Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác." 1.3: Phân biệt khiếu nại – tố cáo Tiêu chí Luật điều chỉnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA KINH TẾ - LUẬT
-
-BÀI THẢO LUẬN LUẬT HIẾN PHÁP
ĐỀ TÀI: Quyền khiếu nại, tố cáo ( Điều 30)
GVGD : TS Đinh Thị Ngọc Hà
Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Mã LHP : 2228BLAW0621
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ 2
1.1: Cơ sở pháp lý 2
1.2: Nội dung 2
1.3: Phân biệt khiếu nại – tố cáo 2
1.4 Ý nghĩa 4
CHƯƠNG II: QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG CÁC NGÀNH LUẬT KHÁC 4
2.1 Luật tố cáo 2018 bao gồm 9 chương với 67 điều cụ thể như sau: 4
2.2 Luật khiếu nại 2011 bao gồm 8 chương với 70 điều cụ thể như sau: 5
2.3 B lu t Tốố t ng Dân s 2015 và B lu t Tốố T ng Hình s 2015………ộ ậ ụ ự ộ ậ ụ ự 5 CHƯƠNG III: CÁC TRƯỜNG HỢP BỊ HẠN CHẾ CỦA QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO 5
3.1: Quyền khiếu nại bị hạn chế theo Luật khiếu nại 5
3.2: Những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn của quyền tố cáo ……… 7
CHƯƠNG IV : KẾT LUẬN……… 8
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuốn sách “Các quyền của con người” ( 1791-1792), Thomas Paine viết: “ Hiến pháp không phải là một đạo luật của chính quyền nhưng là của nhân dân tạo dựng nên chính quyền và một chính quyền không có Hiến pháp là quyền lực không có quyền… Hiến pháp là một vấn đề đứng trước chính quyền và chính quyền chỉ là tay sai của Hiến pháp Hiến pháp là bản văn đặt nền móng cho một quốc gia hiện đại, là hiện thân của khế ước cơ bản giữa nhân dân và là hình thức cao nhất của pháp luật Thông qua Hiến pháp, con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức đánh đổi một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền để có được sự che chở của xã hội, đại diện bởi luật pháp…” Quyền con người là các quyền mà mỗi chúng ta phải được hưởng khi là một con người Các quyền này là những quyền tự nhiên, phổ quát về tự do, công bằng, về các quyền lợi thiết thực mà mỗi người cần được đảm bảo để sống hạnh phúc, xứng đáng với phẩm giá của một con người “Quyền con người” chính là bí quyết dẫn tới sự phát triển, thịnh vượng vượt bậc của nhiều nước trên thế giới biết tôn trọng và phát huy nó một cách đầy đủ, thiết thực Một trong những quyền cơ bản nhất của con người, không thể không kể đến quyền khiếu nại, tố cáo và được quy định tại Điều 30 Hiến pháp 2013 Việc Hiến pháp ghi nhận quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cho thấy vị trí, vai trò vô cùng quan trọng của quyền năng pháp lý này Sinh thời chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến giải quyết khiếu nại và ý nghĩa của công tác này trong củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân Người đã dặn dò các cơ quan Nhà nước “Đồng bào có oan ức mới khiếu nại hoặc vì chưa hiểu chính sách của Đảng và Chính phủ mà khiếu nại Ta phải giải quyết nhanh, tốt thì đồng bào mới thấy
rõ Đảng và Chính phủ quan tâm lo lắng tới quyền lợi của họ Do đó, mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Chính phủ ngày càng được củng cố tốt hơn” Giải quyết tốt khiếu nại của công dân góp phần ổn định chính trị xã hội, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, từ đó tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển Tuy nhiên, việc khiếu nại và tố cáo trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc phần lớn là do hệ thống pháp luật thường xuyên thay đổi, chưa theo kịp được yêu cầu phát triển của xã hội…Chính vì vậy, nhóm 5 xin phép được tóm lược lại một số nội dung liên quan đến quyền khiếu nại, tố cáo để mọi người được hiểu rõ hơn Từ đó, để tránh ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ
1.1: Cơ sở pháp lý
- Điều 30 Hiến pháp 2013
1.2: Nội dung
Điều 30 Hiến pháp 2013 quy định:
"1 Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật
3 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác."
1.3: Phân biệt khiếu nại – tố cáo
Tiêu
chí
Luật
điều
chỉnh
Khái
niệm
Là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc
cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật
này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết
định hành chính, hành vi hành chính của
cơ quan hành chính nhà nước, của người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ,
công chức khi có căn cứ cho rằng quyết
định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Chủ
thể có
quyền
Công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ,
công chức thực hiện quyền khiếu nại
Công dân
Đối
tượng
- Quyết định hành chính
- Hành vi hành chính của cơ quan hành
chính nhà nước, của người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước
- Hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm
vụ, công vụ;
- Hành vi vi phạm pháp luật 2
Trang 5- Quyết định kỷ luật cán bộ, công chức về quản lý nhà nước trong
các lĩnh vực
Yêu
cầu
về
tính
chính
xác
của
thông
tin
khiếu
nại,
tố cáo
- Không có quy định - Người tố cáo phải:
- Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo
- Nếu tố cáo sai có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội vu khống tại Bộ Luật hình sự 2015
Thời
hiệu
- Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ
ngày nhận được quyết định hành chính
hoặc biết được quyết định hành chính,
hành vi hành chính
- Đối với trường hợp khiếu nại Quyết định
kỷ luật cán bộ, công chức:
+ Khiếu nại lần đầu thì thời hiệu là 15
ngày kể từ ngày nhận quyết định
+ Khiếu nại lần hai là 10 ngày, kể từ ngày
cán bộ, công chức nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại lần đầu
+ Đối với quyết định kỷ luật buộc thôi
việc thì thời hiệu khiếu nại lần hai là 30
ngày, kể từ ngày cán bộ, công chức nhận
được quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu
- Không quy định vì nó phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của người tố cáo
Về
việc
- Người khiếu nại có thể rút khiếu nại tại
bất cứ thời điểm nào trong quá trình khiếu
- Người tố cáo chỉ có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo
Trang 6đơn
khiếu
nại,
tố cáo
nại và giải quyết khiếu nại
- Cơ quan nhà nước đình chỉ việc giải
quyết khi người khiếu nại rút đơn
hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo
- Cơ quan Nhà nước vẫn tiếp tục giải quyết vụ việc tố cáo nếu có căn cứ cho rằng hành
vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật, hoặc người
tố cáo bị uy hiếp, mua chuộc
1.4: Ý nghĩa
- Là quyền dân chủ quan trọng trong đời sống của công dân, thể hiện mối quan hệ giữa
Nhà nước và công dân: Nhà nước đảm bảo để công dân thực hiện các quyền dân chủ của mình, công dân có quyền sử dụng và có nghĩa vụ thực hiện các quyền dân chủ này một cách tích cực
- Là cơ sở pháp lí để công dân thực hiện một cách có hiệu quả quyền công dân, để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Là phương tiện cho công dân tham gia quản lí nhà nước và xã hội
- Thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, quyền công dân được đảm bảo, bộ máy
nhà nước ngày càng được củng cố vững mạnh
CHƯƠNG II: QUYỀN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG CÁC NGÀNH LUẬT KHÁC
Khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân được Hiến pháp cũng như nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước ta ghi nhận Để thể chế hóa quyền khiếu nại, tố cáo của công dân, Quốc hội đã họp và ban hành Luật khiếu nại và Luật tố cáo
Sau nhiều lần sửa đổi thì Luật tố cáo hiện hành là Luật tố cáo 2018 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 5, mang số hiệu 25/2018/QH14 được ban hành vào ngày 12 tháng 06 năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2019
2.1 Luật tố cáo 2018 bao gồm 9 chương với 67 điều cụ thể như sau:
Chương I: Những quy định chung (8 điều từ điều 1 đến điều 8)
4
Trang 7Chương II: Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết
tố cáo gồm 3 điều từ điều 9 đến điều 11
Chương III: Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện
nhiệm vụ, công vụ gồm 28 điều, từ điều 12 đến điều 40
Chương IV: Giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước
trong các lĩnh vực gồm 3 điều từ điều 41 đến điều 43
Chương V: Trách nhiệm tổ chức thực hiện kết luận nội dung tố cáo gồm 3 điều, từ
điều 44 đến điều 46
Chương VI: Bảo vệ người tố cáo gồm 12 điều, từ điều 47 đến điều 58
Chương VII: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc quản lý công tác giải quyết
tố cáo gồm 3 điều, từ điều 59 đến điều 61
Chương VIII: Khen thưởng và xử lý vi phạm gồm 4 điều, từ điều 62 đến điều 65 Chương IX: Điều khoản thi hành gồm 2 điều, từ điều 66 đến điều 67
Luật khiếu nại hiện hành là Luật khiếu nại 2011 số 02/2011/QH13 được ban hành vào ngày 11 tháng 11 năm 2011 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2012
2.2 Luật khiếu nại 2011 bao gồm 8 chương với 70 điều cụ thể như sau: Chương I: Những quy định chung gồm 6 điều, từ điều 1 đến điều 6
Chương II: Khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính gồm 10 điều, từ điều
7 đến điều 16
Chương III: Giải quyết khiếu nại gồm 19 điều, từ điều 17 đến điều 46
Chương IV: Khiếu nại, giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật cán bộ, công chức gồm
12 điều, từ điều 47 đến điều 58
Chương V: Tiếp công dân gồm 4 điều, từ điều 59 đến điều 62
Chương VI: Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc
quản lý công tác giải quyết khiếu nại gồm 4 điều, từ điều 63 đến điều 66
Chương VII: Xử lý vi phạm gồm 2 điều, điều 67 và điều 68
Chương VIII: Xử lý vi phạm gồm 2 điều, điều 69 và điều 70
2.3 Bộ luật Tố Tụng Dân sự 2015 và Bộ luật Tố Tụng Hình sự 2015
Bên cạnh đó, quyền khiếu nại, tố cáo còn được cụ thể hóa trong Bộ luật tố tụng hình
sự và Bộ luật tố tụng dân sự: Trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã dành cả chương XLI gồm 17 điều từ điều 499 đến điều 515 với tên gọi “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự” Trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã dành cả chương XXXIII gồm 15 điều
từ điều 469 đến điều 483 với tên gọi “ Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự”
CHƯƠNG III: CÁC TRƯỜNG HỢP BỊ HẠN CHẾ CỦA QUYỀN KHIẾU
NẠI, TỐ CÁO
Trang 83.1: Quyền khiếu nại bị hạn chế theo Luật khiếu nại
Theo quy định tại điều 11 của Luật Khiếu nại, các trường hợp không được thụ lý khiếu nại gồm:
Thứ nhất, theo khoản 1 điều 11 Luật khiếu nại, quyết định hành chính hành vi là:
trong nội bộ cơ quan nhà nước, chỉ đạo của cơ quan cấp trên với cấp dưới; chứa quy phạm pháp luật do cơ quan có thầm quyền ban hành; thuộc bí mật quốc gia Quy định này đã không thống nhất với các quy định khác về phạm vi đối tượng điều chỉnh Điều này đã không phát huy được tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nền hành chính quốc gia trong việc giải quyết khiếu nại
Thứ hai, “Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực
tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại” Tuy quy định này là phù hợp với mục đích của khiếu nại hành chính, nhưng lại không phản ánh được lí do của khiếu nại được quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật: “Người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi bị khiếu nại là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”
Thứ ba, “Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có
người đại diện hợp pháp” Đây là quy định thiếu chặt chẽ bởi trường hợp người khiếu nại hành chính là cơ quan, tổ chức thì không cần phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Thứ tư, “Người đại diện không hợp pháp thực hiện khiếu nại” Có thể thấy, Luật không
quy định rõ ràng thế nào là người đại diện hợp pháp
Thứ năm, “ Đơn khiếu nại không có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại” Quy
định này không hợp lí về mặt thực tiễn pháp lí vì người không có khả năng điều khiển hành vi của mình thì không thể ký tên hay điểm chỉ vào đơn khiếu nại được
Thứ sáu, “ Thời hiệu, thời hạn khiếu nại đã hết mà không có lí do chính đáng” Tuy
vậy, luật không quy định rõ ràng thế nào là “lí do chính đáng”
Thứ bảy, “Khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai” Tuy quy định này
là cần thiết để tạo điểm "dừng" trong phương thức giải quyết khiếu nại hành chính, nhưng lại không phản ánh hết các trường hợp không được thụ lí khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính do khiếu nại vi phạm về trình tự và trường hợp được quy định tại Điều 7 của Luật khiếu nại
Thứ tám, “ Có văn bản thông báo đình chỉ việc giải quyết khiếu nại mà sau 30 ngày
người khiếu nại không tiếp tục khiếu nại” Như vậy, các quy định này đã tạo cơ hội cho người khiếu nại hành chính tuỳ tiện trong việc rút và tiếp tục khiếu nại Điều này không những không cần thiết mà còn gây khó khăn và làm gia tăng áp lực công việc giải quyết khiếu nại hành chính cho nền hành chính quốc gia
6
Trang 9Thứ chín, “ Việc khiếu nại đã được tòa án thụ lí hoặc đã được giải quyết bằng bản án,
quyết định của toà án, trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của tòa án Quy định này có nhiều ưu điểm, cụ thể: bảo đảm được nguyên tắc một vụ việc tranh chấp không thể đồng thời vừa được giải quyết khiếu nại hành chính vừa được xét xử hành chính; thể hiện được quan điểm toà án là trung tâm của hệ thống bảo vệ công lí hành chính, là phương thức cuối cùng để giải quyết tranh chấp hành chính nhưng vẫn bảo đảm được cơ hội thay đổi phương thức giải quyết tranh chấp hành chính của chủ thể có quyền khiếu kiện hành chính
3.2: Những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn của quyền tố cáo
Thứ nhất, về thẩm quyền tố cáo: Khoản 1 Điều 12 Luật Tố cáo quy định “Tố cáo hành
vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức đó giải quyết” Tuy nhiên, thực tế với nhiều vụ việc cụ thể, việc áp dụng xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo theo quy định còn chưa thống nhất, còn có những vướng mắc do xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo tại thời điểm tố cáo hay tại thời điểm người bị tố cáo thực hiện hành vi bị tố cáo
Thứ hai, về thời hiệu tố cáo: thực tế có nhiều hành vi vi phạm pháp luật đã diễn ra từ
lâu không còn tính nguy hiểm cho xã hội nhưng cơ quan nhà nước vẫn xem xét thụ lý, giải quyết Điều này gây lãng phí tốn kém ngân sách nhà nước Do vậy cần nghiên cứu
kỹ lại và đưa ra thời hạn tố cáo cho các loại vụ việc một cách thỏa đáng
Thứ ba, về thời hạn giải quyết tố cáo: Điều 21 Luật Tố cáo quy định thời hạn giải
quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày Như vậy, theo quy định này thì thời hạn giải quyết tố cáo ít nhất là 60 ngày và nhiều nhất là 150 ngày kể
từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo Thực tế có nhiều vụ việc phức tạp và nguồn nhân lực
để xử lý vụ việc tại địa phương đó không thể đáp ứng giải quyết vụ việc trong thời gian nêu trên Vì vậy có lẽ nên nghiên cứu nới lỏng thời gian tố cáo với một số vụ việc
có tính chất phức tạp
Thứ tư, về tố cáo tiếp: điểm b, c Khoản 2 Điều 27 Luật Tố cáo quy định “Trường hợp
việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cấp dưới trực tiếp là đúng pháp luật thì không giải quyết lại, đồng thời thông báo cho người tố cáo về việc không giải quyết lại
và yêu cầu họ chất dứt việc tố cáo; Trường hợp việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật thì tiến hành giải quyết lại ” Tuy nhiên, trên thực tế rất khó để xác định được “việc giải quyết tố cáo của người
Trang 10đứng đầu cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật” hoặc “việc giải quyết tố cáo của người đứng đầu cơ quan cấp dưới trực tiếp là không đúng pháp luật” nếu như không xác minh, xem xét vụ việc cụ thể đó
Thứ năm, về bảo vệ người tố cáo: Việc bảo vệ người tố cáo đã được Luật Tố cáo và
Nghị định số 76/20012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo quy định Tuy nhiên, quy định “khi có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, xâm hại đến tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm ” còn rất chung chung, khó xác định ở chỗ những biểu hiện nào, hành vi nào thì được coi là có căn cứ Điều này khiến cho người nhân ngại tố cáo hoặc tố cáo nặc danh, chưa tạo sự yên tâm cho người thực hiện tố cáo
Thứ sáu, về tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ: Nhà nước chưa công nhận những thư tố
cáo không rõ họ tên, địa chỉ, bút tích Trong thực tế có nhiều vụ việc thư tố cáo không
để rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo mà lại cung cấp đầy đủ chứng cứ, căn cứ về hành vi mình tố cáo vẫn được cơ quan chức năng xem xét, giải quyết nhưng một số vụ việc thì không
Thứ bảy, về khen thưởng người tố cáo: Luật tố cáo đã có quy định về mức khen
thưởng cho người tố cáo nhưng chưa tương xứng với công sức để thu thập thông tin, tài liệu xác thực về hành vi vi phạm pháp luật đó
Thứ tám, về vấn đề xử lý hành vi vi phạm pháp luật tố cáo: Việc xử lý hành vi vi phạm
các quy định pháp luật về tố cáo theo quy định tại Điều 46, 47 và Điều 48 Luật Tố cáo còn gặp nhiều khó khăn Pháp luật hiện nay còn thiếu các quy định cụ thể về việc xử phạt vi phạm trong lĩnh vực tố cáo Vì vậy, các cơ quan còn lúng túng, khó khăn khi
xử lý đối với những hành vi vi phạm quy định pháp luật về tố cáo
CHƯƠNG IV: K T LU N ẾẾ Ậ Tóm lại, quyền khiếu nại, quyền tố cáo là những quyền cơ bản của công dân đã được
Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện Qua quá trình phát triển của pháp luật và qua những đòi hỏi của thực tiễn mà khiếu nại và tố cáo dần dần có sự phân biệt và qua một thời gian đã dẫn đến việc xuất hiện hai đạo Luật: Luật Khiếu nại năm 2011 và Luật Tố cáo năm 2011 riêng biệt (hiện nay Luật Tố cáo năm 2011 đã được thay thế bằng Luật Tố cáo năm 2018 với nhiều thay đổi tích cực hơn và tiến bộ hơn) Tuy nhiên, thực tế hiện nay đạo Luật này mới có hiệu lực thi hành nên chưa thể hiện được nhiều các tác dụng của các quy định mới cùng với đó là nhiều điểm hạn chế, bất cập Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, trên thực tiễn việc phân định giữa khiếu nại và
tố cáo là công việc không hề đơn giản, sự phức tạp có thể do nhiều nguyên nhân, từ sự phân tích các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại,
tố cáo Dựa trên những lý thuyết và thực tiễn đã nghiên cứu từ trước nhóm đã đưa ra
8