Nghiên cứu hình thái và giải phẫu lá của một số loài thuộc họ Đước (Rhizophoraceae) tại khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
***************
PHAN THỊ MỸ HẠNH
NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU LÁ CỦA MỘT
SỐ LOÀI THUỘC HỌ ĐƯỚC (Rhizophoraceae) TẠI
KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH LÂM NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
***************
PHAN THỊ MỸ HẠNH
NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI VÀ GIẢI PHẪU LÁ CỦA MỘT
SỐ LOÀI THUỘC HỌ ĐƯỚC (Rhizophoraceae) TẠI
KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN CẦN GIỜ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Lâm Nghiệp
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS VIÊN NGỌC NAM
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 07/2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến Tiến sĩ Viên Ngọc Nam – Một nhà khoa học say mê nghiên cứu và mang nhiều hoài bão lớn – Một người Thầy đáng kính đã hết lòng dạy dỗ, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành kính gửi lời cảm ơn đến:
Cha, Mẹ, Em trai đã luôn tin tưởng, làm chỗ dựa tinh thần cho tôi, luôn ủng
hộ, động viên và tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể toàn tâm học tập trong suốt quãng đường sinh viên
Thầy Quách Văn Toàn Em - Trưởng phòng Thí nghiệm Di truyền - Tiến hóa - Thực vật, Khoa Sinh học, trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Chú Sáu thuộc tiểu khu 10C, Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu mẫu tại Vườn Sưu tập thực vật cây ngập mặn tại Cần Giờ
Quý Thầy, Cô trong khoa Lâm nghiệp, trường Đại học Nông Lâm thành phố
Hồ Chí Minh đã đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Các anh, chị đang công tác tại Phòng Kỹ thuật của Ban Quản lý rừng phòng
hộ Cần Giờ, đặc biệt anh Bùi Nguyễn Thế Kiệt đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận
Tôi cũng xin cảm ơn bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này
Do thời gian thực hiện đề tài ngắn, kiến thức bản thân có hạn nên không tránh khỏi những thiếu xót Rất mong được sự đóng góp, chỉ bảo của quý Thầy,
Cô và bạn bè để khóa luận có thể hoàn thiện hơn
TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu hình thái và giải phẫu lá của một số loài thuộc họ
Đước (Rhizophoraceae) tại Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ, thành phố Hồ Chí
Minh” được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2011 tại địa bàn huyện Cần Giờ,
Tp HCM
Kết quả đề tài thu được:
- Đã xây dựng 12 phương trình tương quan giữa các chỉ tiêu của các loài cây nghiên cứu: Gồm 6 phương trình tương quan giữa chiều rộng và chiều dài lá gồm 6 phương trình và 6 phương trình tương quan giữa diện tích với chiều dài và chiều rộng của lá
- Vẹt dù là loài có chiều dài lá trung bình lớn nhất, Trang ổi là loài có chiều dài
- Diện tích lá giữa các loài có khác nhau: Vẹt dù có diện tích lá trung bình lớn nhất trong 6 loài, Trang ổi có diện tích lá trung bình nhỏ nhất
- Ở lá, sự hình thành cấu trúc để giữ nước nhằm pha loãng nồng độ muối cao của hạ bì là đáp ứng môi trường nước mặn gây bất lợi cho cây Cấu trúc ngăn cản sự mất nước như có tầng cutin dày ở biểu bì lá, giúp cây sử dụng nước tiết kiệm trong điều kiện thiếu nước ngọt Rải rác trong thịt lá có các thể cứng tăng sự vững chắc cho lá Một số loài còn có thêm vòng mô cứng bao quanh bó dẫn
- Đưa ra được bộ tiêu bản cố định về giải phẫu lá của 6 loài cây
Trang 63.1 Nội dung 11
Trang 74.2.3 Thống kê mô tả diện tích (S) của lá các loài cây 29 4.2.4 Thống kê mô tả tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng lá của các loài cây 30
4.3.1 Tương quan giữa chiều dài (L) và chiều rộng (W) lá của các loài cây 34
Trang 84.5.6 Lá Trang ổi 54
Trang 9L/W Tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng
(L/W)TB Tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng trung bình
Trang 10Kc Trang (Kandelia candel (L.) Druce.)
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 3.2 Hình biểu thị các chỉ tiêu của lá Vẹt trụ 15
Hình 3.4 Cây Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica (L.) Blume) 20
Hình 3.5 Cây Vẹt tách (Bruguiera parviflora (Roxb.)) 20
Hình 3.6 Cây Vẹt đen (Bruguiera sexangula (Lour.) Poir in Lamk.) 21
Hình 3.7 Cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) LamK) 22
Hình 3.8 Cây Trang (Kandelia candel (L.) Druce.) 23
Hình 3.9 Cây Trang ổi (Kandelia obovata Sheue, Liu và Yong) 24
Hình 4.2 Đồ thị biểu thị các mức tỷ lệ L/W lá của 6 loài 32
Hình 4.3 Đồ thị so sánh chiều dài, tỷ lệ giữa chiều rộng và chiều dài lá các loài 33
Hình 4.4 Đồ thị biểu thị tương quan giữa chiều dài và chiều rộng lá của loài Vẹt trụ 35 Hình 4.5 Đồ thị biểu thị tương quan giữa chiều dài và chiều rộng lá Vẹt tách 36
Hình 4.6 Đồ thị biểu thị tương quan giữa chiều dài và chiều rộng lá Vẹt đen 37
Hình 4.7 Đồ thị biểu thị tương quan giữa chiều dài và chiều rộng lá Vẹt dù 38
Hình 4.8 Đồ thị biểu thị tương quan giữa chiều dài và chiều rộng lá Trang 39
Hình 4.9 Đồ thị biểu thị tương quan giữa chiều dài và chiều rộng lá Trang ổi 40
Hình 4.10 Đồ thị biểu thị tương quan giữa chiều dài và chiều rộng lá của 6 loài 41
Trang 12Hình 4.15 Hình giải phẫu lá Trang 54
Hình 4.17 Hình dạng gân lá sau khi giải phẫu của 6 loài 56
Hình 4.18 Bộ tiêu bản giải phẫu lá của 6 loài cây 57
Trang 13DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Thống kê mô tả chiều dài (L) của lá ở các loài cây 27
Bảng4.2 Thống kê mô tả chiều rộng (W) của lá ở các loài cây 28
Bảng 4.3 Thống kê mô tả diện tích (S) lá của các loài cây 29
Bảng 4.4 Thống kê mô tả tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của lá các loài cây 30
Bảng 4.5 Tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của lá cây Vẹt trụ 34
Bảng 4.6 Tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của lá cây Vẹt tách 35
Bảng 4.7 Tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của lá cây Vẹt đen 36
Bảng 4.8 Tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của lá cây Vẹt dù 37
Bảng 4.9 Tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của lá cây Trang 38
Bảng 4.10 Tương quan giữa chiều dài và chiều rộng của lá cây Trang ổi 40
Bảng 4.11 Tương quan giữa diện tích với chiều dài và chiều rộng lá của Vẹt trụ 42 Bảng 4.12 Tương quan giữa diện tích với chiều dài và chiều rộng lá của Vẹt tách 43
Bảng 4.13 Tương quan giữa diện tích với chiều dài và chiều rộng lá của Vẹt đen 44 Bảng 4.14 Tương quan giữa diện tích với chiều dài và chiều rộng lá của Vẹt dù 44 Bảng 4.15 Tương quan giữa diện tích với chiều dài và chiều rộng lá của Trang 45
Bảng 4.16 Tương quan giữa diện tích với chiều dài và chiều rộng lá của Trang ổi 46
Bảng 4.17 Phân tích ANOVA chiều dài lá của các loài 47
Bảng 4.18 Phân tích ANOVA chiều rộng lá của các loài 48
Bảng 4.19 Phân tích ANOVA diện tích lá của các loài 49
Bảng 4.20 Phân tích ANOVA tỷ lệ L/W lá của các loài 50
Bảng 4.21 Bảng so sánh các tế bào lá sau khi giải phẫu của 6 loài 55
Trang 14hệ sinh thái rừng RNM xuất hiện ở vùng ven biển nhiệt đới, nơi mà nước triều thường xuyên xảy ra, nó thường phân bố ở các vùng bờ biển có bùn, các cửa sông lớn, các vịnh cạn và các đầm mặn tiếp giáp với biển, là hệ sinh sinh thái độc đáo, các loài cây trong hệ thống rừng ngập mặn chủ động thích nghi với môi trường sống khắc nghiệt, phát triển tốt trong điều kiện đặc biệt mà ít có loại cây nào có thể sống được, hệ thống rễ có khả năng loại bỏ muối rất hiệu quả, không ngừng bồi đắp phù
sa, đó cũng là điểm đặc trưng của thực vật sống trong quần xã rừng ngập mặn Rừng ngập mặn có vai trò rất lớn đối với môi trường, là lá chắn gió, bão giữ cho vùng bờ ven biển không bị xói mòn, nơi cư trú của nhiều loài động vật Tạo nên một hệ sinh thái đa dạng, có giá trị về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội rất cao là nguồn tài nguyên ven biển quý giá và hữu ích
Rừng ngập mặn Cần Giờ có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với thành phố
Hồ Chí Minh và các vùng lân cận trong việc điều hòa khí hậu, phòng chống bão, nơi cư trú của các loài động thực vật, là “lá phổi xanh” và khu dự trữ đa dạng sinh học của thành phố
Trước năm 1975, RNM Cần Giờ là rừng nguyên sinh bao phủ một vùng rộng lớn trên 40.000 ha thuộc tỉnh Gia Định và một phần Biên Hòa – Đồng Nai [1] Hàng năm thông qua công tác tỉa thưa chăm sóc rừng đã cung cấp hàng chục ngàn stere củi, cừ, cột và chất lợp cho nhân dân địa phương, thành phố và các vùng lân cận, tạo
Trang 15công ăn việc làm cho nhân dân, góp phần cải tạo môi trường cho thành phố và các vùng phụ cận Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, rừng ngập mặn Cần Giờ đã bị bom đạn, thuốc khai quang và bị chặt phá bừa bãi đã làm cho rừng trở nên nghèo kiệt Từ năm 1978 đến nay, việc trồng lại RNM đã đem lại kết quả, nhất là khôi phục lại hệ sinh thái đa dạng của RNM Ngoài ra, RNM Cần Giờ cũng là nơi trú ẩn cho các loài động vật và là vùng đất sản sinh môi trường sống của một số loài
có giá trị kinh tế cao Rừng Cần Giờ cũng đã bảo vệ bờ biển để hạn chế xói mòn, cố định đất và lấn biển, cản gió, bão và hạn chế các phá hoại của thiên nhiên
Trong thời gian qua, qua từng thời kỳ rừng ngập mặn Cần Giờ đã là rừng kinh
tế, rừng phòng hộ, khu bảo tồn thiên nhiên và được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển của thế giới và là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên của Việt Nam vào năm 2000 [1] Sau 25 năm khôi phục, hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ đã được phục hồi và nổi tiếng trên thế giới do việc tái tạo lại rừng ngập mặn với diện tích lớn sau chiến tranh Vì thế RNM Cần Giờ rất có ý nghĩa về môi trường, kinh tế – xã hội cho nhân dân địa phương, thành phố và cả thế giới
Rừng ngập mặn Cần Giờ chịu ảnh hưởng của mực nước biển, độ mặn, nhiệt độ không khí, dinh dưỡng của đất nền, rừng đa dạng với hệ động thực vật phong phú
và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Rừng có hệ rễ rất đặc biệt và còn là nơi cư trú của nhiều loài thuỷ sản, lá cây rừng khi rụng xuống qua thời gian phân hủy tạo thành lớp mùn là nguồn thức ăn dồi dào cho các loài phiêu sinh vật, chúng là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài cá, tôm, cua… Tạo nên một nguồn thực phẩm thuỷ sản lớn cung cấp cho người dân nơi đây Do những lợi ích RNM đem lại mà hiện nay lượng khai thác tài nguyên rừng ngày càng tăng mạnh theo chiều hướng tiêu cực, khai thác bừa bãi, sử dụng tài nguyên rừng một cách rất hoang phí, không có trách nhiệm bảo vệ… Con người ngày càng phải đối mặt với những hiểm họa về môi trường sống do ô nhiễm, thiên tai, sự nóng dần lên của trái đất
Để góp phần bảo vệ môi trường thiên nhiên nói chung và hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ nói riêng thì hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về đa dạng
Trang 16sinh học, về cấu trúc của rừng ngập mặn Cần Giờ, nhưng có ít tài liệu nghiên cứu về hình thái và cấu tạo giải phẫu các loài
Vì vậy, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình thái và giải phẫu lá
của một số loài thuộc họ Đước (Rhizophoraceae) tại Khu Dự trữ sinh quyển
Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh” nhằm nắm bắt sự đa dạng về hình thái các bộ
phận cây, để có thể nhận biết và phân biệt dễ dàng hơn nhằm phục vụ cho việc tham quan học tập đồng thời góp phần vào việc bảo tồn và phát triển RNM Cần Giờ
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu hình thái và giải phẫu lá của một số loài thuộc họ Đước
- Giải phẫu lá 6 loài cây thuộc họ Đước làm tiêu bản để góp phần giáo dục cho học sinh, sinh viên
Liu và Yong) tại Khu Dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ
Trang 17Chương 2
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về rừng ngập mặn
2.1.1 Khái niệm về rừng ngập mặn
Thuật ngữ rừng ngập mặn (mangrove), rất khó định nghĩa chính xác Theo một
số tác giả từ ‘mangrove” được dùng để chỉ các loài thực vật hoặc một khu rừng có nhiều loài cây sống trong môi trường đầm lầy ven biển Quần xã thực vật ngập mặn bao gồm nhiều chi và họ thực vật đa số không có quan hệ họ hàng, nhưng vẫn có những nét chung các đặc tính hình thái, sinh lý và sinh sản phù hợp với môi trường hết sức khó khăn là ngập mặn, thiếu không khí và đất không ổn định
2.1.2 Phân bố RNM
2.1.2.1 Trên thế giới
- RNM phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu (phần lớn thuộc về khu vực bờ biển khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương)
- Tổng diện tích RNM trên toàn thế giới còn khoảng 15 triệu ha [25]
- Một số loài có thể mở rộng khu phân bố lên phía Bắc tới Bermuna (32020’ Bắc) và Nhật Bản (31022’ Bắc) như Trang (Kandelia candel), Vẹt dù (Bruguiera
gymnorrhiza), Đâng (Rhizophora stylosa)… và về phía Nam là Newzealand (38003’ Nam) và phía Nam Australia (38043’ Nam) chỉ có loài Mắm biển (Avicennia
marina)
2.1.2.2 Ở Việt Nam
- Việt Nam thuộc Đông Nam Á, có đường bờ biển trên 3.000 km [23]
- RNM Việt Nam theo thống kê năm 1943 là hơn 400.000 ha, đến năm 1982 còn khoảng 252.000 ha Năm 2002, diện tích RNM ước tính còn khoảng 155.000 ha [23]
Trang 18- RNM Việt Nam phân bố và phát triển mạnh ở miền Nam, đặc biệt là ở bán đảo Cà Mau – đồng bằng sông Cửu Long
2.2 Các công trình nghiên cứu về giải phẫu các loài cây RNM
2.2.1 Những nghiên cứu trên thế giới
- Nghiên cứu hình thái, giải phẫu trên một số loài CNM có Areschoug D (1902), Mullan C (1931), Walter H (1936), Metcalfe D và Chalk H (1950), Chapman V (1975), Youssef T và cs (1996) Các tác giả cho thấy, trong cấu trúc giải phẫu của chúng hình thành tổ chức chứa nước và ngăn cản sự thoát hơi nước như có lớp tế bào hạ bì, tầng cutin dày [13]
- Walter H (1961), Jennings D H (1968), Joshi G và cs (1975) Dựa vào khả năng điều chỉnh muối trong cơ thể CNM lại chia thành 3 nhóm:
+ Nhóm cây cản muối (salt – excluding) gồm các loài thuộc họ Đước
(Rhizophoraceae)
+ Nhóm tiết muối ra ngoài (salt – excreting) có tuyến tiết muối gồm các loài
thuộc chi Mắm (Avicennia), Ô rô (Acanthus) và Sú (Aegiceras)
+ Nhóm cây tích tụ muối (salt – accumulating) tích tụ muối ở lá sắp rụng
gồm các loài thuộc chi Bần (Sonneratia), Cóc (Lumnitzera) và Giá (Exccecaria
agallocha) [13]
- Đặc điểm lớp biểu bì dày, tầng cutin dày ở mặt trên lá có tác dụng làm giảm
sự mất nước Saenger P (1982) đã nghiên cứu sự sinh trưởng của chi Đước và chi Bần ở môi trường có độ muối cao cũng cho thấy xuất hiện sự mọng nước là phản ứng thích nghi của cây với NaCl Ông cho rằng lá của hầu hết CNM mang hàng loạt đặc điểm của cây chịu hạn với chức năng bảo toàn nước Mọng nước là đặc điểm của lá cây RNM và nó cũng là đặc tính của cây chịu hạn [13]
- Tomlinson (1986) nghiên cứu về thực vật RNM cho rằng: Các loài CNM có những đặc điểm thích nghi với môi trường sống rất độc đáo Sống trong điều kiện ngập nước, các loài CNM đã có một hệ rễ vững chắc như Chi Đước, chi Vẹt có hệ
rễ chống, chi Mắm, chi Bần có hệ rễ hô hấp Ở chi Sú, chi Ô rô, chi Mắm có tuyến
Trang 19tiết muối để loại muối ra khỏi cơ thể Một số loài có hiện tượng sinh hạt nảy mầm sau khi chín và không có thời kỳ nghỉ [20]
- Nandy Datta, Paramita, Das, Sauren và cs (2007) Nghiên cứu ảnh hưởng của
độ mặn lên quá trình quang hợp, cấu tạo giải phẫu lá, sự tích lũy ion và việc sử dụng nitơ tổng hợp có ảnh hưởng đến 5 loài CNM ở Ấn Độ [3]
2.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
- Ở Việt Nam có một số công trình nghiên cứu những đặc điểm giải phẫu của
rễ, thân, lá, trụ mầm một số loài cây sống trong môi trường lầy mặn của một số tác giả như N T Chỉnh (1981), T V Ba (1984), V T X Dung (1984), N T B Khanh (1984), Chu Thị Thìn (1984), N K Lân (1996), N T H Liên (1998), Trần Thị Phương (2002) Các nghiên cứu cho nhận xét lá các cây sống trong môi trường ngập mặn có một số đặc điểm cấu trúc tương tự nhau như: Lá có tầng hạ bì, gân lá phát triển mạnh, các mạch của gân bé, thành dày, các tế bào thịt lá có kích thước bé (trừ tế bào mô nước), biểu bì có vách thẳng có nhiều lỗ khí Cấu trúc thân, rễ có các khoảng gian bào chứa khí và có các tổ chức cơ học có tác dụng nâng đỡ cho cây [12]
- Nguyễn Khoa Lân (1997) nghiên cứu giải phẫu hình thái thực vật Kết quả cho thấy: Để thích nghi ở môi trường đất lầy ngập mặn, ở loài Đước có rễ chống với
lỗ vỏ lớn Ở Bần, Mắm có rễ thở với mô mềm vỏ rễ có nhiều khoảng gian bào để chứa khí Thân Sú có những tế bào mô cứng hình vòng Các tinh thể oxalat calxi có nhiều ở thân Đước, Vẹt Ở thân Mắm có vòng mô cứng bao quanh phần trụ, nhiều vòng mạch gỗ nằm xen với các sợi gỗ Ở Bần và Cóc, mô giậu có ở cả hai mặt lá, biểu bì thường có cutin dày, ở Mắm, Sú, Ôrô lá có nhiều tuyến tiết muối [9]
- Phan Nguyên Hồng và cs (1998) đã nghiên cứu vai trò của RNM Việt Nam
kỹ thuật trồng và chăm sóc, kết quả nghiên cứu cho thấy các loài cây RNM có những đặc điểm thích nghi với điều kiện sống Sống ở nơi có độ mặn cao, đất ngập nước, thiếu không khí, điều kiện khí hậu nóng ẩm vùng nhiệt đới, cây có khả năng giữ cân bằng sinh lý giữa điều tiết muối, điều tiết nước và quang hợp có hiệu quả
Trang 20thân, lá, đặc biệt, ở lá của một số loài còn có tuyến tiết muối nhờ đó mà cây có thể cân bằng muối, thích nghi và tồn tại [5]
- Phan Nguyên Hồng và cs (1995, 1997), N H Trí (1999) cho rằng: CNM thích nghi với môi trường mặn thể hiện qua hình thái, cấu tạo giải phẫu của rễ, thân,
lá, qua đặc điểm sinh lý, sinh hoá và sinh sản của cây và chúng mang đặc điểm của cây chịu hạn [5]
- Bùi Văn Toàn (2002) nghiên cứu tăng trưởng của cây Cóc trắng (Luminitzeta
racemosa) trồng trong đầm nuôi tôm bỏ hoang và tái sinh tự nhiên ở Lâm viên Cần
Giờ, trong đó có nghiên cứu về cấu tạo giải phẫu lá Kết quả cho thấy, lá Cóc trắng trồng ở môi trường ngập nước thường xuyên 10 – 15 cm có độ dày của mô dậu trên
ít hơn và độ dày của mô nước nhiều hơn lá Cóc trắng tái sinh ở ven rạch – nơi chỉ ngập 5 cm khi triều lên [17]
- Quách Văn Toàn Em (2007) nghiên cứu tăng trưởng của các loài cây Cóc đỏ
(Lumnitzets littorea (Jack) Voigh) với các chế độ muối khác nhau ở giai đoạn vườn
ươm Khi so sánh cấu tạo giải phẫu của lá và thân cây Cóc đỏ non ở các độ mặn 0
%, 25 % và 100 % độ mặn nước biển, tác giả kết luận nồng độ muối cao và thấp giữa các thí nghiệm không gây sự biến đổi trong cấu trúc giải phẫu của lá và thân cây Cóc đỏ nghiên cứu Song nồng độ muối cao làm thay đổi kích thước của lớp tế bào chứa nước [3]
2.3 Tổng quan về hệ sinh thái RNM Cần Giờ
2.3.1 Sơ lược về RNM ở Cần Giờ
- Cần Giờ là một huyện ven biển nằm ở phía Đông Nam của thành phố Hồ Chí Minh, diện tích của huyện là 7.042 km2 Địa hình chia cắt bởi sông, rạch, không có nước ngọt Về mặt tự nhiên, là một phần của đồng bồi Đồng Nai, có tên là Rừng Sác Gia Định [18]
- RNM Cần Giờ nằm trong khu vực thứ tư theo phân chia của Phan Nguyên Hồng (1988) [4], tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh Do vị trí địa lí nên nó có vai trò đặc biệt như một mô hình điển hình về việc quản lý bảo vệ rừng Việt Nam
Trang 21- RNM Cần Giờ vốn là khu rừng nguyên sinh xuất hiện cùng với quá trình hình thành bãi bồi vùng cửa sông ven biển với các loài phổ biến như: Đước
(Rhizophora apiculata), Dà (Ceriops spp), Vẹt (Bruguiera spp), Đưng (Rhizophora
mucronata)…
- Tính đến nay, ở Cần Giờ có 19.096 ha rừng trồng các loại với loài cây chính
là Đước đôi (Rhizophora apiculata) Sau khi trồng lại rừng ngập mặn, rừng đã phát
huy vai trò lấn biển, tạo điều kiện cho cây rừng tái sinh tự nhiên ngày càng nhiều,
10.820 ha rừng tự nhiên, trong đó loài Mấm trắng (Avicennia alba) và Bần trắng (Sonneratia alba) là loài cây tiên phong chiếm diện tích đáng kể trong số diện tích
rừng tự nhiên [10]
- Về thực vật ở Cần Giờ cũng phong phú và đa dạng gồm: thực vật rừng ngập mặn, vùng trên cao, vùng đồi núi (Núi Giồng Chùa), các cồn cát ven biển Thực vật RNM có 2 nhóm: Thực vật rừng ngập mặn thực sự và thực vật gia nhập rừng ngập mặn Qua những đợt khảo sát gần đây cho thấy ở Cần Giờ có 36 loài CNM thực sự,
trong đó có những loài quý hiếm như Cóc đỏ (Lumnitzera littorea), Đước lai (Rhizophora lamarkii), Ráng đại thanh (Acrostichum speciosium) cần được bảo tồn
và phát triển cùng với 53 loài cây gia nhập RNM [10]
- Với hệ thống sông rạch chằng chịt và RNM che phủ là môi trường, nguồn thức ăn, chỗ cư trú và nơi sinh sản thuận lợi cho các loài động vật rừng ngập mặn sinh trưởng và phát triển
2.3.2 Vai trò của RNM Cần Giờ
Sau khi rừng ngập mặn Cần Giờ được khôi phục lại, nó đã phát huy tích cực vai trò nhiều mặt của mình [11]:
- RNM Cần Giờ là “chiếc cầu nối” giữa biển và đất liền, cụ thể là biển Đông với thành phố Hồ Chí Minh, là cầu nối giữa Thành phồ Hồ Chí Minh với quốc tế thông qua đường thuỷ đi qua rừng ngập mặn Cần Giờ
- Là “bức tường” che chắn ven biển nhằm cản gió mạnh, hạn chế tác động của bão cũng như bờ kè nhằm bảo vệ bờ sông, hạn chế xói mòn Rừng ngập mặn cũng
Trang 22tháng 12/2004 cho thấy những nơi có rừng ngập mặn đã che chắn và hạn chế được nhiều thiệt hại về người và của
- RNM Cần Giờ được xem như là “ngôi nhà” ở cho nhiều loài sinh vật, chim, thú, tôm cá là nơi trú ngụ cũng như sinh sản và vườn ươm giống cho các loài thủy sản Trong vòng đời của một số loài thủy sản ở giai đoạn đầu các ấu trùng được sinh sản từ ngoài biển và bơi vào sống và sinh trưởng trong rừng ngập mặn đến khi trưởng thành lại ra biển để sinh sản, như thế rừng ngập mặn đã đóng vai trò là nơi sống cho các sinh vật rừng ngập mặn
- Trong RNM Cần Giờ có nhiều loài cây có giá trị làm thuốc để chữa bệnh cho con người Trong chiến tranh, bộ đội ta ở Cần Giờ đã dùng một số loài cây rừng ngập mặn để chữa bệnh như võ một số loài CNM chứa chất chát (tanin) có tác dụng chữa bệnh tiêu chảy hoặc một số loài cây khác có giá trị làm thuốc như Mấm trắng, Dừa lá, Sơn cúc hai hoa, Ô rô, Quao nước, Cóc kèn, Giá, Ngọc nữ biển, Lức…
- Trước chiến tranh RNM Cần Giờ là nơi cung cấp gỗ để hầm than, xây dựng cho Sài Gòn lúc bấy giờ, sau chiến tranh rừng ngập mặn cũng là nơi cung cấp gỗ củi cho nhân dân địa phương, đặc biệt trong giai đoạn 1986 - 1999 có tỉa thưa rừng đã cung cấp một số lượng gỗ, củi đáng kể đồng thời giải quyết việc làm cho nhân dân địa phương và các tỉnh lân cận
- Từ lâu nay người ta đã nêu lên vai trò của RNM Cần Giờ như là “lá phổi xanh” của thành phố do làm sạch không khí, cung cấp oxy không những cho Cần Giờ mà còn cho cả thành phố và các tỉnh lân cận
- RNM Cần Giờ là “quả thận hay một nhà máy xử lí nước thải”, nó nằm ở hạ lưu sông Sài Gòn và Đồng Nai, nguồn nước trước khi thải ra biển đều đi ngang qua nó và được lọc trước khi đổ ra biển cũng như hạn chế sự lan truyền khi có sự
cố tràn dầu
- Ngoài các chức năng trên, rừng ngập mặn Cần Giờ hay Khu Dự trữ sinh quyển còn có vai trò như “một ngân hàng Carbon”, hấp thụ CO2 làm giảm hiệu ứng nhà kính của trái đất
Trang 23- Do vị trí gần thành phố với số lượng học sinh, sinh viên khá đông, rừng ngập mặn Cần Giờ là nơi cho các em tham quan, học tập, nghiên cứu và thí nghiệm, thực hành nhiều lãnh vực như môi trường, sinh thái, thực vật, động vật, địa chất, thổ nhưỡng… Trong những năm qua rừng ngập mặn Cần Giờ là nơi nghiên cứu cho nhiều nghiên cứu sinh, thạc sĩ và sinh viên làm luận văn tốt nghiệp đại học trong nước Ngoài ra RNM Cần Giờ cũng là nơi cho các sinh viên nước ngoài đến nghiên cứu và học tập hệ sinh thái rừng ngập mặn và trao đổi kiến thức khoa học chuyên môn về lãnh vực RNM
- Người ta không phủ nhận vai trò quan trọng của RNM như là “nhà bếp” cung cấp thức ăn không những cho con người mà cho các loài động vật sống trong rừng ngập mặn, thể hiện qua chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, qua việc cung cấp tôm, cá, mật ong các loài rau như Sơn cúc hai hoa, Lìm kìm, đọt non của Ráng, đọt Chà là Trong chiến tranh, bộ đội ta đã lấy trái Mấm để ăn thay cơm Hàng năm, từ khu RNM Cần Giờ đã cung cấp nhiều nguồn thực phẩm thủy sản như Nghêu, Sò huyết, tôm, cá các loại
- RNM Cần Giờ được coi là công viên lớn của Thành phố, nơi đây đã góp phần cải thiện sức khoẻ cho con người, nơi vui chơi, giải trí sau nhưng ngày làm việc và học hành căng thẳng, đặc biệt rừng ngập mặn Cần Giờ mang tính xã hội cao, không phân biệt người giàu, kẻ nghèo mọi người đều tự do và bình đẳng đến công viên
Trang 24Chương 3
NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐẶC ĐIỂM
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Nội dung
- Thu mẫu, nghiên cứu hình thái lá của 6 loài cây: Vẹt dù (Bruguiera
gymnorrhiza (L.) LamK), Vẹt đen (Bruguiera sexangula (Lour.) Poir in Lamk.),
Vẹt tách (Bruguiera parviflora (Roxb.)), Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica (L.) Blume), Trang (Kandelia candel (L.) Druce.), Trang ổi (Kandelia obovata Sheue,
Liu và Yong)
- Tiến hành đo các chỉ tiêu của lá: Chiều dài L (cm), chiều rộng W (cm), diện tích S (cm2), tỉ lệ giữa chiều dài và chiều rộng W/L của 6 loài cây nghiên cứu
- So sánh hình thái lá giữa các loài trên cơ sở các chỉ tiêu vừa đo được
- Giải phẫu lá của 6 loài cây thuộc chi Đước
- Xây dựng bộ tiêu bản ảnh về giải phẫu lá của một số loài thuộc chi Đước
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu ở rừng ngập mặn Cần Giờ, sau đó xử lí bằng những phần mềm chuyên dụng
3.2.1 Thu thập tài liệu
Thu thập các tài liệu có liên quan quan đến rừng ngập mặn, Khu Dự trữ sinh quyển Cần Giờ và các tài liệu về các cây thuộc họ Đước: Sách, báo, tạp chí, các trang web, các bản đồ
Trang 25- Xác định các loài cây, số cây cần để thu mẫu lá trên thực địa
+ Chọn những cây sinh trưởng phát triển bình thường, không sâu bệnh để lấy mẫu
+ Dùng kéo để cắt mẫu lá
+ Thu mẫu để so sánh các chỉ tiêu: Ở mỗi loài thu 32 lá có kích thước khác nhau, những lá này được lấy ở các vị trí 1/3, 2/3 chiều dài tán cây và những tán cây này nằm ở vị trí 1/3, 2/3 trên thân cây Tổng số lá phải thu: 32 lá/loài x 6 loài = 192 lá
- Sau khi thu mẫu phải giữ cho các lá được thẳng bằng cách ép trong khung gỗ Khi thấy lá hơi héo thì cho vào máy để scan ngay Mỗi lá lưu lại dưới dạng ảnh số
* Làm tiêu bản giải phẫu cố định
Muốn giữ lâu dài tiêu bản giải phẫu thực vật thì phải cố định vi phẫu trong một môi trường đặc biệt Người ta thường dùng bôm Canada đã pha loãng trong xylen (C6H4(CH3)2) để làm môi trường cố định Các bước tiến hành như sau:
- Cắt mẫu
Mẫu thực vật được cắt bằng tay theo kiểu cắt ngang là kiểu phổ biến nhất, lát cắt nằm trong mặt phẳng vuông góc với trục của vật cắt Chúng tôi tiến hành cắt như sau: Cắt một khoanh khoai lang đặt làm thớt cắt, cầm vật cắt ở tay trái, kẹp giữa
2 ngón cái và ngón giữa, ngón trỏ được dùng như điểm tựa cho lưỡi dao Tay phải
Trang 26B2 Rửa sạch mẫu bằng nước thường để loại Javen
B3 Ngâm mẫu trong axic axetic trong 2 phút để loại hết vết nước Javen còn dính lại
B4 Rửa mẫu bằng nước thường để loại axic axetic
B5 Nhuộm đỏ mẫu trong dung dịch cacmin – phèn chua trong 30 phút
B6 Rửa sạch mẫu bằng nước thường rồi nhuộm xanh bằng dung dịch xanh metylen trong 1 phút
B7 Rửa sạch bằng nước thường sau đó quan sát trong một giọt glixerin Màng tế bào bằng xenluloza sẽ bắt màu đỏ, màng tế bào hóa gỗ, hóa suberin bắt màu xanh
+ Kết quả nhuộm màu sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính chất hoá lý của vật nhuộm, chất lượng của thuốc nhuộm, nồng độ và độ pH của dung dịch nhuộm, nhiệt độ và thời gian nhuộm, phương pháp tẩy và rửa sau khi nhuộm v.v…
- Loại nước: Vi phẫu cần phải loại hết nước trước khi đưa vào môi trường cố định Những vi phẫu được cắt từ lá thực vật thường mềm và mỏng, do đó để hạn chế hiện tượng bị co rúm trong khi loại nước phải loại nước từ từ trong những độ cồn cao dần: 150, 300, 450, 600, 750, 900, 990 Cách làm như sau:
+ Ở những nồng độ thấp: Cồn 150, cồn 300, cồn 450.Ngâm vi phẫu trong khoảng từ 5 đến 10 phút, ở mỗi nồng độ cồn sẽ rửa từ 2 – 3 lần
+ Những vi phẫu được rửa nhanh từ 2 – 3 lần, mỗi lần 1 – 2 phút trong cồn
Trang 27- Lên kính
+ Nhỏ lên phiến kính 1 giọt bôm Canada (đã được pha loãng trong xylen) + Đặt vi phẫu đã loại hết nước vào giữa giọt bôm Canada sao cho vi phẫu nằm chìm dưới bôm, rồi đậy lá kính lên
+ Để tiêu bản nằm ngang ở nơi thoáng gió, ít nhất trong một tuần, để cho xylen bay hơi, đến khi bôm khô cứng lại là được [8]
3.2.2.2 Phương pháp đo kích thước tế bào ở kính hiển vi
- Để đo kích thước của những vật nhỏ đang quan sát ở kính hiển vi thì người
ta so sánh kích thước của vật cần đo với một thước đo thị kính được lắp thêm vào kính hiển vi Từ giá trị của mỗi khoảng cách tên thước đo này (ở mỗi độ phóng to khác nhau, đã được tính trước nhờ một thước đo vật kính) sẽ suy ra kích thước của vật đo
Hình 3.1: Thước đo tế bào lá trên kính hiển vi
- Đặt thước đo vật kính lên mâm kính, điều chỉnh kính hiển vi để nhìn rõ các vạch chia tên đó Lắp thước đo thị kính vào kính hiển vi Nhìn vào thị kính và điều chỉnh cho 2 thước đó nằm song song và hơi chập vào nhau Tiếp tục điều chỉnh để cho 1 vạch ở thước đo thị kính trùng với 1 vạch trên thước đo vật kính Tìm một vạch thứ 2 nào đấy cũng trùng nhau như vậy Ví dụ ở kính hiển vi có độ phóng to
32 (thị kính 10x, vật kính 3,2x) thì 5 khoảng cách của thước đo thị kính (a) trùng hoàn toàn với 22 khoảng cách của thước đo vật kính (b) Người ta đã biết mỗi thước
Trang 28đo vật kính dài 10 µm Vậy chiều dài của một khoảng cách trên thước đo thị kính ở
độ phóng đại nói trên là:
3.2.3 Nội nghiệp
- Xử lý ảnh bằng phần mềm ACDSee Photo Manager 12
- Sử dụng phần mềm Excel 2003 và Statgraphic Plus 3.0 để xử lý các số liệu thu thập
- Sử dụng phần mềm ImageJ để tính diện tích lá S (cm2), chiều dài lá L (cm)
và chiều rộng lá W (cm) được đo ở vị trí trung bình chiều dài của lá
Hình 3.2: Hình biểu thị các chỉ tiêu của lá Vẹt trụ
Trang 29- Sử dụng ANOVA để so sánh chiều dài lá L (cm), chiều rộng lá W (cm), tỷ lệ
L/W của lá giữa các loài với nhau
3.3 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
+ Nam giáp biển Đông
+ Đông giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu
+ Tây giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
- Chiều dài của khu vực từ Bắc xuống Nam là 35 km, từ Đông sang Tây là
30 km
Trang 30Hình 3.3: Bản đồ địa lý huyện Cần Giờ [21]
Trang 31- Do lực tương tác sông - biển tạo thành địa hình theo hai xu hướng chính:
- Trên tuyến sông Soài Rạp, do dòng chảy của sông mạnh, sự bồi tích và lắng đọng chiếm ưu thế tại cửa sông Theo thời gian, hình dạng của rừng ngập mặn Cần Giờ có xu hướng chuyển dần về hướng Đông từ phía sông Soài Rạp, quá trình bồi lắng tạo ra các vùng đất cao ráo và dần nâng cao lòng sông về hướng Tây
- Trên tuyến sông Lòng Tàu – Gò Gia – Thị Vãi (đặc biệt là cửa sông Gò Gia), do lực tác động mạnh của biển mạnh hơn, ở đây ta thấy là hình dạng rừng ngập mặn dịch chuyển theo hướng Tây Bắc ở hệ thống sông này
3.3.3 Thổ nhưỡng
- Đất hình thành tại Cần Giờ được tổng hợp bởi quá trình lắng tụ trầm tích sét, quá trình phèn hóa, quá trình nhiễm mặn Có 4 loại đất cơ bản có thể tìm thấy tại đây:
+ Đất mặn
+ Đất mặn, phèn ít
+ Đất mặn phèn nhiều
+ Đất các mịn có pha ít bùn ven biển
- Đất Cần Giờ có phần giới hạn trong việc sử dụng của con người, tuy nhiên nguồn lợi tự nhiên của rừng ngập mặn rất đa dạng và phong phú [8]
3.3.4 Khí hậu
- Khí hậu rừng ngập mặn Cần Giờ nóng ẩm, với hai mùa mưa nắng rõ rệt, chịu chi phối của quy luật gió mùa cận xích đạo
- Lượng mưa: Tại Cần Giờ là khu vực có lượng mưa thấp nhất thuộc thành phố
Hồ Chí Minh, trung bình từ 1.300 mm – 1.400 mm hàng năm
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm là 25,80C, nhiệt độ có hơi giảm dần từ phía Bắc xuống Nam nhưng không đáng kể
- Bức xạ: Lượng bức xạ trung bình ngày là trên 300 calo/cm2/ngày, cao nhất là tháng 3 với 14,2 cm/Kcal/tháng, thấp nhất tháng 11 với 10,2 Kcal/cm2/tháng
- Gió: Chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là:
Trang 32+ Gió mùa Nam – Tây Nam, xuất hiện từ tháng 5 – 10, trùng với mùa mưa, sức gió mạnh nhất thường vào tháng 7- 8
+ Gió mùa Bắc - Đông Bắc, xuất hiện từ tháng 11 – 4, trùng với mùa khô, mạnh nhất vào tháng 2 và 3 [8]
3.3.5 Mạng lưới sông rạch
Diện tích sông rạch chiếm 31,76 % tổng diện tích tự nhiên của huyện Cần Giờ, mạng lưới sông ngòi chằng chịt, đan xen nhau Có sự hòa trộn đáng kể giữa nước mặn và nước ngọt tại hai cửa sông chính hình phểu là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái
Sông rạch phần lớn chảy theo hướng Đông Nam dạng uốn lượn, từ đó ảnh hưởng làm thay đổi địa hình khu vực và thay đổi thực vật cảnh Hai sông Lòng Tàu và Soài Rạp là hai sông chính chi phối toàn bộ chế độ thủy văn của hầu hết các kênh rạch khác
3.3.6 Chế độ thủy triều
Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ bán nhật triều không điều Biên độ triều khoảng 2 m khi triều trung bình, 4 m khi triều cường Biên độ triều cực đại từ 4,0 – 4,2 vào loại cao nhất Đỉnh triều cao nhất trong năm thường vào tháng 10 và 11, thấp nhất vào tháng 4 - 5
3.3.7 Độ mặn
Độ mặn chịu ảnh hưởng của sự kết hợp thủy triều giữa biển Đông – lưu lượng nước ở thượng nguồn sông Sài Gòn và sông Đồng Nai: vào khoảng tháng 4, nước biển chiếm ưu thế hơn trong mối tương tác sông – biển, nước mặn xâm nhập sâu hơn vào trong đất liền, do đó độ mặn của rừng cao Vào tháng 9 đến tháng 10, khi các sông giữ vai trò ưu thế, lúc đó nước ngọt từ sông đẩy ra làm giảm độ mặn của nước trong khu vực Ngoài ra độ mặn cao hay thấp còn phụ thuộc vào lượng mưa của từng vùng
3.4 Đối tượng nghiên cứu
RNM Cần Giờ với nhiều loại thực vật phong phú, đa dạng, trong đó họ Đước chiếm diện tích rất lớn, một số cây như: Vẹt trụ, Vẹt tách, Vẹt đen, Vẹt dù, Trang,
Trang 33Trang ổi dùng làm nhà, đóng đồ mộc, có thể làm đồ mỹ nghệ, xẻ ván Ở vùng Cà Mau, Đước được sản xuất làm than có nhiệt lượng rất cao, rất được ưa thích, là sản phẩm than cao cấp có giá trị kinh tế hơn các loại than hầm bằng gỗ khác Trồng cây rừng phòng hộ cố định đất, lấn biển, chắn sóng vùng ngập mặn, nhựa dùng trong công nghệ chế biến vecni, sơn, mực in
3.4.1 Đặc tính các loài cây nghiên cứu
3.4.1.1 Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica (L.) Blume)
- Cây gỗ trung bình, gốc có bạnh thấp Vỏ thân màu xám nhạt có bì khổng Lá hình bầu dục dài 7 – 12 cm, rộng 3 – 6 cm Cuống lá dài 1 – 3 cm, lá kèm dài 2 – 5
cm dạng chồi búp Cánh đài ở quả dựng đứng lên về phía cuống Trụ mầm dài 8 –
15 cm, khi già màu nâu có khía Cây mọc rãi rác trong các rừng ngập mặn, thủy triều thường ngập Mùa hoa tháng 5 – 6, quả chín tháng 10 – 11
- Về giá trị sử dụng: Gỗ màu đỏ, thớ mịn dùng trong xây dựng
Hình 3.4: Cây Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica (L.) Blume)
3.4.1.2 Vẹt tách (Bruguiera parviflora (Roxb.))
Trang 34- Cây gỗ trung bình, vỏ thân màu nâu xám có sọc, gốc có bạnh vè, rễ thở hình đầu gối Phiến lá hình trái xoan, đầu nhọn, gốc hình nêm, cỡ 10 – 12 cm x 3 – 5 cm, với 7 – 10 cặp gân bên chìm, cuống lá dẹp dài 2 cm, lá kèm dài từ 5 – 7 cm Hoa mọc cụm 2 – 5 hoa ở nách lá, đài màu vàng, phía dưới hợp thành ống có nhiều khía, trên xẻ 8 – 10 thùy ngắn tồn tại ở quả và quay xuống dưới như Vẹt đen Cánh hoa cũng màu vàng, phân thành 2 thùy, đầu thùy cũng 3 lông Quả thịt, hình trụ dài 1,5 – 2 cm, rễ mầm dài 10 – 12 cm, rộng 0,4 – 0,5 cm
- Về đặc tính sinh học: Mùa hoa tháng 5 – 6, mùa quả tháng 10 – 11
3.4.1.3 Vẹt đen (Bruguiera sexangula (Lour.) Poir in Lamk.)
- Cây nhỏ hoặc nhỡ Vỏ màu nâu nhạt Rễ chống cao 1 – 2 m Lá đơn mọc đối hình ngọn giáo, đầu và đuôi nhọn dần, dài 8 – 12 cm, rộng 2,5 – 3 cm, gân bên 7 –
11 đôi, cuống dài 1 – 3 cm mép lá nguyên không cuộn Lá kèm màu lục nhạt, sớm rụng Hoa mọc lẻ ở nách lá, thường thõng xuống Đài màu nâu vàng nhạt, hình chuông, có 9 – 12 thùy hình dải, thùy dài hơn ống và sống dai trên quả Tràng xẻ đến giữa, đỉnh mỗi thùy thường có 3 lông cứng, nách thùy có lông dài Nhị 10 – 12, bao phấn hình giải Bầu 2 – 4 ô Quả có ống đài bao bọc Thân mầm hình trụ dài 6 –
8 cm có 6 cạnh
- Về đặc tính sinh học và sinh thái học: Cây mọc chậm, khả năng tái sinh chồi kém, là loài ưa sáng và mọc trên bãi bồi có Bần, Mắm và Đước mọc cố định
- Về phân bố: Phân bố nhiều ở ven biển các tỉnh miền Trung và Nam bộ
Hình 3.6: Vẹt đen (Bruguiera sexangula (Lour.) Poir in Lamk.)
Trang 353.4.1.4 Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) LamK)
Hình 3.7: Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) LamK)
- Cây gỗ nhỡ và nhỏ có thể cao tới 30 m Vỏ nâu đen, nứt dọc Quanh gốc nhiều rễ chống hình nơm có khi cao trên 2 m Lá đơn mọc đối hình trái xoan, ngọn giáo, đầu và đuôi nhọn dần, mặt trên nhẵn, gân giữa màu đỏ nhạt, gân bên 9 – 10 đôi nổi rõ ở mặt dưới Cuống lá thô, dài 2 – 3 cm Lá kèm nhỏ, hình dải, sớm rụng Hoa mọc lẻ ở nách lá, thường thõng xuống Đài màu đỏ hình chuông, có 10 – 14 thùy sống dai hơn quả Tràng hoa mỏng, màu trắng 4 – 5 cánh, cánh tràng xẻ sâu thành 2 thùy, nách thùy có một lông dài, đỉnh mỗi thùy có 3 – 4 lông cứng Nhị gấp đôi số cánh hoa, bao phấn hình giải, mở lỗ Bầu 3 ô Quả có ống đài bao bọc Thân mầm hình trụ, dài 15 – 25 cm
- Về đặc tính sinh học và sinh thái học: Cây mọc chậm, ra hoa tháng 5 – 11, cây non rụng lá tháng 12 – 1, ưa sáng, mọc trên bãi bồi có Bần, Mắm và Đước cố định, khả năng tái sinh chồi kém
- Về giá trị sử dụng: Gỗ nâu đỏ, nặng, xoắn, ít bị biến dạng, có thể dùng trong xây dựng, đốt than hầm, làm củi, vỏ chứa nhiều tanin dùng để thuộc da làm lưới, quả và thân mầm còn có thể dùng để chăn nuôi
- Về khẳ năng kinh doanh, bảo tồn: Cây tái sinh hạt tốt, dễ trồng, có giá trị nhiều mặt, là loài cây trồng rừng chủ yếu ở các tỉnh có rừng ngập mặn
- Về phân bố địa lý: Phân bố trong rừng ngập từ Bắc vào Nam
Trang 363.4.1.5 Trang (Kandelia candel (L.) Druce.)
- Cây gỗ nhỏ, gốc thường có bạnh vè nhỏ và rễ chống Cành nhiều sẹo tròn 1
bó mạch nổi rõ ở sẹo Lá đơn mọc đối, hình trái xoan, đầu tròn hơi lõm ở đỉnh, đuôi nêm, dài 5 – 12 cm, rộng 2,5 – 6 cm, gân bên nỗi rõ ở mặt dưới và nối gần nhau ở gần mép lá Cuống lá dài 0,5 – 1cm Lá kèm sớm rụng Hoa tự xim 2 ngả ở nách lá, mỗi cụm thường 3 – 5 hoa Cuống hoa tự dài 2 – 4 cm, mỗi hoa có hai lá bắc mọc đối Đài hợp thành ống, phía trên xẻ 5 – 6 thùy hình giải Cánh tràng 5 – 6, xẻ 2 thùy sâu, mỗi thùy xẻ 3 – 4 sợi dài Nhị 20 – 25, bao phấn 2 ô Bầu dưới, 1 ô, vòi nhụy dài, đầu nhụy xẻ 3 Quả mọng hình trứng, dài 2 cm Đài sống dai trên quả quặp về phía cuống Thân mầm dài 25 – 40 cm
- Về đặc tính sinh học và sinh thái học: Cây ưa sáng, mùa hoa tháng 5 – 6 Mùa quả tháng 10 – 11 Mọc được trên đất bùn lầy nước lợ ven biển, hàng ngày có thủy triều lên xuống Thường sống chung với Đước, Bần và Sú
- Về giá trị sử dụng: Gỗ nhỏ thường được dùng làm củi, vỏ chứa nhiều tanin dùng để nhuộm, lá chứa nhiều Iode dùng làm thuốc, cùng với Đước, Bần chắn sóng, giữ đất
Hình 3.8 Trang (Kandelia candel (L.) Druce.)
Trang 373.4.1.6 Trang ổi (Kandelia obovata Sheue, Liu và Yong)
Hình 3.9 Trang ổi (Kandelia obovata Sheue, Liu và Yong)
- Trang ổi là loài mới được các nhà khoa học phát hiện năm 2002, phân bố ở các vùng khí hậu lạnh Ở Cần Giờ có khoảng 20 cá thể được trồng ở Lâm viên lấy nguồn giống ở Quảng Ninh
- Cây gỗ nhỏ, lá hình elip hay hình trái xoan dài, rễ gốc bạnh vè, không có rễ khí sinh, quả trụ mầm dài
3.4.2 Cấu trúc và chức năng của lá cây
- Lá có những đặc điểm đặc biệt về hình thái và giải phẫu thích hợp với chức năng quang hợp
+ Lá thường có dạng bản, mang đặc tính hướng quang ngang, có khả năng vận động sao cho mặt lá vuông góc với tia sáng mặt trời để nhận được nhiều nhất năng lượng ánh sang
+ Về giải phẫu: Dưới lớp biểu bì trên của lá là lớp tế bào mô dậu dày chứa nhiều lục lạp Các tế bào mô dậu được xếp khít với nhau theo từng lớp, nhằm hấp thu được nhiều năng lượng ánh sang Đây là lớp mô đồng hóa của lá Sát với lớp mô đồng hóa là lớp mô khuyết, có các khoảng trống gian bào lớn – nơi chứa CO2 cung cấp cho quá trình quang hợp Trong lá còn có mạng lưới mạch dẫn chằng chịt làm nhiệm vụ dẫn nước và muối khoáng cho hoạt động quang hợp Cuối cùng là hệ thống khí khổng dày đặc ở mặt trên và mặt dưới lá, giúp cho CO2, O2, H2O đi vào
và đi ra khỏi lá dễ dàng
Trang 38- Lá là một bộ phận của cơ quan dinh dưỡng của cây, thực hiện chức năng dinh dưỡng rất quan trọng như: quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước
- Là cơ quan tạo ra chất hữu cơ cho cây nhờ các diệp lục tố
- Là cơ quan hoạt động mạnh mẽ nhất để thể hiện sự thích nghi với điều kiện môi trường giúp cây thích nghi tốt hơn
- Nhờ hệ thống lá mà các sinh vật cư trú dưới tán cây rừng có bóng mát cư trú, còn là nơi làm tổ của nhiều loài chim
- Cây quang hợp bằng cách nhận CO2 ngoài môi trường và thải ra O2,nhờ đó cây được xem như lá phổi xanh giúp cải thiện môi trường đang dần bị ô nhiễm trầm trọng như hiện nay
- Đặc biệt với những cây rừng ngập mặn thì lá cây có vai trò vô cùng quan trọng, là cơ quan tích tụ muối thừa để thải ra ngoài, giúp cây thích nghi tốt với điều kiện khắc nghiệt của rừng ngập mặn, cũng là đặc điểm đặc trưng của cây rừng ngập mặn
Trang 39Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hình thái lá của 6 loài cây nghiên cứu
Lá Vẹt trụ Lá Vẹt tách Lá Vẹt đen
Lá Vẹt dù Lá Trang Lá Trang ổi
Hình 4.1: Hình thái lá của 6 loài cây
Lá của 6 loài cây nghiên cứu đều là loài lá đơn, nhưng ở mỗi loài có những điểm đặc trưng riêng:
- Lá Vẹt trụ: Phiến lá có dạng thuôn, hình đỉnh lá nhọn
- Lá Vẹt tách: Phiến lá có dạng thuôn, đỉnh lá có hình chữ V hơi lài ở đáy
- Lá Vẹt đen: Phiến lá có dạng thuôn, hình đỉnh lá nhọn nhất trong 6 loài và có gai nhọn
- Lá Vẹt dù: Phiến lá có dạng thuôn, hình đỉnh lá nhọn
Trang 404.2 Đặc trưng thống kê các chỉ tiêu lá của các loài cây
Đã tiến hành đo chiều dài lá (L), chiều rộng lá (W), diện tích lá (S) của 6 loài cây nghiên cứu Trước hết tính toán các đặc trưng thống kê của các chỉ tiêu của lá
4.2.1 Thống kê mô tả chiều dài (L) của lá ở các loài cây
Bảng 4.1: Thống kê mô tả chiều dài (L) của lá ở các loài cây
- Qua bảng 4.1 cho thấy:
+ Loài Vẹt trụ (Bruguiera cylindrica (L.) Blume) có chiều dài lá lớn nhất là
11,38 cm, chiều dài lá nhỏ nhất là 6,06 cm, chiều dài trung bình dao động trong khoảng từ 8,4 cm - 9,54 cm , hệ số biến động là 18 %
+ Loài Vẹt tách (Bruguiera parviflora (Roxb.)) có chiều dài lá lớn nhất là
12,54 cm, chiều dài lá nhỏ nhất là 6,35 cm, chiều dài trung bình dao động trong khoảng từ 9,14 cm – 10,1 cm, hệ số biến động là 14 %
+ Loài Vẹt đen (Bruguiera sexangula (Lour.) Poir.) có chiều dài lá lớn nhất
là 13,38 cm, chiều dài lá nhỏ nhất là 6,88 cm, chiều dài trung bình dao động trong khoảng từ 9,63 cm – 10,97 cm, hệ số biến động là 18 %
+ Loài Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza (L.) Lam.) có chiều dài lá lớn nhất
là 16,33 cm, chiều dài lá nhỏ nhất là 9,86 cm, chiều dài lá trung bình dao động trong khoảng từ 12,46 cm – 13,64 cm, hệ số biến động là 12 %