách và khó khăn Đó là nhiệm vụ hoàn thành thống nhất về mặt Nhà nước; nhiệm vụ khắc phục những hậu quả của 30 năm chiến tranh; nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định tình hình chính trị - xã hội miền Nam; nhiệm

vụ đấu tranh bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, … Vượt qua biết bao khó khăn thử thách trong những năm 1975 – 1980, được ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12-1976), lần thứ V (3-1982), sau đó là Đại hội Đảng lần thứ VI (12-1986) soi đường, toàn Đảng và quân dân ta tiến bước trên con đường đổi mới đã thu được những thành tựu quan trọng và đáng phấn khởi; làm nền tảng cơ sở vững chắc cho toàn dân tộc tiến tới con đường no ấm, hạnh phúc

Trang 35

35

Sau ngày giải phóng tỉnh Bình Định (31-3-1975), nhân dân Bình Định vô cùng phấn khởi và tự hào, vừa ra sức ổn định vùng giải phóng, vừa chi viện sức người, sức của tiếp tục làm nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn miền Nam, vừa nhanh chóng giải quyết những nhiệm vụ cấp thiết trước mắt nhằm đáp ứng tình hình, nhiệm vụ mới mà thực tiễn cách mạng địa phương đặt ra Cũng như nhiều địa phương khác ở miền Nam, sau 20 năm chống Mỹ (5-1955 đến 3-1975), chiến tranh đã để lại cho quê hương Bình Định những hậu quả nặng nề Hơn 60% số thôn xóm bị đạn, bom, chất độc hoá học tàn phá, hủy diệt, phần lớn trở thành vùng trắng Hơn 30% diện tích canh tác bị bỏ hoang hoá, cỏ dại mọc lút đầu và còn nhiều bom, mìn Hơn 30 vạn dân sống trong các khu dồn, “Ấp chiến lược” trở về làng cũ không còn nhà cửa, vườn đất hoang hoá, không có nước tưới phục vụ sản xuất, nước sinh hoạt, không

có phương tiện sản xuất, không nguồn sinh sống Đê ngăn mặn ven đầm Thị Nại bị hư hại nặng làm nước mặn ngập tràn đồng ruộng Nạn đói đe doạ nhiều vùng nông thôn trong tỉnh, v.v…

Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định (6-1975) đã đề

ra nhiệm vụ: “Ra sức ổn định tình hình vùng giải phóng … vừa nghiên cứu và bắt tay vào công việc xây dựng một cách nhanh chóng, vững mạnh, toàn diện về kinh tế, chính trị, quân

sự, văn hoá, …”; Nhờ đó công tác tiếp quản được tiến hành khẩn trương và thắng lợi Việc truy quét, trấn áp bọn phản cách mạng được giải quyết một cách tích cực và kịp thời, hơn

72 ngàn ngụy quân, ngụy quyền được đưa đi giáo dục và cải tạo An ninh chính trị và trật tự xã hội trong tỉnh được giữ vững Chính quyền cách mạng đã giúp đỡ, sắp xếp cho nhân dân trở về làng cũ, xây dựng lại nhà cửa Trung ương đã chi viện cho nhân dân trong tỉnh hàng trăm tấn lương thực để ổn định đời sống nhân dân Trở về làng cũ, vừa giúp nhau trong

Trang 36

tinh thần tương trợ “Lá lành đùm lá rách”, nhân dân bắt tay ngay vào sản xuất, khai hoang, phục hóa trên 26.000 héc ta đất; phá gỡ hàng vạn quả bom mìn Được sự chỉ đạo của chính quyền cách mạng, nhân dân các thôn xã đoàn kết chung sức dưới các hình thức hợp tác giản đơn, vòng công, đổi công, giúp nhau về giống, nông cụ, sức kéo để kịp thời ổn định sản xuất Công trình ngăn nước mặn khu đông Bình Định đã huy động gần 44 vạn ngày công, đào đắp 300 nghìn mét khối đất

đá, với 30km chiều dài được hoàn thành để đưa hàng ngàn héc ta ruộng vào canh tác

Năm học 1975-1976, năm học đầu tiên sau giải phóng, các trường phổ thông cấp I, cấp II được mở lại ở tất cả các huyện, xã, trường phô thông cấp III được mở lại ở thị xã Quy Nhơn và một số thị trấn lớn, thu hút gần 200 ngàn học sinh tới lớp Các hoạt động thông tin cổ động, phong trào văn hóa - văn nghệ quần chúng vốn có trong vùng giải phóng được tiếp tục phát triển và lan rộng trong toàn dân, mang nội dung tiến

bộ và cách mạng Phong trào bài trừ mê tín dị đoan, xóa bỏ những phong tục lạc hậu, vệ sinh, phòng bệnh, v.v… được toàn dân tích cực tham gia

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Chính phủ, tháng 10-1975, hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định hợp nhất lấy tên là Nghĩa Bình, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Quy Nhơn Một số huyện trong tỉnh cũng được sát nhập, điều chỉnh về địa giới: Bình Khê và Vĩnh Thạnh nhập thành huyện Tây Sơn, huyện Hoài Ân và An Lão nhập thành huyện Hoài An, Tuy Phước và Vân Canh nhập thành huyện Phước Vân; các xã nhỏ cũng được sát nhập thành xã lớn Cuối năm 1976, trong tỉnh Bình Định có thị xã Quy Nhơn, 7 huyện với 135 xã, 8 phường, dân số 870 ngàn người

Ngày 25-4-1976, cùng cả nước, hơn 99% cử tri trong tỉnh hồ hởi phấn khởi tham gia cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc

Trang 37

37

hội Đây là lần thứ hai cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức trong

cả nước (cuộc Tổng tuyển cử lần thứ I tổ chức ngày 1945) Sau đó chính quyền nhân dân từ tỉnh đến huyện, xã được củng cố, đồng thời các tổ chức cách mạng trong quần chúng được kiện toàn

23-12-Tháng 3-1977, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình lần thứ nhất (tại thị xã Quy Nhơn) đề ra phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu về khôi phục và phát triển kinh

tế - văn hoá xã hội 5 năm (1976-1980) Trong đó, kế hoạch nhiệm vụ hai năm 1977-1978 là tiến hành cải tạo, khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về cải tạo

xã hội chủ nghĩa đối với thương nghiệp tư bản tư doanh ở các địa phương trong tỉnh đã đạt được những kết quả đáng kể, đã xoá bỏ căn bản hình thức kinh doanh, bóc lột của giai cấp tư sản và đã tiến hành sắp xếp lại bước đầu sản xuất công nghiệp địa phương, hàng chục xí nghiệp quốc doanh được thành lập

đi vào hoạt động có hiệu quả Trong nông nghiệp, vụ Đông - Xuân 1976-1977 tỉnh tiến hành xây dựng thí điểm hai hợp tác

xã nông nghiệp đầu tiên tại xã Phước Thắng (Phước Vân), sau

đó rút kinh nghiệm nhân ra ở tất cả các xã trong tỉnh Đến vụ Đông - Xuân 1980-1981 toàn tỉnh đã căn bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp với hai hình thức: Hợp tác xã ở nông thôn đồng bằng (hơn 210 đơn vị) và tập đoàn sản xuất ở miền núi (gần 190 đơn vị), thu hút trên 96% số hộ nông dân, tập thể hoá trên 98% diện tích canh tác, gần 70% diện tích đất và gần 60% số trâu bò cày kéo

Các công trình thủy lợi nhỏ và vừa được triển khai xây dựng ở tất cả các hợp tác xã; Tỉnh đã huy động hơn 5 triệu ngày công làm thủy lợi, nạo vét kênh mương, sữa chữa nhiều

hồ, đập để đảm bảo nước tưới cho phần lớn diện tích canh tác Đồng ruộng được cải tạo, nông dân bước đầu áp dụng những

Trang 38

kiến thức khoa học kỹ thuật như đưa giống mới, bón phân, làm lúa sạ, tăng vụ, xen canh,…nhờ những nỗ lực đó mà diện tích gieo trồng đã đạt 95% kế hoạch, năng suất đạt 44,6 tạ/ha, bình quân lương thực đầu người đạt 250kg…; góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bình Định những năm vừa mới giải phóng

II- Quá trình thành lập và hoạt động của công ty giai đoạn (1976 – 1989):

Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước 30/4/1975, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về việc khắc phục hậu quả chiến tranh; Cùng với việc giúp đỡ các gia đình mới trở về quê cũ sớm ổn định cuộc sống, Tỉnh ủy đã chỉ đạo các huyện phải khẩn trương tổ chức tăng gia sản xuất, phát động phong trào khai hoang, phục hoá, tháo dỡ bom mìn, làm thủy lợi, tiến hành điều chỉnh một bước

về ruộng đất, đẩy mạnh sản xuất lương thực, chăn nuôi, khôi phục và phát triển ngư nghiệp, lâm nghiệp Tỉnh ủy đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo công tác khai hoang phục hoá, đắp

đê ngăn mặn của tỉnh và phân công một đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo; Tỉnh ủy và Ủy ban đã phát động phong trào toàn Đảng, toàn dân tiến quân vào mặt trận thủy lợi

Các phong trào khai hoang phục hoá, làm thủy lợi, cải tạo đồng ruộng, tháo dỡ bom mìn, phát triển sản xuất được nhân dân nhiều huyện trong tỉnh tích cực hưởng ứng như Tuy Phước, Phù Cát, Đông An Nhơn và một số nơi ở Bình Khê, Hoài Ân, v.v…

Đến cuối tháng 10-1975, đã có gần 10.000/15.000 ha ruộng đất hoang hoá được khai phá đưa vào sản xuất, nhân

Trang 39

Trên công trường khai hoang và đắp đê ngăn mặn ở Đông Tuy Phước, Đông Phù Cát hàng ngày có từ 4.000 đến 11.000 thanh niên xung phong và nhân dân tham gia Sau 3 tháng thi công, ngày 29-8-1975 đê ngăn mặn Đông Tuy Phước và Đông Phù Cát được hoàn thành với tổng chiều dài hơn 40 km và hàng chục cống ngăn nước, đưa hàng vạn mẫu ruộng vào sản xuất Đây là công trình thủy lợi lớn nhất tỉnh Bình Định những tháng đầu sau giải phóng và là công trình của Đảng bộ và nhân dân Bình Định chào mừng kỷ niệm lần thứ 30 Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Bên cạnh đó, tỉnh còn huy động hàng vạn ngày công đào đắp các đoạn đê ngăn mặn ở huyện Tuy Phước, dọc sông

La Tinh (Phù Mỹ) và các đập nước lớn như: đập Cây Ké (Phù Cát), Bảy Yển (An Nhơn) và hồ chứa nước Phú Khương (Hoài Ân) Ngày 28-7-1975 đập Cây Ké hoàn thành và đưa vào sử dụng, phục vụ nước tưới cho hơn 2.400 mẫu ruộng

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghĩa Bình về việc đẩy mạnh khôi phục, phát triển kinh tế; Công tác thủy lợi được chú trọng hàng đầu nhằm phục vụ khôi phục và phát triển nông nghiệp

Chủ trương, Nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác thủy lợi năm 1976 là: “Nhiệm vụ của thủy lợi là phải huy động toàn dân toàn quân và mọi lực lượng sẵn có làm thủy lợi; kết hợp công cụ thô sơ với bán cơ giới và cơ giới; kết hợp lực lượng Nhà nước và nhân dân cùng làm Khẩn trương làm mới

Trang 40

các công trình thủy lợi, khôi phục các bờ xe nước Tận dụng máy bơm nước sẵn có đồng thời tận dụng mọi phương tiện thô

sơ bằng mọi cách; Kể cả đào ao vét giếng, tát, gánh , xách Ra sức chống hạn cho cả lúa và hoa màu, thực hiện khẩu hiệu

“Vắt đất ra nước thay trời làm mưa” Đảm bảo diện tích gieo trồng đủ nước, đủ độ ẩm”

Năm 1976, toàn tỉnh Nghĩa bình đã huy động được trên

3 triệu ngày công làm thủy lợi vừa và nhỏ, sửa chữa, làm mới 4.778 đập nước, 500 km kênh mương, 125 bờ xe nước, nạo vét 21.000 ao, hồ; tiến hành đắp đê ngăn mặn khu Đông dài

40 km, đê ngăn mặn Quang Mỹ, hồ chứa nước Sở Hầu, Thạch Khê (Hoài An), đập Thuận Hạt (An Nhơn) và đập Ông Gấm (Hoài Nhơn) được xây dựng với tổng kinh phí hơn 6 triệu đồng, bảo đảm nước tưới cho 6.000 ha lúa; tiếp tục khai hoang thêm 5.000 ha đất sản xuất Nhờ làm tốt công tác thủy lợi và khai hoang phục hoá nên ba vụ đông xuân, hè thu và vụ mùa năm 1976 các địa phương trong địa bàn tỉnh đã gieo cấy vượt kế hoạch, toàn tỉnh Nghĩa Bình cấy được trên 77.000 ha, vượt 3.000 ha so với kế hoạch; năng suất bình quân đạt từ 22,6 đến 23 tạ/ha Cũng nhờ làm tốt công tác thủy lợi, các huyện miền núi đã vận động 1.200 hộ gia đình với hơn 5.000 đồng bào các dân tộc ở vùng cao định canh, định cư góp phần

ổn định đời sống và sản xuất

Đạt được những kết quả đáng phấn khởi trên là nhờ Tỉnh ủy, Ủy ban đã đặt vị trí công tác thủy lợi đúng mức, sự cộng tác đắc lực giữa các ban, ngành trong tỉnh, từ tỉnh đến huyện, xã đều nhất trí và quyết tâm lãnh đạo công tác thủy lợi Cấp ủy, chính quyền các cấp ra tay, phát huy tinh thần tự lực cánh sinh, cán bộ thủy nông năng nỗ với phong trào thủy lợi

Đã phát động, cổ động, giáo dục động viên bằng nhiều hình thức về công tác thủy lợi Mở những đợt thi đua ngắn ngày làm công tác thủy lợi được rầm rộ, sôi nổi và liên tục dưới

Ngày đăng: 13/06/2022, 08:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH ẢNH CÔNG TÁC ĐẢNG, ĐOÀN THỂ - Kỷ yếu Công ty TNHH Khai thác thủy lợi Bình Định
HÌNH ẢNH CÔNG TÁC ĐẢNG, ĐOÀN THỂ (Trang 168)
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI  I - Kỷ yếu Công ty TNHH Khai thác thủy lợi Bình Định
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI I (Trang 178)
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI II - Kỷ yếu Công ty TNHH Khai thác thủy lợi Bình Định
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI II (Trang 180)
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI III - Kỷ yếu Công ty TNHH Khai thác thủy lợi Bình Định
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI III (Trang 194)
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI IV - Kỷ yếu Công ty TNHH Khai thác thủy lợi Bình Định
HÌNH ẢNH XÍ NGHIỆP THỦY LỢI IV (Trang 196)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w